Sắp đến Quốc khánh 2/9, mùa Thu năm 1945 lại nhắc mỗi người Việt Nam về giá trị của độc lập, thống nhất, chủ quyền và bình yên được đánh đổi bằng sự hy sinh, cống hiến của nhiều thế hệ. Giữ gìn thành quả ấy không chỉ là bảo vệ những gì đã có, mà còn là trao truyền các giá trị làm nên sức mạnh tinh thần dân tộc. Từ đó đặt ra một vấn đề cần được nhìn nhận thấu đáo: quản trị các biểu tượng lịch sử trong đời sống xã hội và trách nhiệm của công tác tư tưởng đối với những biểu tượng ấy.

Giữ gìn thành quả cách mạng từ những giá trị được trao truyền
Mùa Thu năm 1945 là một bước ngoặt có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận của một dân tộc mất độc lập trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình; Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mở đầu một thời đại mới của độc lập dân tộc gắn với quyền làm chủ của nhân dân. Thành quả lịch sử ấy không dừng lại ở thời khắc giành được chính quyền, mà tiếp tục được bảo vệ bằng biết bao hy sinh trong các cuộc kháng chiến, bằng sức lao động và sáng tạo của nhiều thế hệ trong công cuộc kiến thiết, xây dựng đất nước, cũng như bằng ý chí bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cho đến hôm nay. Bởi vậy, giữ gìn thành quả cách mạng là một trách nhiệm lâu dài, không chỉ đối với những thành tựu hữu hình mà còn đối với những giá trị tinh thần đã được lịch sử hun đúc và trao truyền qua các thế hệ.
Thành quả của cách mạng vì thế không chỉ được nhận diện qua những con đường, cây cầu, trường học, nhà máy hay những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội. Đằng sau những thành quả có thể nhìn thấy và đo đếm ấy còn là một hệ giá trị được hình thành, bồi đắp trong suốt chiều dài đấu tranh dựng nước và giữ nước: lòng yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, tinh thần đại đoàn kết, niềm tự hào về lịch sử, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường và niềm tin vào khả năng làm chủ vận mệnh của dân tộc. Đó vừa là kết tinh của lịch sử, vừa là nguồn lực tinh thần giúp dân tộc vượt qua những thời khắc thử thách. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường và niềm tự hào dân tộc. Trong ý nghĩa đó, bảo vệ thành quả cách mạng cũng chính là gìn giữ, bồi đắp và làm cho những giá trị đã tạo nên sức mạnh của dân tộc tiếp tục có sức sống trong hiện tại.
Nhưng các giá trị lịch sử không tự nhiên được lưu giữ nguyên vẹn qua thời gian. Mỗi thế hệ sinh ra trong một hoàn cảnh khác nhau, có trải nghiệm xã hội khác nhau và tiếp nhận quá khứ bằng những phương thức khác nhau. Vì thế, ký ức lịch sử phải được giáo dục, thực hành và trao truyền liên tục. Một đứa trẻ hôm nay biết về lịch sử dân tộc không chỉ qua những trang sách giáo khoa hay một giờ học trên lớp. Lịch sử còn đến với các em qua tên con đường hằng ngày đi qua, tên ngôi trường đang học, một quảng trường, bảo tàng, di tích, nghĩa trang, tượng đài, ngày lễ, lễ hội, những địa danh lịch sử và những câu chuyện được gia đình, nhà trường, cộng đồng kể lại. Bằng cách đó, lịch sử bước ra khỏi sách vở để hiện diện trong đời sống thường nhật. Không gian sống cũng trở thành một không gian giáo dục lịch sử; còn những biểu tượng được duy trì lâu dài trong không gian ấy, dù hữu hình hay phi vật thể, đều ít nhiều tham gia vào quá trình kiến tạo ký ức cộng đồng và hình thành nhận thức xã hội về quá khứ.
Chính từ vai trò ấy, việc lựa chọn, công nhận, bảo tồn, diễn giải và sử dụng các biểu tượng lịch sử không thể chỉ được xem là câu chuyện của văn hóa, mỹ thuật, kiến trúc hay quản lý không gian công cộng. Ở một tầng nghĩa sâu hơn, quản trị biểu tượng lịch sử cũng là một nội dung của công tác tư tưởng, bởi mỗi biểu tượng đều chuyển tải một cách hiểu nhất định về lịch sử và những giá trị mà xã hội lựa chọn để ghi nhớ, tôn vinh, trao truyền. Quản trị ở đây không có nghĩa là áp đặt một cách máy móc cách nghĩ của xã hội, càng không phải sự can thiệp thô bạo vào những giá trị văn hóa đã được cộng đồng hình thành và gìn giữ. Điều cần thiết là bảo đảm những biểu tượng được Nhà nước lựa chọn, công nhận hoặc đưa vào không gian công cộng phải có cơ sở lịch sử, văn hóa và pháp lý rõ ràng; được đặt trong đúng bối cảnh hình thành của chúng; đồng thời chuyển tải thông điệp phù hợp với những giá trị mà xã hội hôm nay cần gìn giữ và trao lại cho các thế hệ mai sau.
Công tác tư tưởng, vì vậy, không nên chỉ dừng ở việc khẳng định một biểu tượng là đúng hay không đúng, nên hay không nên tồn tại. Quan trọng hơn là giúp xã hội hiểu được nguồn gốc, hoàn cảnh ra đời, quá trình biến đổi và các lớp ý nghĩa lịch sử của biểu tượng; từ đó có khả năng nhận diện, phân biệt giữa giá trị lịch sử, giá trị văn hóa, giá trị tín ngưỡng, giá trị nghệ thuật với những ý nghĩa chính trị – xã hội được hình thành trong từng thời kỳ. Khi lịch sử được giải thích đầy đủ trong chính bối cảnh của nó, việc gìn giữ hay ứng xử với một biểu tượng mới có thể dựa trên nhận thức lịch sử thay vì cảm tính, thói quen hoặc những cách diễn giải giản đơn. Đó cũng là cách để những giá trị được hun đúc từ lịch sử không chỉ được lưu giữ như ký ức của quá khứ, mà tiếp tục trở thành một phần sức mạnh tinh thần của dân tộc trong hiện tại và tương lai.
Biểu tượng lịch sử và sức mạnh định hình nhận thức xã hội
Một cái tên trên biển đường thoạt nhìn chỉ làm nhiệm vụ định danh, xác định một địa chỉ trong không gian đô thị, nhưng khi tên gọi ấy gắn với một nhân vật hoặc sự kiện lịch sử, nó đồng thời chuyển tải một thông điệp về quá khứ. Một ngôi trường mang tên một nhân vật lịch sử không chỉ có một tên gọi để phân biệt với những ngôi trường khác. Qua năm tháng, chính tên gọi ấy có thể khơi lên những câu hỏi: Người đó là ai? Sống trong thời kỳ lịch sử nào? Có vai trò, đóng góp gì đối với đất nước, dân tộc hay địa phương? Vì sao tên tuổi ấy được lựa chọn để đặt cho một thiết chế giáo dục? Một quảng trường, công viên, tượng đài, công trình tưởng niệm hay địa danh cũng mang ý nghĩa tương tự. Khi một tên tuổi, sự kiện hoặc hình tượng lịch sử được đưa vào không gian công cộng và hiện diện bền vững trong đời sống, nó không còn chỉ thuộc về quá khứ mà trở thành một phần của ký ức xã hội trong hiện tại.
Sức mạnh của biểu tượng lịch sử nằm chính ở sự hiện diện thường xuyên ấy. Không phải lúc nào người dân cũng chủ động tìm hiểu lịch sử, nhưng họ tiếp xúc với tên người, tên sự kiện và những dấu tích của quá khứ mỗi ngày qua đường phố, trường học, công viên, quảng trường, di tích và các thiết chế công cộng. Sự lặp lại theo thời gian tạo nên một dạng ghi nhớ xã hội. Một tên gọi được sử dụng qua nhiều thế hệ có thể dần trở nên quen thuộc, và cùng với sự quen thuộc ấy là sự hình thành những cách hiểu, những liên tưởng, thậm chí những đánh giá nhất định về nhân vật hoặc sự kiện mà tên gọi đại diện. Bởi vậy, biểu tượng lịch sử không chỉ phản ánh ký ức về quá khứ; trong những mức độ khác nhau, nó còn tham gia định hình cách xã hội nhận thức và ghi nhớ quá khứ.
Nhận thức được ý nghĩa đó, pháp luật về đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng đã đặt ra những nguyên tắc, tiêu chí và quy trình nhất định. Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng, cùng Thông tư số 36/2006/TT-BVHTT ngày 20/3/2006 hướng dẫn thực hiện Quy chế, là những căn cứ pháp lý quan trọng trong lĩnh vực này. Theo tinh thần của các quy định đó, việc lựa chọn tên gọi không đơn thuần là một thao tác hành chính mà phải xem xét các yếu tố lịch sử, văn hóa, khoa học, truyền thống và đặc điểm của địa phương; đồng thời phải được đề xuất, nghiên cứu, thẩm định và quyết định theo thẩm quyền. Những yêu cầu ấy cho thấy việc đưa một tên tuổi hoặc sự kiện lịch sử vào không gian công cộng luôn cần được đặt trong mối quan hệ giữa tính chính xác của lịch sử, giá trị văn hóa và ý nghĩa xã hội của sự tôn vinh.
Thực tế cho thấy ký ức lịch sử trong đời sống xã hội vốn phong phú và có nhiều tầng lớp. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tên Lê Văn Duyệt hiện diện trên một tuyến đường của thành phố; tên Trương Vĩnh Ký cũng xuất hiện trong hệ thống địa danh ở một số địa phương. Mỗi nhân vật lịch sử đều tồn tại trong một hoàn cảnh cụ thể, với những dấu ấn, vai trò và cách đánh giá cần được đặt trong chính bối cảnh của thời đại mà họ đã sống. Nêu những trường hợp như vậy không nhằm đi đến những phán xét giản đơn theo hai chiều tôn vinh hoặc phủ định, càng không thể thay thế việc nghiên cứu, đánh giá nhân vật bằng những kết luận tách khỏi hoàn cảnh lịch sử. Điều đáng lưu ý ở đây là một thực tế khác: khi tên một nhân vật được đặt cho đường phố, trường học, quảng trường hoặc công trình công cộng, tên tuổi ấy đã vượt ra ngoài phạm vi của các công trình nghiên cứu để bước vào không gian ký ức chung của xã hội.
Chính sự chuyển dịch từ lịch sử được nghiên cứu sang lịch sử được biểu đạt trong không gian công cộng làm nảy sinh trách nhiệm lớn hơn đối với việc lựa chọn và diễn giải biểu tượng. Một nhân vật trong sách sử có thể được nghiên cứu từ nhiều nguồn tư liệu, được xem xét ở nhiều chiều cạnh và tiếp tục được tranh luận khi xuất hiện những tư liệu mới. Nhưng khi tên nhân vật trở thành tên đường, tên trường hoặc tên một công trình công cộng, sự hiện diện ấy còn hàm chứa một mức độ ghi nhận xã hội nhất định. Vì thế, cùng với quyết định lựa chọn biểu tượng cần có sự giải thích đầy đủ về nhân vật, sự kiện và bối cảnh lịch sử, để công chúng hiểu được vì sao biểu tượng đó hiện diện và những giá trị nào từ lịch sử đang được lựa chọn để trao truyền.
Từ đây cũng cần phân biệt rõ giữa bảo tồn và tôn vinh. Lịch sử để lại nhiều di tích, lễ hội, tập quán, tín ngưỡng và thực hành văn hóa được hình thành qua những thời kỳ khác nhau. Trong một di sản có thể đồng thời tồn tại nhiều lớp ký ức, nhiều dấu tích lịch sử và nhiều quan niệm được cộng đồng bồi đắp qua thời gian. Những giá trị ấy cần được nhận diện, bảo vệ và phát huy theo pháp luật về di sản văn hóa. Luật Di sản văn hóa năm 2024 tiếp tục tạo lập cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong đời sống đương đại. Bảo tồn ở đây trước hết là gìn giữ những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học của di sản, cũng như tôn trọng những thực hành văn hóa chính đáng đã trở thành một phần đời sống của cộng đồng.
Tuy nhiên, bảo tồn một di sản không mặc nhiên đồng nghĩa với việc Nhà nước tôn vinh tất cả nhân vật, quan niệm hoặc lớp ý nghĩa lịch sử từng xuất hiện và được lưu giữ trong không gian di sản ấy. Một nhân vật có thể là đối tượng cần được nghiên cứu; một dấu tích có thể cần được bảo tồn để phản ánh trung thực một giai đoạn lịch sử; một tín ngưỡng hay tập quán có thể cần được tôn trọng với tư cách là thực hành văn hóa của cộng đồng. Nhưng tôn vinh trong không gian công cộng lại đặt ra một tầng yêu cầu khác, bởi sự tôn vinh luôn gắn với việc lựa chọn những giá trị được xã hội và Nhà nước đề cao, ghi nhận và trao truyền.
Phân định được ranh giới giữa bảo tồn, ghi nhớ và tôn vinh vì vậy có ý nghĩa đặc biệt đối với quản trị văn hóa cũng như công tác tư tưởng. Sự phân định ấy không nhằm làm nghèo đi ký ức lịch sử hay loại bỏ những phần phức tạp của quá khứ. Ngược lại, một xã hội có ý thức lịch sử cần đủ khả năng bảo tồn những gì lịch sử để lại, kể cả những dấu tích của những thời kỳ nhiều biến động, đồng thời xác định rõ đâu là đối tượng cần nghiên cứu, đâu là giá trị cần bảo tồn và đâu là giá trị được lựa chọn để tôn vinh, trao truyền.
Làm được như vậy vừa bảo đảm sự tôn trọng đối với đời sống văn hóa, tín ngưỡng và ký ức của cộng đồng, vừa tạo ra sự minh định cần thiết trong thông điệp mà các biểu tượng công cộng chuyển tải. Bởi xét đến cùng, cách một xã hội ứng xử với các biểu tượng của quá khứ cũng phản ánh cách xã hội ấy hiểu lịch sử của mình, lựa chọn những giá trị nào từ lịch sử và muốn trao lại điều gì cho các thế hệ mai sau.
Khi khoảng cách nhận thức tạo nên nguy cơ khủng hoảng biểu tượng
Một biểu tượng có thể được lựa chọn, kiến tạo và đưa vào đời sống với một ý nghĩa nhất định, nhưng ý nghĩa mà chủ thể muốn chuyển tải không phải lúc nào cũng hoàn toàn trùng khớp với cách xã hội tiếp nhận. Đây là một hiện tượng bình thường của đời sống văn hóa và của quá trình hình thành ký ức xã hội. Cùng một tên đường, có người nhìn thấy ở đó niềm tự hào về một nhân vật được ghi nhận trong lịch sử, nhưng người khác có thể đặt câu hỏi về hành trạng, bối cảnh thời đại và những đánh giá khác nhau đối với nhân vật đứng sau tên gọi ấy. Một lễ hội có thể được cộng đồng sở tại tiếp nhận trước hết như một sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng đã được duy trì qua nhiều thế hệ, trong khi ở một góc nhìn khác, công chúng lại quan tâm nhiều hơn đến nhân vật được thờ phụng, tưởng niệm và vị trí của nhân vật đó trong lịch sử. Sự khác biệt trong cách tiếp nhận không nhất thiết làm mất đi giá trị của biểu tượng, nhưng khoảng cách giữa thông điệp muốn chuyển tải và ý nghĩa mà xã hội thực tế tiếp nhận là điều cơ quan quản lý cần nhận diện và dự liệu.
Trong phạm vi bài viết này, có thể dùng khái niệm “khủng hoảng biểu tượng” để nhận diện một trạng thái đáng lưu ý: khi xuất hiện khoảng cách đáng kể giữa ý nghĩa mà chủ thể kiến tạo biểu tượng muốn gửi gắm với cách một bộ phận xã hội hiểu, đánh giá và giải mã biểu tượng đó. Cần nhấn mạnh rằng không phải cứ xuất hiện ý kiến khác nhau là đã có khủng hoảng biểu tượng. Tranh luận về lịch sử, nếu dựa trên tư liệu và phương pháp khoa học, là một phần cần thiết của quá trình nhận thức quá khứ. Cũng không thể lấy một vài ý kiến, nhất là những phản ứng nhất thời trên mạng xã hội, để suy rộng thành nhận thức hoặc thái độ của toàn xã hội. Vấn đề chỉ thực sự đáng quan tâm khi khoảng cách nhận thức trở nên đáng kể, kéo dài, tác động đến cách công chúng hiểu về biểu tượng, trong khi những vấn đề đặt ra không được giải thích kịp thời bằng thông tin đầy đủ, chính xác và có căn cứ lịch sử.
Khi đó, biểu tượng vốn được tạo lập để chuyển tải một giá trị tích cực có thể không còn phát huy đầy đủ chức năng ban đầu. Thay vì củng cố ký ức chung, nó có thể trở thành tâm điểm của những cách hiểu đối lập; thay vì góp phần tạo nên sự đồng thuận, nó có thể làm nảy sinh những câu hỏi mà nếu không được giải đáp thỏa đáng sẽ tiếp tục tích tụ trong nhận thức xã hội. Điều đáng lưu ý không nằm ở bản thân sự xuất hiện của câu hỏi hay tranh luận, mà ở khả năng cơ quan có trách nhiệm nhận diện, giải thích và xử lý những vấn đề ấy trên cơ sở khoa học. Theo nghĩa đó, nhận diện sớm khoảng cách giữa ý nghĩa được gửi gắm và ý nghĩa được tiếp nhận là một yêu cầu quan trọng của quản trị biểu tượng lịch sử và công tác tư tưởng.
Công văn số 2274-CV/BTGTW ngày 05/01/2022 của Ban Tuyên giáo Trung ương là một căn cứ tư liệu đáng chú ý khi xem xét vấn đề này. Văn bản lưu ý việc đặt tên đường, phố và công trình công cộng phải thực hiện đúng các quy định hiện hành; đồng thời, đối với những nhân vật lịch sử còn có ý kiến đánh giá khác nhau hoặc chưa rõ ràng về mặt lịch sử thì xem xét chưa đặt tên cho đường, phố và công trình công cộng. Đáng chú ý, văn bản cũng đặt ra yêu cầu hạn chế, tránh phát sinh những dư luận trái chiều, không thuận trong xã hội.
Tinh thần đó gợi mở một nguyên tắc quan trọng trong quản trị biểu tượng: giá trị lịch sử của nhân vật và tác động xã hội của việc tôn vinh nhân vật là hai phương diện có liên hệ chặt chẽ nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Một nhân vật có thể là đối tượng cần tiếp tục nghiên cứu, thảo luận và đánh giá trong khoa học lịch sử; nhưng việc lựa chọn nhân vật ấy để đặt tên cho một con đường, trường học hay công trình công cộng lại là một quyết định thuộc một tầng ý nghĩa khác. Bởi từ thời điểm đó, nhân vật không chỉ tồn tại trong không gian nghiên cứu mà còn bước vào không gian công cộng, hiện diện thường xuyên trước xã hội và tham gia vào quá trình kiến tạo ký ức cộng đồng. Vì vậy, bên cạnh việc xác định căn cứ lịch sử, cơ quan có trách nhiệm còn phải dự liệu cách biểu tượng có thể được tiếp nhận, những vấn đề có thể phát sinh và khả năng tạo lập sự đồng thuận xã hội.
Những trường hợp như Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký cho thấy rõ hơn yêu cầu thận trọng ấy. Đây đều là những nhân vật gắn với những giai đoạn đặc biệt phức tạp của lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX, và trong quá trình nghiên cứu đã tồn tại những cách tiếp cận, đánh giá khác nhau về vai trò, hành trạng cũng như vị trí lịch sử của từng người. Điều cần rút ra từ những trường hợp này không phải là đi đến một kết luận giản đơn theo hướng khẳng định hoặc phủ định toàn bộ một nhân vật. Lịch sử không nên được đọc bằng những lát cắt tách rời hoàn cảnh, càng không thể thay thế việc khảo cứu tư liệu và đánh giá khoa học bằng cảm xúc nhất thời. Chính sự tồn tại của những nhận định khác nhau càng cho thấy sự cần thiết phải đặt nhân vật vào đúng bối cảnh chính trị, xã hội và những giới hạn lịch sử của thời đại mà họ đã sống.
Tuy nhiên, nghiên cứu một nhân vật lịch sử và lựa chọn nhân vật ấy làm biểu tượng tôn vinh trong không gian công cộng vẫn là hai vấn đề cần được phân biệt. Khoa học lịch sử có nhiệm vụ không ngừng mở rộng nguồn tư liệu, đặt lại câu hỏi và làm sáng tỏ những vấn đề còn có cách hiểu khác nhau. Trong khi đó, việc đặt tên đường, tên trường hoặc công trình công cộng đòi hỏi thêm những cân nhắc về giá trị đại diện, ý nghĩa giáo dục và khả năng tạo lập sự đồng thuận. Việc một số địa phương tiến hành rà soát, điều chỉnh tên đường liên quan đến những trường hợp được lưu ý trong Công văn 2274 cho thấy quản trị biểu tượng không còn chỉ là một vấn đề mang tính lý luận mà đã hiện diện trong thực tiễn quản lý.
Từ thực tiễn đó, điều cần hướng tới không phải là khơi lại những cuộc tranh luận lịch sử chỉ để đi đến những phán xét thắng – thua về một nhân vật, mà là xây dựng một phương pháp quản trị biểu tượng nhất quán, khoa học và thận trọng. Trước khi một nhân vật hoặc sự kiện được lựa chọn để trở thành biểu tượng hiện diện lâu dài trong không gian công cộng, cần trả lời được một số câu hỏi căn bản: cơ sở sử liệu đã đủ vững chắc hay chưa; giới nghiên cứu còn tồn tại những khác biệt căn bản nào trong đánh giá; giá trị nào của nhân vật hoặc sự kiện được lựa chọn để tôn vinh; biểu tượng ấy sẽ chuyển tải thông điệp gì đến xã hội; và công chúng có thể tiếp nhận thông điệp đó trong bối cảnh hiện tại như thế nào. Đặt ra những câu hỏi ấy không phải để né tránh những vấn đề phức tạp của lịch sử, mà để mỗi quyết định tôn vinh có đủ căn cứ và sức thuyết phục.
Ở đây, công tác tư tưởng cần đi trước một bước. Nếu một quyết định liên quan đến biểu tượng lịch sử có khả năng tạo ra nhiều cách hiểu, không nên chờ đến khi tranh luận lan rộng mới bắt đầu cung cấp thông tin và giải thích. Cần nghiên cứu trước, thẩm định trước, dự liệu trước và chủ động thông tin trước. Trong quá trình đó, nghiên cứu lịch sử cung cấp căn cứ khoa học; quản lý nhà nước bảo đảm quy trình và thẩm quyền; còn công tác tư tưởng góp phần dự báo tác động xã hội, tổ chức thông tin, giải thích và tạo lập nhận thức trên cơ sở những căn cứ có sức thuyết phục.
Một biểu tượng lịch sử muốn có sức sống lâu bền trong lòng nhân dân vì thế không thể chỉ dựa vào một quyết định hành chính. Quyết định có thể xác lập tên gọi, nhưng không thể tự nó tạo nên ý nghĩa xã hội bền vững cho tên gọi ấy. Ý nghĩa đó phải được nâng đỡ bởi sự thật lịch sử, bởi cách giải thích thuyết phục, bởi sự hiểu biết của công chúng và, trên nền tảng ấy, là sự đồng thuận xã hội. Khi khoảng cách giữa quyết định quản lý và nhận thức cộng đồng được thu hẹp bằng tri thức lịch sử và đối thoại có trách nhiệm, biểu tượng mới thực sự làm được chức năng quan trọng nhất của mình: kết nối quá khứ với hiện tại và trao truyền những giá trị lịch sử cho tương lai.
Nâng cao trách nhiệm của cơ quan quản lý trong quản trị biểu tượng
Trước hết, trách nhiệm của cơ quan quản lý là xây dựng và thực hiện một hệ tiêu chí rõ ràng, nhất quán khi lựa chọn các biểu tượng lịch sử đưa vào không gian công cộng. Một nhân vật được lựa chọn để đặt tên đường, tên trường, quảng trường hay công trình công cộng không thể chỉ được xem xét từ một sự kiện hoặc một lát cắt trong cuộc đời, mà cần được đặt trong toàn bộ thân thế, sự nghiệp, đóng góp, vị trí trong tiến trình lịch sử cũng như mức độ được xã hội ghi nhận. Đối với những nhân vật có cuộc đời gắn với những giai đoạn lịch sử phức tạp, yêu cầu này càng cần được coi trọng. Không nên lựa chọn biểu tượng theo cảm tính, theo mức độ nổi tiếng ở một thời điểm hoặc chỉ dựa trên một cách đánh giá đơn tuyến. Các quy định về đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng đã đặt ra những yêu cầu về cơ sở khoa học, lịch sử, văn hóa, quy hoạch và quy trình thẩm định. Vấn đề đặt ra là những nguyên tắc ấy phải thực sự trở thành chuẩn mực xuyên suốt từ khâu đề xuất, thẩm định đến quyết định và tổ chức thông tin cho xã hội.
Trách nhiệm thứ hai là phát huy đúng vai trò của cơ quan chuyên môn, giới nghiên cứu và các thiết chế có chức năng lưu giữ, thẩm định tri thức lịch sử. Lịch sử không phải lĩnh vực có thể được nhận thức và phán xét chỉ bằng cảm xúc hiện tại. Một nhân vật sống cách chúng ta hàng trăm năm phải được đặt trở lại trong điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và hệ quan niệm của chính thời đại mà họ đã sống. Điều đó không có nghĩa là né tránh việc đánh giá trách nhiệm lịch sử, mà nhằm bảo đảm mọi đánh giá đều dựa trên sử liệu, phương pháp khoa học và nhận thức đầy đủ về bối cảnh. Đối với những nhân vật, sự kiện còn tồn tại những cách đánh giá khác nhau, càng cần tập hợp tư liệu, khảo cứu nguồn sử liệu, tổ chức trao đổi khoa học và lắng nghe những ý kiến có căn cứ trước khi đưa ra một quyết định có khả năng tồn tại hàng chục, thậm chí hàng trăm năm trong không gian công cộng.
Trong quá trình ấy, công tác tư tưởng cần tham gia từ sớm chứ không chỉ xuất hiện khi một quyết định đã tạo ra tranh luận. Cơ quan nghiên cứu lịch sử có trách nhiệm làm rõ căn cứ khoa học; cơ quan quản lý nhà nước bảo đảm quy trình, thẩm quyền và tính thống nhất của quyết định; công tác tư tưởng cần dự liệu tác động nhận thức, tổ chức thông tin và giải thích để xã hội hiểu được căn cứ của sự lựa chọn. Sự phối hợp ấy đặc biệt cần thiết bởi một biểu tượng lịch sử sau khi được đưa vào không gian công cộng sẽ không chỉ tồn tại với tư cách một tên gọi hành chính. Nó còn tham gia vào quá trình hình thành ký ức xã hội và chuyển tải những giá trị mà cộng đồng lựa chọn để ghi nhớ, tôn vinh và trao truyền.
Đặc biệt, quá trình sắp xếp, điều chỉnh các đơn vị hành chính trong thời gian qua tạo ra một thời điểm thích hợp để nhìn lại không chỉ “bản đồ hành chính” mà cả “bản đồ ký ức” của mỗi địa phương. Địa giới hành chính có thể thay đổi, đơn vị mới có thể được hình thành, nhưng trên cùng không gian ấy còn tồn tại nhiều lớp địa danh, tên người, tên sự kiện và ký ức được tích tụ qua các thời kỳ lịch sử. Mỗi tên xã, phường, đường phố, trường học, quảng trường hay công trình công cộng đều ít nhiều phản ánh một phần lịch sử của vùng đất. Bởi vậy, khi tổ chức lại không gian hành chính, việc rà soát hệ thống tên gọi cũng cần được nhìn nhận như một phần của quá trình quản trị lịch sử và văn hóa địa phương.
Đây có thể là dịp để nhận diện những trường hợp trùng tên sau sắp xếp; những tên gọi chưa thống nhất giữa các địa bàn; những địa danh có giá trị lịch sử đứng trước nguy cơ mai một; những trường hợp chưa được giải thích đầy đủ về nguồn gốc; hoặc những tên người, tên sự kiện cần tiếp tục được đối chiếu với tiêu chí lịch sử, văn hóa và các quy định của pháp luật. Việc rà soát, nếu được tiến hành bài bản, còn có thể giúp các địa phương hệ thống hóa tư liệu về địa danh, nhân vật và sự kiện gắn với vùng đất, qua đó hình thành một nguồn dữ liệu có giá trị không chỉ đối với quản lý nhà nước mà cả nghiên cứu, giáo dục lịch sử và bảo tồn ký ức địa phương. Một thời điểm có những điều chỉnh lớn về tổ chức không gian hành chính, theo nghĩa đó, cũng có thể trở thành cơ hội để hoàn thiện những gì trước đây còn thiếu, chưa thống nhất hoặc chưa được khảo cứu đầy đủ.
Tuy nhiên, rà soát không đồng nghĩa với thay đổi hàng loạt, càng không nên tạo ra tâm lý rằng cứ xuất hiện tranh luận là phải đổi tên hoặc loại bỏ một biểu tượng. Lịch sử của một vùng đất cũng được tạo thành từ sự bền vững của địa danh và ký ức mà nhiều thế hệ cư dân đã cùng chia sẻ. Một tên gọi đã tồn tại lâu dài, có căn cứ lịch sử, có giá trị văn hóa và được cộng đồng thừa nhận tự thân cũng có thể trở thành một phần di sản ký ức của địa phương. Thay đổi thiếu cân nhắc không chỉ gây xáo trộn trong quản lý và đời sống mà còn có nguy cơ làm đứt đoạn những mạch ký ức đã được hình thành qua nhiều thế hệ.
Vì vậy, việc rà soát cần được tiến hành theo nguyên tắc phân loại thay vì đồng nhất mọi trường hợp. Những tên gọi có căn cứ lịch sử rõ ràng, mang giá trị văn hóa, đã ổn định và được nhân dân thừa nhận cần được trân trọng, bảo tồn. Những địa danh cổ, tên gọi truyền thống có giá trị đối với lịch sử hình thành vùng đất cần được nhận diện để tránh mất đi trong quá trình tổ chức lại không gian hành chính. Những trường hợp trùng lặp, bất cập, sai lệch về thông tin hoặc chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chí hiện hành thì cần được nghiên cứu, đối chiếu tư liệu và xem xét theo đúng thẩm quyền, quy trình pháp luật. Riêng những trường hợp liên quan đến nhân vật, sự kiện còn có những vấn đề lịch sử cần tiếp tục làm sáng tỏ, sự thận trọng phải được đặt lên hàng đầu, tránh cả hai khuynh hướng: vội vàng tôn vinh khi căn cứ chưa đầy đủ và vội vàng phủ định khi vấn đề chưa được nghiên cứu thấu đáo.
Quan trọng hơn, quá trình rà soát không nên chỉ trả lời câu hỏi “tên nào cần giữ, tên nào cần đổi”, mà cần tiến tới một cách tiếp cận chủ động hơn: địa phương muốn gìn giữ và trao truyền những lớp ký ức lịch sử nào thông qua không gian công cộng? Những nhân vật, sự kiện, địa danh nào tiêu biểu cho lịch sử đấu tranh, lao động, sáng tạo và bản sắc văn hóa của vùng đất nhưng chưa được ghi nhận tương xứng? Những địa danh truyền thống nào cần được bảo vệ trước nguy cơ biến mất? Và bằng cách nào để hệ thống tên gọi trong không gian công cộng vừa phản ánh đúng lịch sử dân tộc, vừa thể hiện được lịch sử và bản sắc riêng của từng địa phương? Khi những câu hỏi ấy được đặt ra, quản trị biểu tượng sẽ chuyển từ cách xử lý từng vụ việc sang một cách nhìn có hệ thống và dài hạn hơn.
Đích đến của quá trình ấy không phải là tạo ra một không gian công cộng chỉ có những tên gọi “an toàn”, cũng không phải đơn giản hóa một lịch sử vốn phong phú và nhiều tầng lớp. Điều cần hướng tới là giữ cái đúng, bảo tồn cái có giá trị, điều chỉnh cái chưa phù hợp, chuẩn hóa cái còn bất cập và tiếp tục nghiên cứu những vấn đề chưa đủ căn cứ để kết luận. Đó là cách quản trị biểu tượng có trách nhiệm: không cực đoan, không phủ nhận những giá trị đã được lịch sử và cộng đồng bồi đắp, nhưng cũng không né tránh những vấn đề cần được nhìn nhận nghiêm túc bằng tư liệu, khoa học và trách nhiệm đối với xã hội.
Bởi xét đến cùng, mỗi quyết định về một tên đường, tên trường hay công trình công cộng không chỉ giải quyết một vấn đề quản lý của hiện tại. Một khi đã hiện diện bền vững trong đời sống, tên gọi ấy có thể đi cùng nhiều thế hệ, trở thành một phần ký ức của vùng đất và tham gia vào cách những thế hệ sau nhận biết lịch sử. Trách nhiệm của cơ quan quản lý vì thế không dừng ở việc đặt đúng một cái tên, mà sâu xa hơn là góp phần giữ đúng ký ức, trao truyền đúng giá trị và bảo đảm sự tiếp nối của lịch sử trong đời sống xã hội.
Từ quản trị biểu tượng đến xây dựng niềm tin lịch sử
Đích đến của quản trị biểu tượng lịch sử không phải là tạo ra một xã hội chỉ ghi nhớ những cái tên đã được cơ quan quản lý lựa chọn, càng không phải khuôn nhận thức lịch sử vào những biểu đạt đơn nhất. Điều quan trọng hơn là thông qua những biểu tượng hiện diện trong đời sống, giúp mỗi người có thêm cơ hội hiểu lịch sử một cách có căn cứ, biết phân biệt các lớp giá trị của quá khứ, biết trân trọng truyền thống và hiểu vì sao độc lập, thống nhất, chủ quyền, hòa bình cùng những thành quả của đất nước hôm nay phải được gìn giữ. Đằng sau những thành quả ấy là hành trình lịch sử được đánh đổi bằng máu, nước mắt, trí tuệ và sức lao động của biết bao thế hệ người Việt Nam. Khi lịch sử được nhận thức trên nền tảng ấy, công tác tư tưởng không đứng bên ngoài đời sống văn hóa mà hiện diện ngay trong cách chúng ta tổ chức không gian sống, gìn giữ ký ức, thực hành giáo dục và trao truyền các giá trị từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Trong quá trình ấy, nhân dân phải được tôn trọng với tư cách chủ thể sáng tạo, thực hành và trao truyền văn hóa. Những lễ hội, tín ngưỡng, tập quán, di tích và các hình thức ký ức cộng đồng được hình thành, bồi đắp qua nhiều thế hệ là một phần của đời sống lịch sử – văn hóa dân tộc. Những giá trị phù hợp trong đó cần được nhận diện, bảo vệ và phát huy. Tôn trọng đời sống văn hóa của nhân dân cũng có nghĩa là tôn trọng tính phong phú, nhiều tầng lớp của ký ức cộng đồng, không giản đơn hóa những gì lịch sử để lại chỉ bằng một cách nhìn của hiện tại.
Nhưng tôn trọng ký ức cộng đồng không đồng nghĩa với việc mọi yếu tố được lưu truyền từ quá khứ đều mặc nhiên trở thành giá trị được Nhà nước và xã hội hiện tại tôn vinh. Chính vì lịch sử có nhiều tầng lớp nên xã hội càng cần được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác để nhận biết đâu là giá trị của một di sản cần được gìn giữ, đâu là thực hành văn hóa cần được tôn trọng, đâu là dấu tích cần được bảo tồn để phản ánh trung thực lịch sử và đâu là biểu tượng được lựa chọn để tôn vinh, trao truyền trong không gian công cộng. Sự phân biệt ấy giúp tránh hai khuynh hướng đều có thể dẫn đến cách ứng xử cực đoan với quá khứ: hoặc phủ nhận sạch trơn những gì thuộc về truyền thống chỉ vì chúng được hình thành trong những hoàn cảnh lịch sử khác hôm nay; hoặc ngược lại, đồng nhất tất cả những gì đã tồn tại lâu đời với những giá trị cần được chính thức ghi nhận và tôn vinh.
Đối với thế hệ trẻ, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa lâu dài. Một em học sinh hằng ngày đi qua con đường mang tên một nhân vật lịch sử có quyền được biết người ấy là ai, sống trong thời đại nào, đã làm gì và vì sao tên tuổi ấy được lựa chọn để hiện diện trong không gian của thành phố mình. Một học sinh học tập trong ngôi trường mang tên một danh nhân cũng cần được hiểu vì sao nhà trường mang tên người đó và những giá trị nào từ cuộc đời nhân vật được thế hệ hôm nay trân trọng. Một thanh niên đứng trước tượng đài, bước vào bảo tàng hay tham dự một lễ hội truyền thống cần có khả năng nhận biết những lớp lịch sử, văn hóa ẩn sau những gì mình đang nhìn thấy và trải nghiệm.
Nếu chỉ có cái tên mà không có câu chuyện lịch sử đi cùng, biểu tượng rất dễ trở thành một dấu hiệu quen thuộc nhưng trống về nội dung. Nếu câu chuyện được kể bằng những thông tin thiếu căn cứ, đơn giản hóa hoặc tách nhân vật, sự kiện khỏi hoàn cảnh lịch sử, biểu tượng thậm chí có thể góp phần tạo nên những nhận thức không đầy đủ về quá khứ. Ngược lại, nếu mỗi tên gọi được nâng đỡ bằng tư liệu, những bài học lịch sử, nội dung giới thiệu tại bảo tàng và di tích, hoạt động trải nghiệm của nhà trường, dữ liệu số và những câu chuyện được kể một cách trung thực, sinh động, thì chính không gian công cộng có thể trở thành một “lớp học lịch sử” rộng lớn. Khi ấy, lịch sử không chỉ được học trong một số tiết học mà hiện diện trong chính môi trường sống của mỗi người.
Điều đó cũng đặt ra yêu cầu đổi mới cách trao truyền lịch sử. Một tấm biển chỉ ghi tên nhân vật chưa đủ để làm nên giáo dục lịch sử. Một di tích được xếp hạng nhưng thiếu nội dung thuyết minh có chiều sâu cũng khó phát huy hết giá trị. Một lễ kỷ niệm nếu chỉ lặp lại những thông tin quen thuộc mà không giúp thế hệ hôm nay hiểu được con người, hoàn cảnh và những lựa chọn của quá khứ thì sức lan tỏa cũng có giới hạn. Trong điều kiện công nghệ số, hoàn toàn có thể kết nối tên đường, trường học, di tích, bảo tàng và công trình tưởng niệm với các nguồn tư liệu đã được thẩm định; từ một mã truy cập trên biển tên đường hay tại di tích, người dân có thể tìm hiểu tiểu sử nhân vật, bản đồ lịch sử, hình ảnh tư liệu, nguồn sử liệu và những nội dung giải thích cần thiết. Khi tri thức lịch sử trở nên dễ tiếp cận, biểu tượng mới có thêm khả năng chuyển hóa từ một dấu hiệu để nhận biết thành một phương tiện để giáo dục và trao truyền ký ức.
Ở tầng sâu hơn, đây cũng là câu chuyện về việc hình thành niềm tin lịch sử. Niềm tin ấy không nên được hiểu đơn giản là yêu cầu thế hệ sau tiếp nhận nguyên vẹn những điều thế hệ trước đã tin tưởng. Một niềm tin có sức sống lâu bền phải có khả năng đứng vững trước câu hỏi, trước sự kiểm chứng của tư liệu và trước những biến đổi trong phương thức tiếp nhận thông tin của xã hội. Trong thời đại mà một người trẻ có thể tiếp xúc với rất nhiều nguồn thông tin và những cách diễn giải khác nhau về cùng một sự kiện chỉ trong vài phút, cách tốt nhất để củng cố niềm tin vào lịch sử dân tộc không phải là né tránh những câu hỏi khó, mà là cung cấp cho họ những căn cứ đủ tin cậy để tự mình hiểu vì sao một sự kiện được đánh giá như vậy, vì sao một nhân vật được ghi nhận như vậy và vì sao có những giá trị đã được nhiều thế hệ lựa chọn, bảo vệ và trao truyền.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đặt yêu cầu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; đồng thời nhấn mạnh việc khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và phát triển toàn diện con người Việt Nam. Đặt trong yêu cầu đó, quản trị biểu tượng lịch sử không phải một công việc biệt lập của lĩnh vực văn hóa hay quản lý hành chính. Nó liên quan trực tiếp đến việc những giá trị nào từ lịch sử được lựa chọn, giải thích và chuyển giao cho các thế hệ tiếp nối.
Xét đến cùng, quản trị biểu tượng lịch sử phải hướng tới xây dựng một niềm tin lịch sử có cơ sở: niềm tin được hình thành từ sự thật chứ không phải từ sự áp đặt; được củng cố bằng tư liệu chứ không chỉ bằng sự lặp lại; được nuôi dưỡng bằng giáo dục và trải nghiệm văn hóa chứ không chỉ bằng những khẩu hiệu; và được kiểm chứng bởi chính những giá trị mà dân tộc đã hun đúc qua hành trình dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước.
Khi một thế hệ hiểu được vì sao cha ông đã lựa chọn, hy sinh và gìn giữ những giá trị ấy, việc trao truyền lịch sử mới đi đến chiều sâu. Và khi những giá trị của quá khứ được tiếp nhận bằng hiểu biết, được kiểm chứng bằng tri thức và trở thành sự lựa chọn có ý thức của con người hôm nay, chúng không còn chỉ là di sản được thế hệ trước để lại. Chúng trở thành sức mạnh tinh thần được thế hệ hiện tại tiếp nhận và tiếp tục trao cho mai sau. Đó cũng chính là cách bền vững nhất để gìn giữ những thành quả cách mạng mà lịch sử đã phải trả bằng biết bao hy sinh mới có được.
Việt Nam – đất nước 4.000 năm
Nói Việt Nam là đất nước 4.000 năm trước hết là nói đến chiều sâu lịch sử, văn hóa của một dân tộc đã trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Trong dòng chảy lâu dài ấy có những lớp văn hóa nối tiếp nhau, có nhiều thời kỳ và triều đại, có những nhân vật để lại dấu ấn lớn, những cuộc đấu tranh quyết định vận mệnh dân tộc, những thành tựu được các thế hệ bồi đắp, đồng thời cũng có những sự kiện, nhân vật và vấn đề lịch sử còn cần tiếp tục được khảo cứu, nhận thức đầy đủ hơn. Lịch sử càng dài, ký ức càng nhiều tầng lớp; và càng tự hào về lịch sử, chúng ta càng phải có thái độ nghiêm túc, khoa học và có trách nhiệm với lịch sử.
Bởi một dân tộc không cần tô hồng quá khứ để chứng minh lịch sử của mình là vĩ đại, cũng không cần phủ định quá khứ để bảo vệ một cách nhìn của hiện tại. Sức sống của lịch sử trước hết nằm ở sự thật của nó. Có những trang sử hào hùng để tự hào, có những thời đoạn đau thương để ghi nhớ, có những thành công cần được khẳng định và cũng có những bài học phải được nhìn nhận thẳng thắn. Tôn trọng lịch sử chính là tôn trọng sự thật lịch sử, đặt con người và sự kiện vào hoàn cảnh đã sản sinh ra chúng, tìm hiểu bằng tư liệu và lý giải bằng phương pháp khoa học.
Tinh thần ấy đặc biệt cần thiết khi đánh giá các nhân vật lịch sử. Không thể hiểu một con người chỉ từ một câu chuyện đơn lẻ, một giai thoại hoặc một lát cắt được tách khỏi bối cảnh; cũng không nên tuyệt đối hóa một công trạng để bỏ qua những vấn đề khác trong cuộc đời họ, hay ngược lại, phủ nhận toàn bộ một nhân vật chỉ từ một khía cạnh còn có những cách đánh giá khác nhau. Mỗi nhân vật cần được đặt trong điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của thời đại mình; được khảo cứu trên cơ sở tư liệu và được đánh giá trong tổng thể hành trạng, đóng góp cũng như những hệ quả lịch sử gắn với họ. Chính cách tiếp cận ấy giúp nhận thức lịch sử vượt khỏi những phán xét cảm tính và tạo nền tảng khoa học cho việc lựa chọn, quản trị các biểu tượng trong đời sống hôm nay.
Điều đó càng quan trọng bởi một nhân vật khi còn nằm trong các công trình sử học chủ yếu là đối tượng của nghiên cứu và tranh luận khoa học; nhưng khi tên tuổi được lựa chọn để đặt cho một con đường, ngôi trường, quảng trường hay công trình công cộng, nhân vật ấy đã bước vào một không gian khác – không gian của ký ức xã hội và sự trao truyền giá trị. Một quyết định của hiện tại khi ấy có thể trở thành điều nhiều thế hệ tương lai nhìn thấy, gọi tên và ghi nhớ. Bởi vậy, nhìn nhận công bằng với lịch sử không chỉ là trách nhiệm đối với quá khứ mà còn là trách nhiệm đối với nhận thức lịch sử của những người chưa sinh ra.
Trong chiều dài hàng nghìn năm ấy, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một bước ngoặt đặc biệt của lịch sử dân tộc. Đó là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài vì độc lập, đồng thời mở ra một thời kỳ mới khi nhân dân Việt Nam giành chính quyền, xác lập quyền làm chủ đất nước và quyền tự quyết định vận mệnh dân tộc. Từ bước ngoặt ấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam tiếp tục trải qua những cuộc đấu tranh lâu dài, đầy hy sinh để bảo vệ nền độc lập, đi đến thống nhất đất nước, bảo vệ chủ quyền và tiến hành công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.
Bởi vậy, thành quả cách mạng hôm nay không đứng ngoài hay tách khỏi chiều sâu hàng nghìn năm lịch sử dân tộc. Đó là sự tiếp nối trong những điều kiện lịch sử mới của khát vọng độc lập, ý chí tự chủ và năng lực tự quyết định vận mệnh đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Giữ gìn thành quả của Cách mạng Tháng Tám, của các cuộc kháng chiến và của công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc vì thế không chỉ là bảo vệ những thành tựu vật chất đã đạt được. Sâu xa hơn, đó còn là tiếp tục bồi đắp những nguồn lực tinh thần đã giúp dân tộc đi qua những thời khắc thử thách: lòng yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, tinh thần đại đoàn kết, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường và trách nhiệm của mỗi người đối với cộng đồng, đất nước.
Nhưng hàng nghìn năm lịch sử không thể được trao lại cho thế hệ mai sau chỉ bằng một con số, một vài tên tuổi hay những khẩu hiệu được lặp lại. Lịch sử phải được trao truyền bằng những câu chuyện đúng, những chứng cứ đáng tin cậy, những di sản được bảo tồn đúng giá trị và những biểu tượng được lựa chọn với trách nhiệm. Một thế hệ chỉ thực sự tiếp nhận lịch sử khi biết điều gì đã xảy ra, hiểu vì sao nó xảy ra, những người đi trước đã lựa chọn như thế nào và những lựa chọn ấy để lại điều gì cho đất nước hôm nay. Khi đó, lòng tự hào không chỉ bắt nguồn từ cảm xúc mà được nâng đỡ bởi hiểu biết; niềm tin không chỉ hình thành từ sự khẳng định mà có nền móng từ sự thật lịch sử.
Đó cũng là ý nghĩa sâu xa của quản trị biểu tượng. Giữ gìn một biểu tượng đúng là giữ gìn một phần ký ức; trao truyền ký ức đúng là góp phần giữ gìn nền tảng tinh thần của dân tộc. Mỗi tên đường, tên trường, di tích, tượng đài hay không gian tưởng niệm, nếu được lựa chọn và giải thích bằng những căn cứ lịch sử thuyết phục, đều có thể trở thành một sợi dây nối quá khứ với hiện tại. Nhiều sợi dây như thế làm nên sự tiếp nối của ký ức dân tộc – để người hôm nay hiểu người đi trước và người mai sau hiểu được vì sao có đất nước mà họ được thừa hưởng.
Sau hơn tám thập niên kể từ mùa Thu năm 1945, gìn giữ thành quả cách mạng vì thế cũng là gìn giữ khả năng trao truyền một cách trung thực những giá trị đã làm nên sức mạnh Việt Nam. Đó không chỉ là trách nhiệm với quá khứ, mà còn là trách nhiệm với tương lai. Để những thế hệ mai sau khi nhìn lại có thể hiểu được đất nước đã đi qua những gì, những giá trị nào đã được đánh đổi bằng hy sinh, những điều gì cần tiếp tục bảo vệ và những gì họ có trách nhiệm viết tiếp.
Một đất nước có chiều sâu hàng nghìn năm lịch sử càng cần biết trân trọng từng lớp ký ức của mình. Và một dân tộc biết tôn trọng sự thật của quá khứ, gìn giữ đúng những giá trị đã được lịch sử kiểm nghiệm, trao truyền chúng bằng tri thức và trách nhiệm, sẽ có một nền tảng tinh thần vững chắc để bước tới tương lai. Để Việt Nam không chỉ có một lịch sử để tự hào, mà còn có một hiện tại để tin tưởng và một tương lai để các thế hệ tiếp tục dựng xây.
Thế Nguyễn – Minh Văn
Tài liệu tham khảo
1. Công văn số 2274-CV/BTGTW ngày 05/01/2022 của Ban Tuyên giáo Trung ương.
2. Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ về Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng.
3. Thông tư số 36/2006/TT-BVHTT ngày 20/3/2006 hướng dẫn thực hiện Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng.
4. Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 ngày 23/11/2024.
5. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
6. Các văn bản của Quốc hội, Chính phủ và cơ quan có thẩm quyền về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, phường năm 2025.


