Thứ Bảy, Tháng 8 22, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Kỳ 1: Khi nhiều chính sách cùng đi về vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Phóng sự nhiều kỳ:  Tập trung nguồn lực cho phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi



ĐNA -

Quốc hội quyết định hợp nhất ba Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035. Theo phương án Chính phủ trình, bốn chương trình được tích hợp thành Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi, nhằm khắc phục tình trạng nguồn lực chồng chéo, dàn trải. Sau tích hợp, chính sách tiếp tục ưu tiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tập trung giải quyết sinh kế, nhà ở, nước sạch, giáo dục, y tế, văn hóa và đưa nguồn lực đến cơ sở nhanh hơn.

Đại diện các xã trao đổi kết quả thực hiện Chương trình tại cuộc họp. Ảnh: Cần Thơ online.

Từ những kiến nghị ở cấp xã
Ngày 21/8/2026, Văn phòng Điều phối các Chương trình mục tiêu quốc gia TP Cần Thơ làm việc với chín xã Trường Xuân, Trường Thành, Phong Điền, Trường Long, Đông Thuận, Nhơn Ái, Thới Lai, Trường Long Tây và Tân Hòa. Từ cơ sở, nhiều nhu cầu được đặt ra như cải tạo hạ tầng giao thông, trường học, hướng dẫn thực hiện các tiêu chí và tập huấn cán bộ.

Các xã đã kiện toàn ban chỉ đạo, xây dựng kế hoạch, rà soát tiêu chí và xác định sản phẩm chủ lực. Tuy nhiên, khoảng thời gian từ khi vốn được phân bổ đến khi chuyển thành công trình, chính sách và lợi ích cụ thể cho người dân vẫn cần được rút ngắn. Theo Văn phòng Điều phối, đến tháng 7, Trung ương mới phân bổ kinh phí và thành phố đang thực hiện thủ tục để đưa nguồn vốn về địa phương.

Những kiến nghị từ cấp xã cho thấy điểm nghẽn không chỉ nằm ở quy mô nguồn lực, mà còn ở thời điểm vốn được giao, thủ tục, hướng dẫn thực hiện và năng lực tổ chức tại cơ sở. Với người dân, điều quan trọng là chính sách mang lại kết quả gì, thay vì nguồn kinh phí thuộc chương trình, dự án hay tiểu dự án nào. Vì vậy, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới là giảm tầng nấc trung gian, hạn chế nguồn lực phân tán và đưa vốn đến đúng địa bàn, đúng đối tượng, đúng thời điểm.

Giai đoạn 2021-2025, ba Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được triển khai độc lập. Trong đó, chương trình dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi bao quát nhiều lĩnh vực, từ đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt, chuyển đổi nghề đến giáo dục, y tế, văn hóa, trợ giúp pháp lý và phát huy vai trò người có uy tín. Cần Thơ đã thành lập Ban Chỉ đạo chung và xác định nguyên tắc không hỗ trợ trùng lặp, song mỗi chương trình vẫn có nguồn vốn, chỉ tiêu và quy trình riêng.

Ngày 11/12/2025, Quốc hội thông qua Nghị quyết 257/2025/QH15 về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, trên cơ sở hợp nhất ba chương trình trước đây.

Đến tháng 8/2026, Chính phủ tiếp tục trình Quốc hội phương án tích hợp bốn chương trình hiện hành về phát triển văn hóa; hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển thành một chương trình chung. Riêng Chương trình phòng, chống ma túy được đề nghị tiếp tục thực hiện độc lập do tính chất đặc thù.

Chủ trương tích hợp được đặt ra trong bối cảnh tiến độ giải ngân giai đoạn trước chưa đồng đều. Theo báo cáo thẩm tra tại phiên họp Quốc hội tháng 8/2026, đến hết năm 2025, tỷ lệ giải ngân ngân sách Trung ương của các chương trình đạt 76,8%, trong đó vốn sự nghiệp đạt 70,2%. Đối với phần vốn được kéo dài sang năm 2026, đến ngày 31/7 mới giải ngân khoảng 23%. Những nguyên nhân được chỉ ra gồm nhiều đầu mối thực hiện, khó lồng ghép nguồn lực, chậm ban hành hướng dẫn và hạn chế về khả năng hấp thụ vốn.

Thực tế tại địa phương cũng cho thấy yêu cầu phải tổ chức lại nguồn lực. Nghị quyết 11-NQ/TU ngày 13/5/2026 của Tỉnh ủy Vĩnh Long chỉ ra một số hạn chế như chất lượng tiêu chí nông thôn mới ở một số nơi chưa cao, hướng dẫn chưa đồng bộ, một số định mức hỗ trợ chưa sát thực tế, giải ngân một số nguồn vốn còn chậm và một số dự án ODA thiếu vốn đối ứng. Giai đoạn 2026-2030, tỉnh đặt yêu cầu nâng cao chất lượng và tính bền vững, đồng thời tích hợp nguồn lực, hạn chế trùng lặp, dàn trải.

Ở Đồng bằng sông Cửu Long, bài toán sử dụng nguồn lực còn gắn với những biến động lớn về sinh kế và dân cư. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới cuối năm 2025 ghi nhận hạn hán, xâm nhập mặn và các cú sốc khí hậu đang ảnh hưởng đến thu nhập từ nông nghiệp, trong khi gần 1,7 triệu người đã rời khu vực trong một thập niên. Báo cáo khuyến nghị nâng cao kỹ năng lao động, phát triển nông nghiệp thích ứng, đầu tư hạ tầng và củng cố hệ thống an sinh.

Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, các vấn đề về sinh kế, đất đai, việc làm và tiếp cận dịch vụ xã hội có quan hệ chặt chẽ, khó giải quyết riêng lẻ. Một hộ thiếu đất sản xuất không chỉ cần hỗ trợ trước mắt mà còn cần nghề phù hợp, nguồn vốn và đầu ra cho sản phẩm. Gia đình có trẻ nhỏ đồng thời cần tiếp cận trường học, chăm sóc y tế và các điều kiện bảo đảm việc học. Nếu từng nhu cầu vẫn được xử lý bằng những cơ chế tách biệt, số lượng chính sách nhiều hơn chưa chắc giúp người dân tiếp cận nguồn lực thuận lợi hơn.

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, quy mô và yêu cầu đối với công tác dân tộc của TP Cần Thơ cũng thay đổi đáng kể. Cần Thơ mới có hơn 3,22 triệu dân, trong đó khoảng 494.400 người là đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm hơn 15%, với đồng bào Khmer chiếm số đông. Không gian phát triển của thành phố hiện bao gồm nhiều địa bàn tập trung đông đồng bào Khmer, cùng hệ thống chùa, trường học, cơ sở văn hóa và các vùng sản xuất nông nghiệp đặc thù.

Trong bối cảnh đó, chính sách dân tộc không còn là một hợp phần tách biệt mà gắn trực tiếp với bài toán phát triển kinh tế – xã hội của thành phố. Việc tích hợp các chương trình vì thế chỉ thực sự có ý nghĩa khi giảm được đầu mối, tháo gỡ thủ tục và tăng khả năng phối hợp nguồn lực, nhưng đồng thời vẫn giữ được trọng tâm ưu tiên cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thước đo cuối cùng không nằm ở số chương trình được hợp nhất, mà ở tốc độ và hiệu quả chuyển nguồn lực thành sinh kế, nhà ở, nước sạch, giáo dục, y tế, văn hóa và những điều kiện sống thiết thực cho người dân.

Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn trình bày báo cáo thẩm tra. Ảnh: TTXVN

Tích hợp nguồn lực nhưng phải giữ chính sách đặc thù
Phương án Chính phủ trình Quốc hội tháng 8/2026 dự kiến tổ chức Chương trình mục tiêu quốc gia mới thành bảy nhóm nhiệm vụ lớn: hạ tầng và môi trường; kinh tế nông thôn, sinh kế và việc làm; giáo dục và phát triển nguồn nhân lực; y tế và dân số; văn hóa; chính sách đặc thù đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; dữ liệu, chuyển đổi số, giám sát và truyền thông. Tổng nguồn lực dự kiến cho giai đoạn thực hiện hơn 808.000 tỷ đồng.

Đáng chú ý, sau tích hợp, chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn được thiết kế thành một nhóm nhiệm vụ riêng, tập trung giải quyết những nhu cầu thiết yếu như nhà ở, đất ở, nước sinh hoạt, bố trí dân cư, đất sản xuất, chuyển đổi nghề và phát triển sinh kế. Điều này đặt ra nguyên tắc quan trọng: tích hợp chương trình nhưng không làm mất tính đặc thù của chính sách dân tộc. Những địa bàn, hộ dân còn khó khăn phải được nhận diện chính xác và duy trì mức ưu tiên phù hợp để nguồn lực đến đúng đối tượng.

Trong báo cáo thẩm tra phương án tích hợp, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội cũng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm mức ưu tiên cao nhất đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, từ phân bổ nguồn lực, tổ chức thực hiện đến kiểm tra, giám sát. Việc sắp xếp lại các chương trình không được làm thu hẹp mục tiêu, phạm vi, đối tượng hoặc mức độ ưu tiên của những chính sách đã được xác định.

Thực tế tại Cần Thơ cho thấy một hộ đồng bào dân tộc thiểu số có thể đồng thời cần hỗ trợ về nhà ở, học nghề và chuyển đổi việc làm; con em cần điều kiện học tập; người cao tuổi cần được bảo đảm chăm sóc y tế; cộng đồng cần giao thông và nước sạch. Nếu các nhu cầu này được rà soát, cập nhật trên một hệ thống thông tin thống nhất, việc xác định và tổ chức hỗ trợ sẽ thuận lợi hơn. Ngược lại, nếu tích hợp chỉ dừng ở việc sắp xếp lại tên chương trình, trong khi thủ tục, dữ liệu và đầu mối quản lý vẫn phân tán, những điểm nghẽn cũ khó được khắc phục.

Vì vậy, một nội dung đáng chú ý của phương án mới là xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung để theo dõi mục tiêu, nguồn lực, dự án, tiến độ, giải ngân, đối tượng thụ hưởng và kết quả đầu ra. Đối với chính sách dân tộc, hệ thống này không chỉ phục vụ quản lý nguồn vốn mà còn giúp xác định hộ đã được hỗ trợ nội dung gì, nhu cầu nào chưa được giải quyết. Đây là cơ sở để vừa hạn chế hỗ trợ trùng lặp, vừa tránh bỏ sót đối tượng.

Cùng với tích hợp dữ liệu, phân cấp được đặt ra theo hướng rõ trách nhiệm hơn. Trung ương quản lý mục tiêu và các nguyên tắc chung; địa phương chủ động lựa chọn danh mục, mô hình và phương thức tổ chức phù hợp với điều kiện thực tế. Cách tiếp cận này đặc biệt cần thiết tại Đồng bằng sông Cửu Long, nơi điều kiện phát triển giữa các địa bàn dân tộc thiểu số có sự khác biệt. Một xã đông đồng bào Khmer ở Cần Thơ có đặc điểm sinh kế khác với một xã miền núi có đồng bào Khmer ở An Giang. Vì vậy, chính sách cần thống nhất về mục tiêu và nguyên tắc ưu tiên, nhưng cách triển khai phải đủ linh hoạt để xử lý đúng nhu cầu của từng địa bàn.

Tại An Giang, năm 2026 có 35 xã, phường, đặc khu thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có địa bàn miền núi và nhiều thôn đặc biệt khó khăn. Giai đoạn 2026-2030, địa phương đặt mục tiêu từng bước đưa các xã, thôn ra khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn, đồng thời giảm nghèo bền vững trong đồng bào dân tộc thiểu số. Từ miền núi An Giang đến các vùng đông đồng bào Khmer ở Cần Thơ, điều kiện tự nhiên và phương thức sinh kế khác nhau, nhưng cùng đặt ra yêu cầu bảo đảm dịch vụ thiết yếu, tạo sinh kế bền vững và thu hẹp khoảng cách phát triển.

Khả năng đưa chủ trương tích hợp vào thực tế trước hết phụ thuộc vào tốc độ nguồn lực đến cơ sở. Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ ngày 15/7/2026, nguồn vốn Trung ương năm 2026 đã được bổ sung cho các địa phương triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó Cần Thơ được phân bổ 237,16 tỷ đồng; An Giang 282,97 tỷ đồng; Vĩnh Long 379,43 tỷ đồng; Đồng Tháp 206,2 tỷ đồng và Cà Mau 231,28 tỷ đồng.

Nguồn vốn được giao trong năm đầu của giai đoạn mới tạo điều kiện để các địa phương tiếp tục những nhiệm vụ chuyển tiếp. Tuy nhiên, từ quyết định phân bổ đến kết quả người dân thực sự thụ hưởng vẫn còn một khoảng cách cần được rút ngắn. Vì thế, hiệu quả của mô hình tích hợp không chỉ được đo bằng quy mô hơn 808.000 tỷ đồng hay số chương trình được sắp xếp lại, mà quan trọng hơn là nguồn lực có đến cơ sở nhanh hơn, đúng địa bàn, đúng đối tượng và giải quyết được nhu cầu thiết yếu của người dân hay không.

Từ các cuộc họp ở Trung ương đến những kiến nghị từ cấp xã, thước đo cuối cùng vẫn là hiệu quả thực tế. Với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, kết quả của chương trình cần được thể hiện bằng những thay đổi cụ thể: số hộ có nhà ở ổn định, lao động có việc làm sau đào tạo, công trình nước sạch vận hành bền vững, thu nhập được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm thực chất, khả năng tiếp cận giáo dục, y tế tốt hơn và bản sắc văn hóa cộng đồng được gìn giữ. Khi những chỉ số này chuyển biến, nguồn lực mới thực sự đi hết hành trình từ quyết định phân bổ đến đời sống người dân.

Vì vậy, tích hợp các chương trình mục tiêu quốc gia không đơn thuần là sắp xếp lại đầu mối quản lý, mà đòi hỏi thay đổi cách thiết kế và tổ chức thực hiện chính sách. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nguyên tắc xuyên suốt là có thể tập trung nguồn lực, đơn giản hóa quy trình nhưng không làm giảm mức độ ưu tiên, không làm mờ đối tượng và tính đặc thù của chính sách dân tộc.

Một chương trình chung chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân ở những địa bàn còn khó khăn tiếp cận hỗ trợ nhanh hơn, thuận lợi hơn; đồng thời cơ quan quản lý có thể đo lường được mỗi nguồn lực đã tạo ra thay đổi gì ở từng hộ dân, từng thôn, ấp và cộng đồng. Đó cũng là thước đo rõ nhất cho hiệu quả của việc tích hợp: không phải có bao nhiêu chương trình được gộp lại, mà sau khi gộp, chính sách có đến gần người dân hơn và tạo ra thay đổi bền vững hơn hay không.

Trọng Nguyễn