Thứ Bảy, Tháng 8 22, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Giáo dục và văn hóa – nền tảng hình thành con người và sức mạnh quốc gia



ĐNA -

Giáo dục không chỉ truyền đạt tri thức mà còn góp phần hình thành nhân cách, bản lĩnh và trách nhiệm của mỗi người. Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, giáo dục càng cần vun đắp những con người có tri thức, năng lực hội nhập và ý thức gìn giữ căn cước văn hóa. Bởi sức mạnh quốc gia không chỉ nằm ở những gì con người tạo ra, mà còn ở những giá trị họ lựa chọn gìn giữ và phụng sự.

Giáo dục và văn hóa – hai dòng chảy hình thành con người
Từ trong lịch sử, người Việt đã sớm quan niệm học không chỉ để biết mà trước hết còn để làm người. “Tiên học lễ, hậu học văn” là cách diễn đạt cô đọng cho tinh thần ấy. “Lễ” không đơn thuần là những khuôn phép hình thức, mà rộng hơn là đạo lý, cách ứng xử, lòng kính trọng, ý thức về bổn phận và trách nhiệm với người khác. “Văn” cũng không chỉ dừng ở chữ nghĩa, mà là tri thức giúp con người mở mang hiểu biết, hình thành năng lực để học tập, lao động và sáng tạo. Hai phương diện này luôn cần song hành: tri thức tạo nên năng lực, còn văn hóa và đạo lý định hướng con người sử dụng năng lực ấy đúng mục đích.

Nhìn lại lịch sử giáo dục Việt Nam, từ Quốc Tử Giám, hệ thống trường học của các triều đại đến truyền thống hiếu học trong mỗi gia đình, dòng họ, có thể thấy việc học từ lâu đã gắn với việc rèn người. Người có học được kỳ vọng không chỉ tìm kiếm sự thành đạt cho bản thân mà còn phải giữ đạo làm người, có trách nhiệm với cộng đồng và biết phụng sự đất nước. Bởi vậy, quan niệm truyền thống luôn đề cao phẩm chất của người có học: biết giữ mình, trọng nghĩa, hiểu điều phải trái và ý thức được giới hạn trong hành xử. Đó là phần văn hóa đứng sau tri thức, khó đo đếm bằng điểm số hay bằng cấp nhưng lại quyết định cách một người sử dụng những gì mình đã học và tạo nên giá trị lâu dài của giáo dục.

Trong xã hội hiện đại, mối quan hệ giữa giáo dục và văn hóa càng trở nên rõ nét. Một học sinh cần kiến thức toán học, khoa học, ngoại ngữ và công nghệ để thích ứng với sự thay đổi của đời sống và thị trường lao động; nhưng đồng thời cũng cần sự trung thực, tinh thần tôn trọng người khác, ý thức tuân thủ pháp luật, trách nhiệm với cộng đồng và khả năng chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình. Một kỹ sư phải làm chủ công nghệ nhưng không thể bỏ qua những tác động mà sản phẩm mình tạo ra gây nên cho xã hội. Một bác sĩ cần vững chuyên môn nhưng cũng cần lòng nhân ái và đạo đức nghề nghiệp. Một nhà quản lý cần năng lực điều hành nhưng phải hiểu trách nhiệm đi cùng mỗi quyết định. Chính ở những yêu cầu ấy, giáo dục và văn hóa gặp nhau: một bên trang bị năng lực, một bên bồi đắp nền tảng để năng lực được sử dụng có trách nhiệm.

Vì thế, đánh giá chất lượng giáo dục chỉ qua kết quả thi cử, điểm số hay tỷ lệ tốt nghiệp là chưa đủ. Chất lượng của một nền giáo dục còn thể hiện ở khả năng hình thành những con người biết học, biết làm, biết hợp tác, có lòng tự trọng và tinh thần cống hiến. Nghị quyết 71-NQ/TW đặt ra yêu cầu giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ, gắn với hình thành hệ giá trị con người Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Cách tiếp cận ấy cho thấy giáo dục không diễn ra biệt lập trong lớp học, mà luôn chịu tác động của môi trường văn hóa nơi con người sống và trưởng thành. Muốn nâng cao chất lượng giáo dục, vì vậy, không thể chỉ đổi mới nội dung hay phương pháp dạy học, mà còn phải xây dựng một môi trường văn hóa đủ lành mạnh để tri thức đi cùng nhân cách, năng lực gắn với trách nhiệm và sự trưởng thành của mỗi cá nhân hướng tới những giá trị chung của cộng đồng.

Từ “tiên học lễ, hậu học văn” đến hình mẫu con người trong xã hội hiện đại
“Tiên học lễ, hậu học văn” từng là một nguyên tắc quen thuộc của giáo dục truyền thống. Trong quá trình đổi mới giáo dục, quan niệm này cũng từng được nhìn nhận, tranh luận từ nhiều góc độ. Tuy nhiên, nếu đặt trong chiều sâu văn hóa, điều cốt lõi không nằm ở việc lựa chọn “lễ” hay “văn”, mà ở sự hài hòa giữa tri thức và nhân cách. Kiến thức có thể giúp một người trở nên giỏi giang, nhưng thiếu trung thực thì khó tạo dựng niềm tin; tài năng có thể mang lại thành công cho cá nhân, nhưng nếu chỉ hướng đến lợi ích riêng thì chưa chắc tạo ra giá trị cho cộng đồng. Vì thế, giáo dục toàn diện không thể chỉ bồi đắp tri thức mà xem nhẹ việc hình thành nhân cách.

Trong xã hội hiện đại, con người Việt Nam cần được chuẩn bị để bước vào một thế giới rộng mở, cạnh tranh và biến đổi nhanh chóng. Đó là khả năng học tập suốt đời, làm chủ công nghệ, giao tiếp trong môi trường đa văn hóa và thích ứng trước những thay đổi của nghề nghiệp. Song hành với những năng lực ấy vẫn phải là các giá trị căn bản như lòng yêu nước, sự trung thực, nhân ái, tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật, tôn trọng pháp luật và cộng đồng. Những giá trị này không phải lực cản trước sự phát triển, mà chính là điểm tựa giúp mỗi người hội nhập mà không mất phương hướng, thích ứng mà vẫn giữ được bản lĩnh và khả năng tự chủ.

Yêu cầu ấy cũng đặt ra một cách nhìn đầy đủ hơn về phát triển nguồn nhân lực. Một quốc gia khó có nguồn nhân lực chất lượng cao nếu quá trình đào tạo chỉ tập trung vào kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp mà xem nhẹ phẩm chất và trách nhiệm xã hội. Người lao động có năng lực không chỉ làm việc hiệu quả mà còn phải biết tôn trọng đồng nghiệp, tuân thủ quy định, bảo vệ lợi ích chung và chịu trách nhiệm về sản phẩm mình tạo ra. Với khoa học, đó là sự trung thực học thuật; với y tế là y đức; với giáo dục là đạo đức nhà giáo; với quản lý là trách nhiệm công vụ. Dù ở lĩnh vực nào, năng lực chuyên môn chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng những chuẩn mực nghề nghiệp và trách nhiệm đối với xã hội.

Từ đó, bài toán giáo dục cũng gắn trực tiếp với việc phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài. Muốn có nhân tài, trước hết cần một nền giáo dục có khả năng nhận diện và nuôi dưỡng năng lực; muốn người tài cống hiến lâu dài, cần một môi trường biết tôn trọng tài năng, khuyến khích sáng tạo và đề cao trách nhiệm. Nếu giáo dục là nơi đặt những nền móng đầu tiên, thì cơ chế phát triển của quốc gia phải mở ra không gian để năng lực được phát huy và chuyển hóa thành giá trị cho xã hội. Vì vậy, đích đến không thể chỉ là đào tạo những người học giỏi, thi tốt hay thành thạo chuyên môn, mà cao hơn là hình thành những con người có khả năng giải quyết các vấn đề của đất nước, đồng thời ý thức rõ tài năng của mình cần được sử dụng vì lợi ích chung.

Giáo dục trước những biến đổi của xã hội và công nghệ
Trí tuệ nhân tạo, Internet và mạng xã hội đang làm thay đổi sâu sắc cách con người tiếp cận, xử lý và sử dụng thông tin. Một học sinh ngày nay có thể tìm thấy lượng kiến thức khổng lồ chỉ với một chiếc điện thoại; nhiều câu hỏi được giải đáp trong vài giây; các công cụ AI đã có thể hỗ trợ viết, dịch, tính toán, lập trình hay phân tích dữ liệu. Những tiến bộ ấy mở ra nhiều cơ hội cho giáo dục, đồng thời đặt ra một vấn đề quan trọng: khi máy móc ngày càng đảm nhận được nhiều công việc, giáo dục cần trang bị cho con người những năng lực gì để không chỉ thích ứng mà còn làm chủ công nghệ?

Câu trả lời không thể đơn giản là cung cấp thêm thật nhiều kiến thức. Khi thông tin ngày càng dễ tiếp cận, điều quan trọng hơn là khả năng tư duy độc lập, đặt câu hỏi, kiểm chứng nguồn tin, phân biệt đúng – sai và chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình. Trong môi trường số, một thông tin được chia sẻ hàng triệu lần chưa chắc đã đúng; một hình ảnh thuyết phục chưa chắc phản ánh đúng bản chất sự việc; một câu trả lời do AI tạo ra cũng không mặc nhiên chính xác. Vì thế, năng lực số phải đi cùng tư duy phản biện, khả năng tự học và nền tảng văn hóa. Công nghệ càng phát triển, con người càng cần bản lĩnh để biết sử dụng nó vào việc gì, trong giới hạn nào và với trách nhiệm ra sao.

Sự thay đổi ấy cũng đặt vai trò của người thầy vào một vị trí mới. Khi tri thức không còn chủ yếu nằm trong sách giáo khoa hay bài giảng trên lớp, người thầy không chỉ truyền đạt kiến thức mà cần hướng dẫn cách học, cách tư duy, cách kiểm chứng và vận dụng tri thức. Thầy không thể và cũng không cần cạnh tranh với máy móc về tốc độ cung cấp thông tin. Giá trị khó thay thế của người thầy nằm ở khả năng khơi gợi tinh thần học hỏi, nhận ra những vướng mắc của học trò, định hướng, uốn nắn và đồng hành trong quá trình trưởng thành. Đôi khi, một lời nhắc đúng lúc, một cách ứng xử chuẩn mực hay một bài học về trách nhiệm có sức ảnh hưởng lâu dài hơn nhiều kiến thức mà người học có thể dễ dàng tìm thấy trên mạng.

Nhà trường vì thế đứng trước yêu cầu kép: chủ động tiếp nhận công nghệ nhưng không để công nghệ dẫn dắt mục tiêu giáo dục. Nghị quyết 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng của phát triển, gắn với yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực có khả năng làm chủ các lĩnh vực mới. Điều đó càng đòi hỏi giáo dục phải theo kịp những chuyển động của thời đại, song đổi mới không đồng nghĩa với từ bỏ các giá trị nền tảng. Công nghệ có thể mở rộng năng lực, giúp con người học nhanh hơn, làm việc hiệu quả hơn và giải quyết những bài toán phức tạp hơn; còn giáo dục và văn hóa phải giúp con người xác định điều gì đáng làm, giới hạn nào cần tôn trọng và những năng lực ấy cuối cùng sẽ được sử dụng vì mục đích nào.

Giữ gìn bản sắc văn hóa trong quá trình hội nhập
Hội nhập quốc tế mở ra cơ hội tiếp cận tri thức, khoa học, công nghệ và những thành tựu văn hóa của nhân loại. Thế hệ trẻ ngày nay có thể học từ nhiều nguồn, giao tiếp với bạn bè quốc tế và tham gia những môi trường học tập, nghề nghiệp vượt ra ngoài biên giới quốc gia. Đó là điều cần thiết đối với một đất nước đang phát triển và muốn nâng cao vị thế. Tuy nhiên, hội nhập chỉ thực sự có ý nghĩa khi mỗi người đủ hiểu biết và bản lĩnh để tiếp nhận cái mới một cách chủ động, có chọn lọc. Học hỏi không phải là sao chép; hiện đại hóa không đồng nghĩa với phủ nhận truyền thống; tiếp thu tinh hoa nhân loại càng không có nghĩa là đánh mất căn cước của chính mình.

Trong quá trình ấy, tiếng Việt giữ một vị trí đặc biệt. Ngoại ngữ mở rộng khả năng giao tiếp, học tập và làm việc với thế giới, còn tiếng mẹ đẻ là nền tảng để mỗi người tư duy, biểu đạt, lưu giữ ký ức và tiếp nối đời sống văn hóa của dân tộc. Một người có thể thành thạo nhiều ngoại ngữ nhưng vẫn cần hiểu sâu và sử dụng tốt tiếng Việt, bởi ngôn ngữ không đơn thuần là phương tiện giao tiếp mà còn chứa đựng lịch sử, lối sống và cách một cộng đồng cảm nhận thế giới. Vì vậy, nâng cao năng lực ngoại ngữ cần song hành với việc giữ gìn sự trong sáng, giàu có và sức sống của tiếng Việt. Đó không phải sự lựa chọn giữa hội nhập và bản sắc, mà là điều kiện để mỗi người bước ra thế giới với một căn cước vững vàng.

Lịch sử và văn học cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo dựng nền tảng ấy. Lịch sử giúp mỗi người hiểu dân tộc mình đã đi qua những chặng đường nào, những thế hệ trước đã lao động, đấu tranh và hy sinh ra sao để bảo vệ độc lập, xây dựng đất nước. Văn học mở ra chiều sâu của đời sống tinh thần, giúp người học cảm nhận tâm hồn, số phận con người và những giá trị nhân văn được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Khi hiểu lịch sử, ngôn ngữ và văn hóa dân tộc, người trẻ sẽ có thêm cơ sở để nhận diện giá trị, tiếp nhận cái mới bằng tư duy độc lập thay vì dễ dàng bị cuốn theo những trào lưu nhất thời.

Giáo dục trong thời kỳ hội nhập, vì thế, không phải để tạo ra những con người khép kín trước thế giới, mà để mỗi người có thể bước ra thế giới với năng lực hội nhập và ý thức rõ mình là ai. Nghị quyết 80-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, lấy nhân cách làm trọng tâm, đồng thời đề cao sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong quá trình hình thành nhân cách, nhất là đối với thế hệ trẻ. Đây là nền tảng để hội nhập mà không hòa tan, tiếp nhận cái mới mà không đoạn tuyệt với truyền thống, hướng tới hiện đại nhưng vẫn giữ được mạch nối với cội nguồn.

Từ giáo dục con người đến sức mạnh quốc gia
Mỗi khoản đầu tư cho giáo dục hôm nay đều hướng tới một giá trị lớn hơn những con số về ngân sách, trường lớp hay cơ sở vật chất. Đó là đầu tư vào con người – nguồn lực có khả năng tạo ra, khai thác và nhân lên nhiều nguồn lực khác. Người được giáo dục tốt có thể trở thành nhà khoa học tạo ra công nghệ mới, người thầy đào tạo thế hệ tiếp theo, bác sĩ chăm sóc sức khỏe nhân dân, kỹ sư xây dựng những công trình cần thiết, doanh nhân tạo việc làm hay cán bộ quản lý tổ chức và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Khi năng lực của hàng triệu cá nhân được khơi dậy và phát huy, giáo dục trở thành một trong những nền tảng tạo nên sức mạnh quốc gia.

Trong giai đoạn khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành những động lực quan trọng của phát triển, yêu cầu đối với nguồn nhân lực càng cao hơn. Các văn bản triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW nhấn mạnh phát triển nhân lực chất lượng cao, đào tạo cho những ngành công nghệ nền tảng và các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, chip bán dẫn, năng lượng mới; đồng thời nâng cao năng lực ngoại ngữ và thúc đẩy học tập suốt đời. Tuy nhiên, nguồn nhân lực chất lượng cao không thể chỉ được hiểu là lực lượng lao động thành thạo công nghệ hay có trình độ chuyên môn tốt. Đất nước cần những con người vừa giỏi nghề, vừa biết hợp tác, có kỷ luật, tinh thần trách nhiệm và khả năng thích ứng trước những biến đổi nhanh chóng của xã hội.

Nguồn lực ấy cũng không thể được hình thành bởi riêng ngành giáo dục. Gia đình là môi trường đầu tiên tạo dựng thói quen, cách ứng xử và những nền móng của nhân cách. Nhà trường trang bị tri thức, phương pháp, đồng thời tạo môi trường để người học rèn luyện. Xã hội là không gian để những điều được học trở thành hành vi và lựa chọn trong đời sống. Nếu nhà trường dạy sự trung thực nhưng ngoài xã hội lại dung túng cho gian dối; nếu thầy cô nói về trách nhiệm nhưng người lớn thiếu tinh thần nêu gương; nếu gia đình đề cao kỷ luật trong khi đời sống xung quanh xem nhẹ kỷ cương, những bài học trên lớp khó tạo được ảnh hưởng bền vững. Giáo dục con người, vì thế, không phải nhiệm vụ riêng của nhà trường mà là trách nhiệm chung của gia đình và toàn xã hội.

Mọi mục tiêu của giáo dục, xét đến cùng, đều hướng về con người. Một đất nước muốn phát triển nhanh cần những người có tri thức và năng lực; muốn phát triển bền vững cần những người có trách nhiệm; muốn hội nhập sâu rộng cần những người có bản lĩnh; muốn tạo dựng sức mạnh lâu dài cần một nền văn hóa đủ sức nuôi dưỡng những giá trị tốt đẹp. Giáo dục và văn hóa vì thế không thể tồn tại như hai lĩnh vực tách biệt. Giáo dục mở mang tri thức và phát triển năng lực; văn hóa bồi đắp hệ giá trị và cách ứng xử; còn con người là chủ thể chuyển hóa những điều đó thành hành động, sáng tạo và cống hiến.

Câu hỏi quan trọng đối với giáo dục vì thế không chỉ là học sinh tiếp thu được bao nhiêu kiến thức, đạt kết quả thi cử ra sao, mà sâu xa hơn là sau quá trình ấy, xã hội muốn hình thành những con người như thế nào. Đó phải là những người có tri thức nhưng không vô cảm; có năng lực cạnh tranh nhưng không chỉ chạy theo lợi ích cá nhân; biết sử dụng công nghệ nhưng không lệ thuộc vào công nghệ; đủ khả năng hội nhập mà vẫn trân trọng tiếng Việt, lịch sử và văn hóa dân tộc; có tài năng đồng thời ý thức được trách nhiệm với cộng đồng và đất nước.

Nghị quyết 71-NQ/TW đặt ra yêu cầu xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam, văn hóa học đường, văn hóa chất lượng, thực học, thực nghiệp. Những định hướng ấy cho thấy nâng cao chất lượng giáo dục không chỉ là câu chuyện đổi mới chương trình, phương pháp hay công nghệ, mà còn là quá trình bồi đắp con người cả về tri thức, nhân cách, bản lĩnh và trách nhiệm. Khi giáo dục tạo ra năng lực, văn hóa định hướng giá trị và xã hội mở ra môi trường để mỗi người cống hiến, sức mạnh của từng cá nhân mới có thể kết nối thành sức mạnh của cộng đồng và trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển lâu dài của đất nước.

Thế Nguyễn – Minh Văn