Thứ Ba, Tháng 8 25, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Kỳ 1: Người Cơ Tu giữ “phên dậu” Tổ quốc từ “lời thề giữ rừng thiêng”

Chuyên đề nhiều kỳ: Giữ biên cương dưới bóng đại ngàn –  nhìn từ chính sách giao, khoán rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số



ĐNA -

Hơn một nửa diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam nằm ở khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, nơi đồng bào dân tộc thiểu số vừa gắn bó với rừng, vừa góp phần gìn giữ phên giậu quốc gia. Trước sức ép của biến đổi khí hậu, khai thác trái phép và những thách thức an ninh mới, chính sách giữ rừng không thể chỉ dừng ở bảo vệ tài nguyên, mà phải tạo sinh kế bền vững, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng. Đã đến lúc chuyển mạnh tư duy, biến chính sách giữ rừng thành động lực để đồng bào sống thịnh vượng dưới “bóng đại ngàn”, qua đó củng cố “thế trận lòng dân” và bảo vệ vững chắc chủ quyền nơi biên cương.

Hình ảnh Già làng A Lăng Phương, người có uy tín tiêu biểu thôn Raê, chụp ảnh cùng vợ (Năm 2025).

“Rừng là Mẹ” – Tín ngưỡng ngàn đời rễ bám đất biên cương
Từ bao đời nay, với người Cơ Tu ở phía Tây Đà Nẵng, rừng là cuộc sống, là nơi sinh ra, lớn lên, dựng làng, lập bản và tìm kế sinh nhai. Bởi thế, “giữ rừng thiêng” không chỉ là một quy ước, mà đã trở thành lời thề được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, như một phần máu thịt của mỗi bản làng. Rừng được gìn giữ bằng những hương ước, luật tục và hệ giá trị cộng đồng bền chặt qua bao đời. Khơi dậy sức mạnh nội sinh từ những luật tục ấy chính là một trong những “chìa khóa” để chính sách bảo vệ rừng đi vào cuộc sống, đồng thời góp phần củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ nơi biên cương.

Với người Cơ Tu, rừng được tôn kính như “Mẹ rừng”, vừa mang dáng vóc của người cha hùng dũng, kiên cường, vừa có sự bao dung, chở che của người mẹ hiền đối với những phận người bé nhỏ. Đã thành thông lệ, cứ mỗi độ xuân về, khi hoa lơ lang, hoa đỗ quyên nở trắng núi rừng, người Cơ Tu lại làm lễ mở cửa rừng. Dưới gốc pơ mu cổ thụ năm, bảy người ôm không xuể, già làng trong trang phục áo vỏ cây, đóng khố, trang trọng dâng lên “Giàng” những lễ vật tinh khiết nhất.

Già làng A Lăng Phương ở thôn Raê, xã Sông Koon, Đà Nẵng, bộc bạch những lời gan ruột: “Bao đời nay, người Cơ Tu mình sống nhờ rừng, dựa vào rừng. Rừng chính là mạch sống của con người. Chúng mình coi rừng như một người mẹ vĩ đại. Có những khu rừng thiêng, dù chưa đến mùa cúng tế, bước chân người Cơ Tu vào đó cũng tự khắc nhẹ đi, không ai dám nói một lời đón gió, chẳng ai dám động đến một nhành cây, ngọn cỏ. Bởi đó là nơi thần linh và tổ tiên ngự trị…”.

Niềm tin mãnh liệt ấy tạo nên một sợi dây ràng buộc vô hình nhưng bền chặt giữa con người với đại ngàn. Tình cảm ấy từng được già làng Briu Pố, một trí thức, nghệ nhân uy tín của người Cơ Tu ở xã Tây Giang gửi gắm trong những câu thơ đầy day dứt:

“Mẹ mất trái đất còn gì
Mẹ mất, mất sạch, huống chi là người
Hãy mau cứu mẹ, người ơi
Để cho trái đất đời đời xanh tươi”

Những câu thơ mộc mạc như một lời cảnh tỉnh về lẽ tồn sinh: mất rừng cũng là mất đi nguồn sống của con người. Với người Cơ Tu, khi một đời người khép lại, Mẹ rừng xanh lại mở rộng vòng tay đón những đứa con của đại ngàn trở về an nghỉ. Từ niềm tin được bồi đắp qua bao thế hệ ấy, tình yêu rừng hòa quyện với tình yêu bản làng, quê hương, xứ sở.

Bởi vậy, bám rừng, giữ núi với đồng bào không chỉ để mưu sinh, mà còn là giữ lấy cội nguồn tâm linh, giữ không gian sinh tồn của cộng đồng và từng tấc đất thiêng cha ông để lại. Từ những bản làng nép mình dưới tán đại ngàn, mỗi người dân gắn bó với rừng cũng góp phần trở thành một “cột mốc sống” kiên trung, bền bỉ cắm rễ nơi biên cương.

“Hương ước xanh” – Những bộ luật tục của người Cơ Tu
Từ tín ngưỡng tôn thờ thiên nhiên, qua bao đời, người Cơ Tu đã đúc kết thành một hệ thống luật tục, hương ước bảo vệ rừng nghiêm ngặt. Đó không chỉ là những quy định bất thành văn điều chỉnh hành vi của mỗi thành viên trong cộng đồng, mà còn là kho tri thức bản địa, một di sản văn hóa được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những luật tục ấy tạo nên sức mạnh cộng đồng, để mỗi người tự biết đâu là giới hạn không thể vượt qua khi ứng xử với rừng.

Trong quan niệm của người Cơ Tu, những gì thuộc về rừng không của riêng một người, mà là tài sản chung của cộng đồng. Bởi vậy, muốn lấy một cành cây, một thân gỗ để làm nhà cũng phải thông qua hội đồng già làng và thực hiện nghi lễ xin phép Thần rừng. Đặc biệt, rừng già, rừng đầu nguồn được xem như những “cấm địa”, nơi con người phải bước vào với tất cả sự thành kính và dè dặt.

Người Cơ Tu không xem mình là chủ nhân có quyền chiếm hữu rừng, mà chỉ “mượn” rừng để sinh tồn. Hết một mùa rẫy, đất lại được trả về cho “Mẹ đại ngàn”. Người dân có thể chờ năm năm, mười năm, một khoảng lặng đủ dài để đất “thở”, đất nghỉ ngơi, hồi sinh rồi mới xin khai mùa vụ mới. Vòng quay ấy tựa như “cái cúi đầu” đầy biết ơn của con người trước sự bao dung của đất mẹ, đồng thời cho thấy cách cộng đồng bản địa tự điều chỉnh việc khai thác, sử dụng tài nguyên rừng qua nhiều thế hệ.

Đi cùng với những quy ước về khai thác và sử dụng rừng là các hình thức xử phạt nghiêm khắc đối với hành vi xâm hại đại ngàn. Luật tục Cơ Tu phân định rạch ròi những điều được làm, không được làm và trách nhiệm phải gánh chịu khi một người phá vỡ quy ước chung. Có một thời, sự nghiêm khắc ấy được người Cơ Tu răn dạy nhau bằng câu “tu – toom – tắc” (tội – đền – đâm). Cùng với lời răn “ăn của rừng, rưng rưng nước mắt”, những quy ước truyền đời trở thành “hàng rào” vô hình ngăn lòng tham, nhắc mỗi người không tùy tiện xâm phạm, “xẻ thịt” đại ngàn.

Chính những “hương ước xanh” được bồi đắp qua nhiều thế hệ đã góp phần giữ cho rừng trở thành tài sản chung, giữ kỷ cương của bản làng và gìn giữ mối quan hệ hài hòa giữa con người với thiên nhiên. Đằng sau mỗi điều cấm, mỗi lời răn không chỉ là nỗi sợ trước hình phạt, mà sâu xa hơn là ý thức cộng đồng: giữ rừng cũng là giữ nguồn sống, giữ bản làng và những giá trị mà cha ông trao lại.

Những vấn đề đặt ra trong công tác bảo vệ rừng và chính sách của Nhà nước về lâm nghiệp.
Thế nhưng, bước ra khỏi ranh giới những bản làng Cơ Tu để nhìn vào bức tranh rộng hơn, không khỏi day dứt trước thực trạng những mảng xanh vẫn đang từng ngày “rỉ máu”. Tại nghị trường Quốc hội, năm 2023, đại biểu Tô Văn Tám (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Kon Tum trước đây) từng dẫn những con số đáng suy ngẫm: dù tỷ lệ che phủ rừng đã đạt 42%, tình trạng rừng bị thiệt hại vẫn tiếp diễn và có nguy cơ gia tăng. Từ năm 2011 đến thời điểm đó, diện tích rừng bị thiệt hại ước hơn 22.800 ha, trong đó hơn 13.000 ha do cháy rừng, phần còn lại chủ yếu do chặt phá trái phép. Nạn phá rừng vì thế vẫn là vấn đề nóng cần được giải quyết triệt để. Đến năm 2025, đại biểu Nguyễn Lân Hiếu (Đoàn Gia Lai) tiếp tục cảnh báo: diện tích rừng tự nhiên vẫn thu hẹp qua từng năm và chưa có dấu hiệu dừng lại.

Nhìn về vùng đồng bào Cơ Tu tại Đà Nẵng, những biến đổi cũng ngày càng hiện hữu. Theo thời gian, sự giao thoa văn hóa với miền xuôi cùng tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường đã làm thay đổi không gian sống và sinh kế truyền thống. Tài nguyên rừng đứng trước sức ép ngày càng lớn, trong đó có tình trạng khai thác bừa bãi từ bên ngoài cộng đồng. Trong khi đó, diện tích rừng được giao cho hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư, bao gồm đồng bào dân tộc thiểu số, vẫn còn khá khiêm tốn.

Hiện diện tích “giao rừng” mới đạt hơn 132.650,20 ha, tương đương khoảng 17,8% tổng diện tích đất có rừng của toàn vùng là 745.027,42 ha. Trong khi đó, hơn 562.882,30 ha rừng tự nhiên được giao cho các chủ rừng là tổ chức như ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ…, chiếm tới 75,5%. Điều đó cho thấy phần lớn những cánh rừng tự nhiên cốt lõi, có giá trị sinh thái cao đang được các tổ chức nhà nước quản lý, kiểm soát và bảo vệ. Một diện tích đáng kể khác vẫn do UBND cấp xã tạm quản lý, với 152.152,74 ha, chiếm gần 20,4%. Chính Đà Nẵng cũng thẳng thắn nhìn nhận hạn chế này trong Nghị quyết 12-NQ/TU khi chỉ rõ: “công tác quy hoạch, giao đất, giao rừng, phân định ranh giới rừng còn chậm”.

Để người dân tham gia giữ rừng, đến nay thành phố Đà Nẵng đã thực hiện giao khoán với tổng diện tích 487.434,84 ha; mức hỗ trợ khoán bảo vệ rừng được nâng lên 600.000 đồng/ha/năm, đồng thời hỗ trợ thêm gạo và cây con giống. Tuy nhiên, thành phố cũng nhìn nhận các chính sách hỗ trợ hiện tại vẫn “chưa đủ mạnh để khuyến khích người dân và doanh nghiệp tham gia phát triển rừng bền vững”.

Khoảng trống ấy càng đáng suy ngẫm khi đặt bên cạnh những luật tục giữ rừng nghiêm ngặt từng ăn sâu vào đời sống người Cơ Tu. Dưới sức ép sinh kế, khó khăn kinh tế và sự biến đổi của không gian sống, niềm tin tâm linh vào “rừng thiêng, rừng ma” cũng đứng trước nguy cơ phai nhạt. Khi những “hàng rào” luật tục không còn đủ sức ràng buộc như trước, trong khi lợi ích kinh tế từ việc giữ rừng chưa đủ để bảo đảm cuộc sống, nguy cơ chặt phá rừng, hủy hoại nguồn nước và suy thoái môi trường càng trở nên hiện hữu.

Hệ lụy không chỉ dừng lại ở những thân cây bị đốn hạ. Rừng mất kéo theo nguồn nước suy kiệt, đất đai suy thoái, nguy cơ lũ quét, sạt lở gia tăng, môi trường sinh thái và đời sống của cộng đồng cũng bị đe dọa. Với những cộng đồng bao đời sống dựa vào đại ngàn như người Cơ Tu, khi rừng bị tổn thương, không gian sinh tồn, sinh kế và những giá trị văn hóa, tâm linh gắn với rừng cũng đứng trước nguy cơ mai một.

Từ những thực trạng bức bối trên, đẩy mạnh chính sách giao, khoán rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Đó không chỉ là cách khơi dậy sức mạnh giữ rừng từ tri thức bản địa, luật tục được trao truyền qua nhiều thế hệ, mà quan trọng hơn, còn tạo sinh kế bền vững để người dân có thể sống được, từng bước sống tốt từ rừng, không gian sinh tồn đã gắn bó với đồng bào từ ngàn đời.

Đã đến lúc cần có những bước đi quyết liệt hơn, trao quyền thực chất hơn cho cộng đồng trong quản lý, bảo vệ và hưởng lợi từ rừng. Khi người dân thực sự được làm chủ, khi trách nhiệm giữ rừng gắn liền với quyền lợi và sinh kế, những luật tục, tri thức bản địa mới có thêm điều kiện để phát huy sức mạnh trong đời sống hiện đại. Giao, khoán rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số vì thế không đơn thuần là một chính sách lâm nghiệp, mà còn là giải pháp căn cơ để tạo động lực giữ rừng, hạn chế nạn phá rừng, biến những cánh rừng thành nguồn sinh kế bền vững; qua đó gắn chặt người dân với đất, với rừng, củng cố “thế trận lòng dân” và góp phần bảo vệ vững chắc an ninh, chủ quyền nơi biên viễn.

Nguyễn Thị Minh Hạnh – Lê Công Hùng/Trường Chính trị TP Đà Nẵng – Sở Nông nghiệp và Môi trường.