Thứ Sáu, Tháng 8 28, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Đổi mới tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp



ĐNA -

Thẩm phán là chủ thể trực tiếp thực hiện quyền tư pháp, giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Trước yêu cầu xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng và nghiêm minh, việc hoàn thiện tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán không chỉ nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ mà còn góp phần củng cố tính độc lập, trách nhiệm và hiệu quả của hoạt động xét xử. Đây là vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện cả về quy định pháp luật và cơ chế thực hiện trong thực tiễn.

Đổi mới tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.

Những yêu cầu pháp lý đối với việc bổ nhiệm Thẩm phán hiện nay
Thẩm phán là người trực tiếp thực hiện quyền xét xử, nhân danh Nhà nước đưa ra phán quyết đối với các vụ án, vụ việc và bảo vệ công lý, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Vì vậy, chất lượng đội ngũ Thẩm phán có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả hoạt động của Tòa án và niềm tin của xã hội vào công lý. Pháp luật hiện hành đã xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm theo hướng đề cao phẩm chất, trình độ, kinh nghiệm và năng lực xét xử. Cùng với đó, việc xác lập 03 bậc Thẩm phán gồm bậc 1, bậc 2 và bậc 3 tạo cơ sở xác định yêu cầu nghề nghiệp phù hợp với từng mức độ trách nhiệm và phạm vi xét xử.

Thứ nhất, bảo đảm phẩm chất chính trị, đạo đức và bản lĩnh nghề nghiệp. Phẩm chất chính trị, đạo đức và bản lĩnh nghề nghiệp là nền tảng của chức danh Thẩm phán. Điều 94 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân quy định người được bổ nhiệm Thẩm phán phải là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp, có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, liêm khiết, trung thực và dũng cảm bảo vệ công lý. Các yêu cầu này xuất phát từ đặc thù của hoạt động xét xử, bởi mỗi phán quyết của Thẩm phán đều có tác động trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.

Yêu cầu về liêm khiết, trung thực và dũng cảm bảo vệ công lý cần được xem là chuẩn mực cốt lõi của nghề Thẩm phán. Người thực hiện quyền xét xử phải có khả năng giữ vững sự khách quan, không để lợi ích cá nhân hoặc tác động bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Phẩm chất đạo đức vì thế gắn trực tiếp với chất lượng phán quyết, tính nghiêm minh của hoạt động xét xử và uy tín của Tòa án. Việc pháp luật xác định rõ các tiêu chuẩn này cũng tạo cơ sở để lựa chọn những người có đủ bản lĩnh đảm nhiệm một chức danh gắn với quyền lực tư pháp.

Thứ hai, bảo đảm trình độ pháp lý và năng lực chuyên môn. Trình độ pháp lý là điều kiện thiết yếu để Thẩm phán thực hiện đúng chức năng xét xử. Người được bổ nhiệm phải có bằng cử nhân luật trở lên, đáp ứng yêu cầu đào tạo nghiệp vụ xét xử và các điều kiện chuyên môn theo quy định của pháp luật. Yêu cầu này bảo đảm người được trao quyền xét xử có nền tảng kiến thức pháp luật cần thiết để xác định quan hệ pháp luật, đánh giá chứng cứ và áp dụng quy định pháp luật vào từng vụ án, vụ việc.

Năng lực chuyên môn của Thẩm phán còn được thể hiện qua khả năng vận dụng pháp luật vào những tình huống cụ thể. Hoạt động xét xử đòi hỏi người Thẩm phán phải có kỹ năng phân tích hồ sơ, đánh giá chứng cứ, điều hành tranh tụng, nhận diện vấn đề pháp lý và xây dựng phán quyết có căn cứ. Nghị quyết số 67/2025/UBTVQH15 xác định điều kiện của từng bậc Thẩm phán gắn với năng lực xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án. Cách xác định này đặt năng lực thực hiện nhiệm vụ ở vị trí quan trọng, giúp quá trình tuyển chọn và bổ nhiệm hướng tới chất lượng thực chất của người Thẩm phán.

Thứ ba, yêu cầu về kinh nghiệm công tác pháp luật và năng lực thực tiễn. Kinh nghiệm công tác pháp luật là một trong những căn cứ quan trọng để bảo đảm người được bổ nhiệm có sự chuẩn bị cần thiết trước khi thực hiện quyền xét xử. Pháp luật hiện hành quy định cụ thể thời gian làm công tác pháp luật đối với từng trường hợp bổ nhiệm, đồng thời đặt ra yêu cầu về đào tạo nghiệp vụ và thi tuyển, tuyển chọn Thẩm phán theo quy định.

Đối với Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, yêu cầu về kinh nghiệm được đặt ở mức cao: người được xem xét bổ nhiệm phải từ đủ 45 tuổi, có ít nhất 20 năm công tác tại Tòa án, trong đó có ít nhất 10 năm làm Thẩm phán, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định. Yêu cầu này bảo đảm người giữ chức danh Thẩm phán ở cấp cao nhất có quá trình tích lũy chuyên môn và thực tiễn xét xử đủ sâu để giải quyết những vấn đề pháp lý phức tạp.

Kinh nghiệm nghề nghiệp cần được đánh giá gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ. Số năm công tác chỉ phản ánh quá trình tích lũy về thời gian; chất lượng bản án, khả năng xử lý vụ án phức tạp, kỹ năng điều hành phiên tòa và việc tuân thủ chuẩn mực nghề nghiệp mới phản ánh đầy đủ năng lực thực tế của Thẩm phán. Đây là cơ sở để việc bổ nhiệm hướng tới lựa chọn người có năng lực thực chất, uy tín nghề nghiệp và khả năng đáp ứng yêu cầu xét xử.

Thứ tư, gắn tiêu chuẩn bổ nhiệm với cơ cấu và yêu cầu của từng bậc Thẩm phán. Pháp luật hiện hành xác lập 03 bậc Thẩm phán nhằm tạo cơ sở phân định yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm và phạm vi thực hiện nhiệm vụ. Cơ chế này được đặt cùng với quy định về số lượng, cơ cấu Thẩm phán tại các cấp Tòa án. Theo Nghị quyết số 82/2025/UBTVQH15, số lượng Thẩm phán được xác định là 875 người tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh và 5.999 người tại Tòa án nhân dân khu vực, tổng cộng 6.874 Thẩm phán tại hai cấp Tòa án này.

Việc xác định số lượng và cơ cấu theo từng bậc giúp gắn chức danh Thẩm phán với yêu cầu thực tế của từng vị trí xét xử. Thẩm phán không chỉ cần đáp ứng điều kiện để được bổ nhiệm mà còn phải duy trì năng lực nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu của chức danh. Cơ chế này tạo nền tảng cho việc đánh giá, nâng bậc và phát triển nghề nghiệp dựa trên năng lực, kinh nghiệm và kết quả công tác.

Tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm vì thế cần được vận hành như một cơ chế sàng lọc chất lượng đội ngũ, bảo đảm người được trao quyền xét xử hội tụ đầy đủ phẩm chất đạo đức, trình độ pháp lý, kinh nghiệm thực tiễn và bản lĩnh nghề nghiệp. Đây cũng là tiền đề để xây dựng đội ngũ Thẩm phán chuyên nghiệp, liêm chính, độc lập và đủ năng lực đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.

Những vấn đề đặt ra về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán trong cải cách tư pháp.
Tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán là khâu đầu tiên bảo đảm chất lượng của chủ thể thực hiện quyền tư pháp. Pháp luật hiện hành đã quy định khá rõ về phẩm chất đạo đức, trình độ pháp luật, thời gian công tác, đào tạo nghiệp vụ và năng lực xét xử; đồng thời, quy trình bổ nhiệm hiện được đặt dưới yêu cầu công khai, minh bạch, khách quan, công bằng.¹ Thông tư số 02/2026/TT-TANDTC còn yêu cầu người được đề nghị bổ nhiệm lần đầu phải có kết quả đánh giá, xếp loại công chức 03 năm liền kề đạt từ “hoàn thành tốt nhiệm vụ” trở lên và không đang trong thời gian chấp hành hoặc xem xét xử lý kỷ luật.² Những quy định này tạo nền tảng cần thiết cho việc sàng lọc nhân sự tư pháp. Song, yêu cầu của cải cách tư pháp hiện nay đòi hỏi cơ chế lựa chọn phải đi sâu hơn vào năng lực xét xử thực tế, chất lượng kinh nghiệm, đạo đức nghề nghiệp và khả năng bảo đảm công lý.

Thứ nhất, tiêu chí đánh giá năng lực xét xử cần phản ánh năng lực thực chất. Năng lực xét xử là tiêu chí trung tâm khi lựa chọn Thẩm phán. Pháp luật hiện hành yêu cầu người được bổ nhiệm phải có khả năng xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án. Xét về bản chất, năng lực này được hình thành từ nhiều yếu tố: kiến thức pháp luật, tư duy pháp lý, kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ, điều hành tranh tụng và xây dựng lập luận cho phán quyết.

Vấn đề đặt ra là những năng lực trên không thể được phản ánh đầy đủ chỉ bằng bằng cấp hoặc kết quả của một kỳ thi. Một ứng viên có thể nắm vững quy định pháp luật nhưng gặp khó khăn khi phải xử lý một hồ sơ có hàng trăm tài liệu, nhiều người tham gia tố tụng hoặc các quan hệ pháp luật đan xen. Ngược lại, người có khả năng phân tích hồ sơ tốt phải chứng minh được năng lực chuyển hóa chứng cứ thành lập luận pháp lý và đưa ra quyết định có căn cứ.

Thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tối cao thường xuyên phát sinh các vấn đề cần hướng dẫn thống nhất. Ngày 01/4/2026, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức hội nghị trực tuyến để giải đáp những khó khăn, vướng mắc trong giải quyết án hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự và tư pháp người chưa thành niên; kết quả được Tòa án nhân dân tối cao thông báo tại Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 09/5/2026. Những vấn đề này cho thấy năng lực của Thẩm phán phải vượt ra ngoài việc nắm quy định riêng lẻ, hướng tới khả năng nhận diện vấn đề pháp lý, vận dụng pháp luật thống nhất và xử lý tình huống chưa có câu trả lời đơn giản.

Cơ chế tuyển chọn vì thế cần tăng tỷ trọng đánh giá tình huống thực tiễn: nghiên cứu hồ sơ, xác định vấn đề pháp lý, nhận diện chứng cứ có giá trị, xử lý vi phạm tố tụng và xây dựng dự thảo lập luận. Đây là căn cứ thiết thực để phân biệt người có kiến thức pháp luật với người có tư duy và kỹ năng xét xử.

Thứ hai, đạo đức nghề nghiệp cần được kiểm chứng xuyên suốt quá trình công tác. Thẩm phán được pháp luật yêu cầu phải có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực và dũng cảm bảo vệ công lý. Đây không phải những phẩm chất mang tính bổ trợ mà là điều kiện gắn trực tiếp với tính chính trực của hoạt động xét xử. Khi một phán quyết có thể ảnh hưởng đến tài sản, danh dự, quyền tự do hoặc quyền lợi của một cá nhân, sự khách quan và liêm chính của người ra phán quyết trở thành yêu cầu không thể thay thế.

Điểm cần hoàn thiện nằm ở phương thức kiểm chứng các phẩm chất này. Hồ sơ nhân sự có thể phản ánh quá trình công tác, nhưng khó phản ánh đầy đủ cách Thẩm phán ứng xử trước những tình huống nghề nghiệp nhạy cảm. Chẳng hạn, trong quá trình xét xử, việc Thẩm phán tạo điều kiện bình đẳng cho các bên trình bày chứng cứ, không định kiến trước khi xem xét toàn bộ hồ sơ, xử lý nghiêm hành vi cản trở tố tụng nhưng vẫn bảo đảm quyền của người tham gia tố tụng là những biểu hiện cụ thể của đạo đức tư pháp.

Thông tư số 02/2026/TT-TANDTC đã đặt kết quả đánh giá công chức trong 03 năm liên tục vào điều kiện thực hiện thủ tục đề nghị bổ nhiệm lần đầu. Cách tiếp cận này có giá trị ở chỗ phẩm chất và hiệu quả công tác được xem xét qua một quá trình, thay vì chỉ tại thời điểm lập hồ sơ. Cần tiếp tục khai thác các dữ liệu về kỷ luật, chất lượng giải quyết án, việc tuân thủ quy tắc ứng xử và tinh thần trách nhiệm để việc đánh giá đạo đức nghề nghiệp có cơ sở khách quan hơn.

Thứ ba, kinh nghiệm công tác cần được xem xét theo chất lượng thay vì chỉ dựa vào thời gian. Pháp luật hiện hành đặt ra yêu cầu về thời gian làm công tác pháp luật trước khi bổ nhiệm Thẩm phán, đồng thời quy định những điều kiện cao hơn đối với các chức danh ở cấp độ trách nhiệm lớn hơn. Cách quy định theo thời gian tạo ra ngưỡng kinh nghiệm cần thiết, song số năm công tác chưa thể phản ánh toàn bộ năng lực nghề nghiệp.

Một Thẩm phán có kinh nghiệm giải quyết nhiều vụ án hình sự nghiêm trọng sẽ tích lũy những kỹ năng khác với người chủ yếu giải quyết tranh chấp dân sự đơn giản. Tương tự, kinh nghiệm xử lý tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài, sở hữu trí tuệ hoặc chứng cứ điện tử đòi hỏi khả năng nghiên cứu chuyên sâu và tiếp cận nguồn pháp luật đa dạng. Giá trị của kinh nghiệm vì thế cần được đánh giá qua tính chất vụ án, mức độ phức tạp, chất lượng giải quyết và khả năng xử lý vấn đề pháp lý mới.

Việc đánh giá kinh nghiệm cần được đặt trên cơ sở chất lượng thực hiện nhiệm vụ, thể hiện qua kết quả giải quyết án, tỷ lệ bản án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan, việc tuân thủ thời hạn tố tụng, chất lượng lập luận và khả năng xử lý các vụ án phức tạp. Cách tiếp cận này bảo đảm kinh nghiệm được đánh giá bằng năng lực nghề nghiệp thực tế, thay vì chỉ dựa vào thời gian công tác.

Thứ tư, cơ chế tuyển chọn cần nâng cao khả năng sàng lọc và trách nhiệm của chủ thể đánh giá. Việc pháp luật hiện hành tổ chức Thẩm phán theo 03 bậc đặt ra yêu cầu tương ứng về năng lực và kinh nghiệm đối với từng vị trí. Cùng với đó, Thông tư số 01/2025/TT-TANDTC đã thiết lập quy định riêng về thi tuyển chọn Thẩm phán Tòa án nhân dân. Đây là những cơ sở quan trọng để quá trình tuyển chọn được thực hiện theo hướng chuyên nghiệp hóa.

Một cơ chế tuyển chọn hiệu quả cần kết hợp nhiều nguồn thông tin thay vì phụ thuộc vào một kết quả duy nhất. Kỳ thi có thể đánh giá kiến thức và tư duy pháp lý; hồ sơ công tác phản ánh quá trình nghề nghiệp; kết quả giải quyết án cho thấy năng lực thực tế; đánh giá của tập thể và người có thẩm quyền cung cấp thêm thông tin về phẩm chất, thái độ và trách nhiệm nghề nghiệp.

Thông tư số 02/2026/TT-TANDTC đã quy định Thủ trưởng đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án cấp tỉnh chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá tiêu chuẩn, điều kiện của người được đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại hoặc xét nâng bậc. Quy định này có ý nghĩa quan trọng bởi nó gắn quyền đánh giá với trách nhiệm cá nhân của người đề xuất. Cơ chế trách nhiệm càng rõ, yêu cầu đánh giá càng phải dựa trên căn cứ cụ thể, hạn chế nhận xét chung chung hoặc hình thức.

Cải cách tư pháp cần hướng đến một quy trình tuyển chọn trong đó tiêu chuẩn được xác định rõ, năng lực được kiểm chứng bằng thực tiễn, đạo đức được đánh giá qua quá trình và trách nhiệm của người đề xuất được xác lập cụ thể. Khi những yếu tố này được kết nối, việc bổ nhiệm Thẩm phán sẽ trở thành một cơ chế lựa chọn nhân sự thực chất, góp phần bảo đảm chất lượng phán quyết và củng cố niềm tin vào hoạt động tư pháp.

Định hướng đổi mới tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán trong giai đoạn hiện nay.
Chất lượng xét xử phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của người được trao quyền xét xử. Bởi vậy, hoàn thiện tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán cần hướng vào những tiêu chí phản ánh đúng năng lực nghề nghiệp và phẩm chất của người làm công tác xét xử, thay vì bổ sung thêm các yêu cầu mang tính hình thức. Cách tiếp cận phù hợp là lấy năng lực, phẩm chất và kết quả công tác làm căn cứ chủ yếu, bảo đảm người được bổ nhiệm có khả năng giải quyết vụ án độc lập, khách quan và đúng pháp luật. Trên cơ sở đó, cần tập trung vào bốn định hướng sau:

Thứ nhất, cụ thể hóa tiêu chuẩn năng lực xét xử gắn với công việc thực tế. Tiêu chí “có năng lực xét xử” cần được cụ thể hóa bằng những yêu cầu mà Thẩm phán phải thực hiện hằng ngày, gồm nghiên cứu hồ sơ, xác định đúng quan hệ pháp luật, đánh giá chứng cứ, điều hành tranh tụng và lập luận trong bản án. Đây phải là căn cứ quan trọng khi tuyển chọn, thay vì chỉ dựa vào trình độ đào tạo và thời gian công tác.

Nội dung thi tuyển nên tăng các tình huống gần với thực tiễn xét xử. Ứng viên được giao hồ sơ có tình tiết phức tạp, chứng cứ mâu thuẫn hoặc có vấn đề về tố tụng, sau đó phải xác định vấn đề pháp lý và đưa ra hướng giải quyết. Cách làm này giúp đánh giá được khả năng vận dụng pháp luật và tư duy xét xử của từng người.

Thứ hai, nâng cao tính thực chất của tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp. Đạo đức của Thẩm phán cần được đánh giá qua quá trình công tác và cách thức thực hiện nhiệm vụ. Hồ sơ bổ nhiệm cần thể hiện rõ kết quả đánh giá hằng năm, việc chấp hành kỷ luật, quy tắc ứng xử, trách nhiệm trong giải quyết án và những vấn đề liên quan đến tính khách quan của người được đề nghị.

Đối với trường hợp có quan hệ lợi ích hoặc quan hệ cá nhân có khả năng ảnh hưởng đến việc xét xử, cần kiểm tra và xử lý ngay từ khâu xem xét bổ nhiệm. Một người có chuyên môn tốt nhưng thiếu sự liêm chính không thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu của chức danh Thẩm phán. Sự độc lập trong xét xử trước hết phải bắt đầu từ sự liêm chính của người xét xử.

Thứ ba, chuyển từ đánh giá thâm niên sang đánh giá chất lượng kinh nghiệm. Thời gian làm công tác pháp luật là điều kiện cần, nhưng không nên được xem là căn cứ duy nhất để xác định mức độ phù hợp với chức danh Thẩm phán. Khi xét bổ nhiệm, cần xem xét người đó đã trực tiếp giải quyết những loại vụ án nào, mức độ phức tạp ra sao, kết quả công tác thế nào và khả năng xử lý những vấn đề pháp lý mới.

Chẳng hạn, kinh nghiệm giải quyết tranh chấp đất đai phức tạp có giá trị khác với kinh nghiệm xử lý những vụ việc đơn giản; kinh nghiệm xét xử án kinh doanh, thương mại cũng đòi hỏi kiến thức chuyên sâu về hợp đồng, doanh nghiệp, tài chính và chứng cứ điện tử. Đánh giá chất lượng và mức độ phù hợp của kinh nghiệm sẽ giúp lựa chọn Thẩm phán sát với yêu cầu của từng vị trí.

Thứ tư, đưa kết quả xét xử vào cơ chế đánh giá sau bổ nhiệm. Việc bổ nhiệm cần gắn với cơ chế đánh giá thường xuyên để kiểm chứng năng lực trong thực tế. Những chỉ tiêu như chất lượng bản án, tỷ lệ án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan, việc bảo đảm thời hạn giải quyết và kết quả xử lý các vụ án phức tạp cần được xem xét khi đánh giá Thẩm phán.

Việc sử dụng tỷ lệ án hủy, sửa phải dựa trên nguyên nhân cụ thể, không thể coi mọi bản án bị sửa, hủy đều là biểu hiện yếu kém của Thẩm phán. Cần phân biệt sai sót do lỗi chủ quan với những thay đổi trong nhận định của cấp xét xử hoặc nguyên nhân khách quan khác. Kết quả đánh giá cần được sử dụng khi bổ nhiệm lại, nâng bậc và xem xét trách nhiệm nghề nghiệp. Chức danh Thẩm phán phải đi liền với trách nhiệm duy trì chất lượng xét xử trong suốt thời gian đảm nhiệm.

Hoàn thiện tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán cần tập trung vào việc xây dựng các tiêu chí có thể kiểm chứng bằng năng lực, phẩm chất và kết quả công tác. Năng lực xét xử phải được đánh giá qua thực tiễn; đạo đức, bản lĩnh và sự liêm chính phải được kiểm chứng trong suốt quá trình công tác; kinh nghiệm cần được xem xét về chất lượng thay vì chỉ dựa vào thâm niên. Đồng thời, việc bổ nhiệm phải gắn với cơ chế đánh giá thường xuyên sau bổ nhiệm nhằm bảo đảm Thẩm phán duy trì năng lực và trách nhiệm nghề nghiệp. Đây là cơ sở để lựa chọn đúng người, đáp ứng yêu cầu của từng vị trí, qua đó xây dựng đội ngũ Thẩm phán chuyên nghiệp, độc lập, liêm chính và nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp.

Nguyễn Anh Tuấn/Thẩm phán Toà án nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị

Tài liệu tham khảo
1. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội.
2. Quốc hội (2024), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15 ngày 24/6/2024, Hà Nội.
3. Quốc hội (2025), Luật số 81/2025/QH15 ngày 24/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Hà Nội.
4. Tòa án nhân dân tối cao (2025), Thông tư số 01/2025/TT-TANDTC ngày 30/5/2025 quy định thi tuyển chọn Thẩm phán Tòa án nhân dân, Hà Nội.
5. Tòa án nhân dân tối cao (2026), Thông tư số 02/2026/TT-TANDTC ngày 13/01/2026 quy định về thủ tục, hồ sơ đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, xét nâng bậc, điều động, biệt phái, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân, Hà Nội.
6. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025), Nghị quyết số 67/2025/UBTVQH15 ngày 06/02/2025 quy định về bậc, điều kiện của từng bậc, việc nâng bậc và số lượng, cơ cấu tỷ lệ các bậc Thẩm phán Tòa án nhân dân, Hà Nội.
7. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025), Nghị quyết số 82/2025/UBTVQH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 67/2025/UBTVQH15, Hà Nội.