Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng cũ đang bộc lộ nhiều giới hạn và tình hình địa chính trị thế giới biến động sâu sắc, bài viết làm rõ cách thức “bộ tứ nghị quyết” tương tác hữu cơ để giải quyết đồng thời bốn bài toán cốt lõi của quốc gia: Động lực phát triển (công nghệ), không gian phát triển (hội nhập), nền tảng phát triển (thể chế pháp luật) và chủ thể phát triển (kinh tế tư nhân). Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và tư duy hệ thống từ các văn kiện mới nhất, nghiên cứu chỉ ra rằng sự cộng hưởng của bộ tứ này tạo thành một “cỗ xe tăng trưởng” hoàn chỉnh, là bệ phóng chiến lược đưa đất nước vững bước vào giai đoạn mới, hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.

Đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt, hướng tới khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nước. Quá trình chuyển đổi chiến lược này diễn ra trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động sâu sắc về địa chính trị, địa kinh tế, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, cùng những thách thức ngày càng lớn về biến đổi khí hậu và an ninh phi truyền thống.
Sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, song vẫn đối mặt với những thách thức nội tại: tăng trưởng có dấu hiệu chậm lại; sản lượng thực tế thấp hơn mức tiềm năng; năng suất lao động và năng lực đổi mới sáng tạo còn hạn chế; chất lượng tăng trưởng chưa thực sự bền vững; nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình cao vẫn hiện hữu. Mặc dù môi trường kinh doanh từng bước được cải thiện, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn chưa hoàn thiện, còn tồn tại nhiều rào cản đối với phát triển.
Nhằm tạo động lực đột phá, Bộ Chính trị đã ban hành liên tiếp bốn nghị quyết đặc biệt quan trọng, gồm: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024, Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 và Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung phân tích nội hàm của từng nghị quyết, làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa các nghị quyết và đề xuất lộ trình thực thi gắn với các kế hoạch hành động của Đảng và Nhà nước.
Phân tích nội hàm và mục tiêu cốt lõi của “bộ tứ nghị quyết”.
Nghị quyết số 57-NQ/TW: Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số – động lực đột phá.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, tạo động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại.
Mục tiêu chiến lược: Đến năm 2030, kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP và đến năm 2045 đạt tối thiểu 50% GDP; đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%. Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm ba nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số.
Nguồn lực cho nghiên cứu và phát triển: Nghị quyết đặt mục tiêu kinh phí chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt 2% GDP, trong đó nguồn lực xã hội chiếm hơn 60%; đồng thời bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Đổi mới tư duy và cơ chế: Một điểm đột phá là áp dụng tư duy mở, cho phép thí điểm cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn; chấp nhận rủi ro, đầu tư mạo hiểm và độ trễ trong nghiên cứu khoa học; đồng thời có cơ chế miễn trừ trách nhiệm trong trường hợp thử nghiệm công nghệ mới phát sinh thiệt hại do nguyên nhân khách quan.
Nghị quyết số 59-NQ/TW: Chủ động, tích cực và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế.
Tiếp nối quá trình thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW, Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 đánh dấu bước chuyển về tư duy hội nhập quốc tế theo hướng chủ động, tích cực, toàn diện, sâu rộng và hiệu quả hơn.
Đổi mới tư duy hội nhập: Hội nhập quốc tế lấy địa phương, doanh nghiệp và người dân làm trung tâm, chủ thể và động lực. Việt Nam chủ động nâng cao vai trò, đóng góp vào các vấn đề khu vực và quốc tế phù hợp với năng lực, điều kiện và lợi ích quốc gia – dân tộc.
Gắn hội nhập với bảo vệ văn hóa và an ninh: Hội nhập về văn hóa phải đi đôi với giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc và chủ động ngăn chặn sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại. Hội nhập trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh phải góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc, chủ động phòng ngừa các nguy cơ và hành vi lợi dụng hội nhập để gây mất ổn định, chống phá đất nước.
Hội nhập kinh tế là trọng tâm: Nghị quyết chú trọng thu hút FDI chất lượng cao từ các tập đoàn hàng đầu thế giới, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, bán dẫn và trí tuệ nhân tạo; đồng thời tăng cường liên kết và chuyển giao công nghệ giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước. Việt Nam cũng chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết để gia nhập Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) vào thời điểm phù hợp.
Nghị quyết số 66-NQ/TW: Đổi mới căn bản tư duy xây dựng và thi hành pháp luật.
Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 xác định công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước.
Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật: Nghị quyết yêu cầu dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”, chuyển mạnh từ quản lý sang kiến tạo phát triển. Đối với các vấn đề mang tính kiến tạo, luật chủ yếu quy định những vấn đề khung và nguyên tắc; những nội dung thường xuyên biến động trong thực tiễn được giao Chính phủ, bộ, ngành và địa phương quy định nhằm bảo đảm tính linh hoạt, kịp thời.
Mục tiêu cụ thể: Đến năm 2027, cơ bản hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các văn bản pháp luật nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt động của bộ máy nhà nước theo mô hình mới, gắn với phân cấp, phân quyền mạnh mẽ. Đến năm 2028, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh, góp phần đưa môi trường đầu tư của Việt Nam vào nhóm ba nước dẫn đầu ASEAN.
Tăng nguồn lực cho xây dựng thể chế: Nghị quyết yêu cầu bảo đảm kinh phí cho công tác xây dựng pháp luật không thấp hơn 0,5% tổng chi ngân sách hằng năm; đồng thời có cơ chế hỗ trợ đối với đội ngũ trực tiếp làm công tác nghiên cứu chiến lược, chính sách và xây dựng pháp luật.
Nghị quyết số 68-NQ/TW: Kinh tế tư nhân – một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy về vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế quốc gia.
Mục tiêu định lượng: Đến năm 2030, phấn đấu có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động, tương đương khoảng 20 doanh nghiệp trên 1.000 dân; khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 55–58% GDP và tạo việc làm cho khoảng 84–85% lực lượng lao động. Phấn đấu có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Đến năm 2045, Việt Nam hướng tới có ít nhất 3 triệu doanh nghiệp, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp trên 60% GDP.
Xóa bỏ rào cản, kiến tạo môi trường phát triển: Nghị quyết yêu cầu xóa bỏ định kiến đối với kinh tế tư nhân, cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh và chi phí tuân thủ; đồng thời khắc phục tình trạng thanh tra, kiểm tra chồng chéo, tạo môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và thuận lợi hơn cho doanh nghiệp.
Bảo vệ doanh nhân và quyền tài sản: Nghị quyết nhấn mạnh nguyên tắc không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự; ưu tiên áp dụng các biện pháp dân sự, kinh tế và hành chính để doanh nghiệp, doanh nhân chủ động khắc phục sai phạm; bảo đảm quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật. Đồng thời, thúc đẩy các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vươn ra thị trường quốc tế và nâng cao năng lực quản trị, trong đó có chương trình đào tạo 10.000 giám đốc điều hành.
Nhìn tổng thể, bốn nghị quyết không tồn tại độc lập mà tạo thành một chỉnh thể chiến lược: Nghị quyết 57-NQ/TW tạo động lực phát triển thông qua khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết 59-NQ/TW mở rộng không gian phát triển thông qua hội nhập quốc tế; Nghị quyết 66-NQ/TW kiến tạo nền tảng thể chế bằng đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; Nghị quyết 68-NQ/TW phát huy chủ thể phát triển là khu vực kinh tế tư nhân. Sự kết hợp giữa động lực, không gian, thể chế và chủ thể phát triển tạo nên nền tảng có tính hệ thống cho mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn mới.
Phân tích tính biện chứng trong hệ sinh thái “bộ tứ nghị quyết”.
Bốn nghị quyết của Bộ Chính trị tạo thành một chỉnh thể thống nhất về tư duy và hành động chiến lược, trong đó mỗi nghị quyết đảm nhiệm một chức năng riêng nhưng đồng thời bổ trợ, thúc đẩy và tạo điều kiện cho các nghị quyết còn lại. Hiệu quả của từng nghị quyết vì vậy không chỉ phụ thuộc vào quá trình triển khai riêng lẻ mà còn gắn với sự vận hành đồng bộ của toàn bộ hệ thống. Tính biện chứng và cộng hưởng của “bộ tứ nghị quyết” được thể hiện trên các phương diện chủ yếu sau:
Thể chế (Nghị quyết 66-NQ/TW) tạo nền tảng, kinh tế tư nhân (Nghị quyết 68-NQ/TW) phát huy vai trò chủ thể.
Mối quan hệ giữa Nghị quyết 66-NQ/TW và Nghị quyết 68-NQ/TW thể hiện rõ sự tương tác giữa thể chế phát triển và chủ thể phát triển. Một hệ thống pháp luật minh bạch, ổn định, bảo đảm quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh là điều kiện quan trọng để khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Ngược lại, sự lớn mạnh của khu vực tư nhân đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện chất lượng quản trị và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.
Theo đó, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật theo tinh thần Nghị quyết 66-NQ/TW góp phần giảm chi phí tuân thủ, hạn chế nhũng nhiễu, tăng tính dự báo của môi trường kinh doanh và củng cố niềm tin của doanh nghiệp. Đây là nền tảng để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân theo Nghị quyết 68-NQ/TW. Đồng thời, thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp cũng là cơ sở để nhận diện những điểm nghẽn, bất cập và thúc đẩy quá trình hoàn thiện pháp luật. Như vậy, thể chế và kinh tế tư nhân hình thành mối quan hệ hai chiều: thể chế kiến tạo không gian phát triển cho doanh nghiệp, còn thực tiễn phát triển của doanh nghiệp thúc đẩy thể chế tiếp tục đổi mới.
Công nghệ (Nghị quyết 57-NQ/TW) tạo động lực, hội nhập (Nghị quyết 59-NQ/TW) mở rộng không gian và thị trường.
Nghị quyết 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực đột phá của phát triển. Tuy nhiên, việc phát triển các ngành công nghệ chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và công nghệ số đòi hỏi nguồn vốn lớn, nhân lực chất lượng cao, tri thức tiên tiến và khả năng tiếp cận thị trường toàn cầu. Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế tạo điều kiện mở rộng không gian để huy động và kết nối các nguồn lực này.
Hội nhập sâu rộng giúp Việt Nam thu hút FDI chất lượng cao, tăng cường hợp tác nghiên cứu và phát triển (R&D), tiếp cận công nghệ tiên tiến và thúc đẩy liên kết, chuyển giao công nghệ giữa doanh nghiệp nước ngoài với doanh nghiệp trong nước. Qua đó, hội nhập trở thành một trong những kênh quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Ở chiều ngược lại, năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được nâng cao sẽ cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, giúp doanh nghiệp Việt Nam từng bước tham gia vào những khâu có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Vì vậy, hội nhập tạo không gian và nguồn lực cho phát triển công nghệ, trong khi công nghệ nâng cao chất lượng và vị thế của Việt Nam trong quá trình hội nhập.
Kinh tế tư nhân (Nghị quyết 68-NQ/TW) là lực lượng hiện thực hóa mục tiêu công nghệ và hội nhập (Nghị quyết 59-NQ/TW).
Nếu Nghị quyết 57-NQ/TW xác lập động lực phát triển bằng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Nghị quyết 59-NQ/TW mở rộng không gian phát triển thông qua hội nhập quốc tế thì Nghị quyết 68-NQ/TW góp phần xác lập lực lượng trực tiếp đưa các động lực và cơ hội đó vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Doanh nghiệp tư nhân giữ vai trò quan trọng trong ứng dụng, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đầu tư đổi mới công nghệ và hình thành các sản phẩm, dịch vụ mới. Những cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tăng đầu tư cho R&D và đổi mới sáng tạo tạo thêm nguồn lực xã hội để thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết 57-NQ/TW. Đây cũng là cơ sở thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động và khai thác tài nguyên sang mô hình dựa nhiều hơn vào năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trong hội nhập quốc tế, doanh nghiệp tư nhân là một trong những lực lượng trực tiếp tham gia thị trường, chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu. Năng lực của khu vực doanh nghiệp trong nước vì vậy có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tận dụng các cơ hội từ hội nhập. Khu vực tư nhân đủ mạnh sẽ góp phần nâng cao tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, tăng khả năng liên kết với khu vực FDI và củng cố tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế.
Sự cộng hưởng tạo thành hệ sinh thái phát triển thống nhất.
Xét trong tổng thể, “bộ tứ nghị quyết” hình thành một chuỗi quan hệ tương hỗ: thể chế kiến tạo môi trường, công nghệ tạo động lực, hội nhập mở rộng không gian, kinh tế tư nhân tổ chức và hiện thực hóa các nguồn lực phát triển. Đồng thời, quá trình phát triển của doanh nghiệp, công nghệ và hội nhập tiếp tục đặt ra những yêu cầu mới đối với hoàn thiện thể chế.
Do đó, giá trị chiến lược của “bộ tứ nghị quyết” không chỉ nằm ở nội dung của từng nghị quyết mà còn ở khả năng phối hợp và cộng hưởng giữa chúng. Việc triển khai đồng bộ bốn trụ cột có thể hình thành một hệ sinh thái phát triển, trong đó Nghị quyết 66-NQ/TW tạo nền tảng thể chế, Nghị quyết 57-NQ/TW cung cấp động lực công nghệ, Nghị quyết 59-NQ/TW mở rộng không gian hội nhập và Nghị quyết 68-NQ/TW phát huy vai trò của chủ thể kinh tế tư nhân. Đây chính là logic biện chứng làm nên tính hệ thống của “bộ tứ nghị quyết” trong chiến lược phát triển đất nước giai đoạn mới.
Mô hình phát triển mới.
Từ mối quan hệ tương hỗ giữa “bộ tứ nghị quyết”, có thể khái quát mô hình phát triển của giai đoạn mới bằng công thức chiến lược: NQ 57-NQ/TW (Động cơ công nghệ) + NQ 59-NQ/TW (Không gian hội nhập) + NQ 66-NQ/TW (Hành lang thể chế) + NQ 68-NQ/TW (Chủ thể tư nhân) = Mô hình phát triển của giai đoạn mới (Tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên).
Công thức trên không mang ý nghĩa định lượng cơ học mà thể hiện logic vận hành của một hệ sinh thái phát triển: khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tạo động lực; hội nhập quốc tế mở rộng không gian và nguồn lực; thể chế tạo lập môi trường thuận lợi; kinh tế tư nhân là một trong những chủ thể trực tiếp chuyển hóa các nguồn lực thành kết quả tăng trưởng. Sự vận hành đồng bộ của bốn trụ cột tạo nền tảng để hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong giai đoạn phát triển mới.
Quá trình thực thi và những vấn đề thực tiễn cấp bách.
Định hướng chiến lược đã được xác lập, song yếu tố quyết định hiệu quả của “bộ tứ nghị quyết” nằm ở khâu tổ chức thực hiện. Trên cơ sở đó, Quốc hội và Chính phủ đã cụ thể hóa bằng các chương trình, kế hoạch và giải pháp thực hiện trên nhiều lĩnh vực.
Hoàn thiện pháp luật theo hướng kiến tạo và đồng bộ.
Đảng ủy Quốc hội đã ban hành Kế hoạch số 28-KH/ĐUQH ngày 16/5/2025 triển khai Nghị quyết 66-NQ/TW và Chương trình hành động số 05-CTr/ĐUQH ngày 15/5/2025 triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW.
Tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội tập trung xem xét, sửa đổi và hoàn thiện nhiều quy định quan trọng liên quan đến đầu tư, đấu thầu, doanh nghiệp, thuế thu nhập doanh nghiệp, việc làm và các lĩnh vực có tác động trực tiếp đến môi trường đầu tư, kinh doanh. Trọng tâm là xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tạo đột phá trong công tác xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật và phát triển kinh tế tư nhân.
Song song với hoàn thiện thể chế, chuyển đổi số trong hoạt động của Quốc hội được đẩy mạnh trong giai đoạn 2025–2030, hướng tới tăng cường ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong thẩm tra, rà soát và xây dựng văn bản pháp luật. Đây là điểm giao thoa trực tiếp giữa yêu cầu đổi mới thể chế của Nghị quyết 66-NQ/TW với mục tiêu chuyển đổi số của Nghị quyết 57-NQ/TW.
Khơi thông nguồn lực cho kinh tế tư nhân.
Một nhiệm vụ trọng tâm khác là tháo gỡ các điểm nghẽn về vốn, đất đai, thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Theo định hướng của Nghị quyết 68-NQ/TW, việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai, cải cách thủ tục tiếp cận đất đai và phát triển hạ tầng khu, cụm công nghiệp sẽ góp phần mở rộng mặt bằng sản xuất, kinh doanh cho khu vực tư nhân.
Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp tiếp cận mặt bằng sản xuất với chi phí phù hợp cần được triển khai đồng bộ với cải cách quản lý hộ kinh doanh và lộ trình xóa bỏ hình thức thuế khoán. Qua đó, thúc đẩy các hộ kinh doanh đủ điều kiện chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp, nâng cao tính minh bạch, năng lực quản trị và khả năng tiếp cận các nguồn lực chính thức.
Đẩy mạnh hội nhập gắn với bảo đảm lợi ích quốc gia.
Việt Nam tiếp tục khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA), nhất là các khuôn khổ như CPTPP, EVFTA, RCEP và UKVFTA; đồng thời chủ động tham gia, chuẩn bị các điều kiện cần thiết đối với những khuôn khổ hợp tác kinh tế và kinh tế số mới.
Quá trình mở rộng hội nhập cần gắn với nâng cao năng lực tự chủ, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Việc thu hút đầu tư nước ngoài, chuyển giao công nghệ và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu phải đồng thời bảo đảm an ninh kinh tế, lợi ích quốc gia và tăng cường liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước.
Nhìn tổng thể, giai đoạn thực thi chính là phép thử đối với khả năng cộng hưởng của “bộ tứ nghị quyết”. Thể chế phải được chuyển hóa thành môi trường kinh doanh thuận lợi; công nghệ phải đi vào sản xuất và quản trị; hội nhập phải tạo ra thị trường, nguồn lực và tri thức mới; kinh tế tư nhân phải đủ năng lực hấp thụ và chuyển hóa các điều kiện đó thành năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh. Khi bốn trụ cột được triển khai đồng bộ, mô hình phát triển mới mới có thể chuyển từ định hướng chiến lược thành động lực tăng trưởng thực chất.
Kết luận và khuyến nghị.
Nghiên cứu cho thấy “bộ tứ nghị quyết” gồm Nghị quyết 57-NQ/TW, 59-NQ/TW, 66-NQ/TW và 68-NQ/TW không phải là những định hướng riêng lẻ mà có mối quan hệ hữu cơ, tạo thành một hệ thống chiến lược tương hỗ trong mô hình phát triển mới của Việt Nam. Điểm nổi bật là sự chuyển biến mạnh mẽ về tư duy phát triển: từ quản lý sang kiến tạo phát triển và phục vụ; từ tháo gỡ các rào cản thể chế sang chủ động tạo lập môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh; khẳng định mạnh mẽ hơn vai trò của kinh tế tư nhân; đồng thời xác lập khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng hàng đầu để nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Sự cộng hưởng của bốn nghị quyết hình thành một cấu trúc phát triển tương đối toàn diện, trong đó Nghị quyết 57-NQ/TW tạo động lực công nghệ; Nghị quyết 59-NQ/TW mở rộng không gian hội nhập; Nghị quyết 66-NQ/TW kiến tạo nền tảng thể chế; Nghị quyết 68-NQ/TW phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, hiệu quả của hệ thống này phụ thuộc quyết định vào năng lực tổ chức thực hiện và mức độ phối hợp đồng bộ giữa các chủ thể. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị:
Một là, bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ trong tổ chức thực hiện. Cần kiện toàn cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp giữa Trung ương với địa phương, giữa các bộ, ngành và cơ quan thực thi; xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, người đứng đầu và thời hạn hoàn thành. Đặc biệt, cần hạn chế tình trạng thiếu thống nhất hoặc chồng chéo giữa chủ trương, pháp luật và quá trình tổ chức thực hiện.
Hai là, xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá kết quả thực thi. Các mục tiêu cải cách cần được lượng hóa bằng những chỉ tiêu cụ thể, có khả năng kiểm chứng, như mức cắt giảm thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ, thời gian xử lý công việc và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện cần được công khai, theo dõi định kỳ và gắn với trách nhiệm của cơ quan, đơn vị và người đứng đầu.
Ba là, củng cố cơ chế bảo vệ quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh. Cần thực hiện nhất quán nguyên tắc phân định rõ trách nhiệm hình sự, hành chính, dân sự và kinh tế; hạn chế tình trạng hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự; đồng thời xây dựng cơ chế bảo vệ những tổ chức, cá nhân chủ động đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung. Song song với khuyến khích đổi mới phải tăng cường minh bạch, kiểm soát xung đột lợi ích và phòng ngừa hành vi lợi dụng chính sách để trục lợi.
Bốn là, tăng cường liên kết giữa các chủ thể trong hệ sinh thái kinh tế. Chính sách ưu đãi đối với các tập đoàn lớn, doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân trong nước cần gắn với khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa cho nền kinh tế, nhất là liên kết với doanh nghiệp nhỏ và vừa, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước. Qua đó, hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Giá trị của “bộ tứ nghị quyết” không chỉ nằm ở những mục tiêu riêng của từng văn kiện mà quan trọng hơn là khả năng tạo ra sự cộng hưởng giữa thể chế, công nghệ, hội nhập và khu vực kinh tế tư nhân. Nếu được triển khai đồng bộ, nhất quán và có cơ chế giám sát hiệu quả, bốn nghị quyết sẽ tạo nền tảng quan trọng để chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế, qua đó góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
TS.Huỳnh Văn Lành/Học viện Chính trị khu vực II
Tài liệu tham khảo
1.Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/04/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
2.Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
3.Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
4.Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/05/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
5.Đảng ủy Quốc hội (2025). Chương trình hành động số 05-CTr/ĐUQH ngày 15/05/2025 triển khai thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW.
6.Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương (2025). Kế hoạch số 52-KH/BTGDVTW ngày 19/05/2024 (2025) Tổ chức Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết 66 và 68.
7.Đảng ủy Quốc hội (2025). Kế hoạch số 28-KH/ĐUQH ngày 16/05/2025 triển khai thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW.
8.Đặng Đình Quý (2025). Tài liệu: Nghị quyết 59-NQ/TW về “hội nhập quốc tế trong tình hình mới”. Học viện Ngoại giao.


