Chiến dịch tấn công nước Pháp, được phía Đức gọi là Chiến dịch phía Tây và phía Pháp gọi là Trận chiến nước Pháp, diễn ra từ ngày 10/5 đến 25/6/1940, với hai giai đoạn chính: Kế hoạch Vàng (Fall Gelb) và Kế hoạch Đỏ (Fall Rot). Trước đó, giới cầm quyền Pháp đã lựa chọn thỏa hiệp, nhún nhường, thậm chí bỏ rơi đồng minh với hy vọng xoa dịu Hitler. Nhưng những toan tính ấy không thể ngăn bước tiến của quân đội Đức Quốc xã, để rồi nước Pháp phải hứng chịu một thất bại chóng vánh, ê chề và trở thành một trong những ký ức đau buồn nhất trong lịch sử nước này.

Thua trận vì tâm lý đầu hàng.
Sau khi chinh phục Đan Mạch và Na Uy, Đức tập trung một lực lượng hùng hậu để tấn công nước Pháp, gồm 141 sư đoàn với 3,35 triệu quân, 7.378 khẩu pháo, 2.445 xe tăng và xe thiết giáp, 5.638 máy bay… Hầu hết những tướng lĩnh nổi tiếng của quân đội Đức, trong đó có nhiều người vừa tham gia các chiến dịch tại Ba Lan, Na Uy và Đan Mạch, đều có mặt: Gerd von Rundstedt, Fedor von Bock, Wilhelm von Leeb, Walther von Brauchitsch, Albert Kesselring, Hugo Sperrle, Heinz Guderian…
Ở phía đối diện, Liên quân Anh – Pháp – Bỉ – Hà Lan – Canada – Luxembourg không hề thua kém đáng kể về quân số và trang bị. Họ có 144 sư đoàn với khoảng 3,3 triệu quân, 13.974 khẩu pháo, 3.383 xe tăng và xe thiết giáp, 2.935 máy bay… Lực lượng này cũng được chỉ huy bởi nhiều tướng lĩnh hàng đầu như Maurice Gamelin, Alphonse Georges, Maxime Weygand của Pháp, Lord Gort của Anh, Leopold của Bỉ và Winkelman của Hà Lan.
Chiến dịch tấn công nước Pháp, được phía Đức gọi là Chiến dịch phía Tây và phía Pháp gọi là Trận chiến nước Pháp, diễn ra từ ngày 10/5 đến 25/6/1940, gồm hai giai đoạn chính: Kế hoạch Vàng (Fall Gelb) và Kế hoạch Đỏ (Fall Rot).
Trong Kế hoạch Vàng, quân Đức mở cuộc tiến công vào vùng Đất Thấp nhằm thu hút chủ lực Liên quân về phía bắc. Trong khi đó, mũi tiến công chủ yếu bất ngờ vượt qua dãy Ardennes, đột phá phòng tuyến trên sông Meuse rồi nhanh chóng thọc sâu về phía eo biển Manche, chia cắt và cô lập lực lượng chủ lực của Liên quân ở phía bắc. Sang Kế hoạch Đỏ, quân Đức tiếp tục đánh xuống phía nam, vượt qua hệ thống phòng thủ của Pháp và tiến tới chiếm phần lớn lãnh thổ nước này.
Nhờ ưu thế áp đảo trên không cùng khả năng đột kích mạnh mẽ của các đơn vị tăng – thiết giáp, quân Đức nhanh chóng giành quyền chủ động trên chiến trường. Chỉ sau 11 ngày tiến công, các đơn vị Đức đã tiến tới bờ biển Manche, điều mà quân đội Đức không thể thực hiện được trong suốt bốn năm của Chiến tranh thế giới thứ nhất. Một “cái túi” khổng lồ được hình thành ở phía bắc, vây hãm gần một triệu binh sĩ Liên quân.
Trước tốc độ tiến công ngoài dự liệu của đối phương, Bộ Tư lệnh tối cao Pháp rơi vào trạng thái choáng váng. Tâm lý bi quan vốn đã tồn tại trong giới lãnh đạo quân sự Pháp càng trở nên nặng nề khi phòng tuyến liên tiếp bị xuyên thủng.
Sáng 15/5, Thủ tướng Pháp Paul Reynaud gọi điện cho Thủ tướng Anh Winston Churchill và thông báo: “Chúng ta đã bị đánh bại. Chúng ta đã quỵ. Chúng ta đã vỡ trận”. Churchill cố trấn an Reynaud và sáng hôm sau, 16/5, bay tới Paris.
Tại đây, Churchill chứng kiến Chính phủ Pháp thiêu hủy tài liệu lưu trữ và chuẩn bị sơ tán khỏi thủ đô. Ông hỏi Bộ trưởng Chiến tranh kiêm Tổng tư lệnh quân đội Pháp Maurice Gamelin: “Quân dự bị chiến lược ở đâu?” Gamelin đáp ngắn gọn: “Không còn. Chẳng còn gì nữa.” Sau này, Churchill mô tả khoảnh khắc nghe câu trả lời ấy là một trong những cú sốc lớn của cuộc đời mình. Ông tiếp tục hỏi Gamelin về thời gian và địa điểm dự kiến mở cuộc phản công vào sườn quân Đức. Vị Tổng tư lệnh Pháp chỉ trả lời bằng vài từ đầy bi quan: “Kém về số lượng, kém về trang bị, kém về phương pháp.” Câu trả lời ấy phần nào phản ánh tình trạng của quân đội Pháp lúc bấy giờ. Dù sở hữu lực lượng tăng – thiết giáp đông đảo, người Pháp không tập trung chúng thành những quả đấm cơ động đủ mạnh để tổ chức các đòn phản kích vào những vị trí dễ bị tổn thương của quân Đức.
Trái lại, quân Đức tập trung các phương tiện chiến đấu bọc thép thành những đội hình tác chiến lớn, tạo sức mạnh đột phá tại những khu vực trọng điểm rồi nhanh chóng khai thác khoảng trống phía sau phòng tuyến đối phương. Trong khi đó, phần lớn xe tăng Pháp lại bị phân tán dọc mặt trận thành những đơn vị nhỏ, chủ yếu làm nhiệm vụ yểm trợ bộ binh. Ưu thế về số lượng vì thế không thể chuyển hóa thành ưu thế trên chiến trường.
Sự khác biệt không chỉ nằm ở vũ khí hay quân số, mà còn ở cách tổ chức, sử dụng lực lượng và trạng thái tinh thần của bộ máy chỉ huy. Khi quân Đức tiến công với tốc độ khiến đối phương không kịp xoay xở, sự bị động về chiến lược nhanh chóng chuyển thành khủng hoảng chỉ huy. Và ngay từ những ngày đầu của trận chiến quyết định, trong giới lãnh đạo Pháp đã xuất hiện một điều đặc biệt nguy hiểm: tâm lý cho rằng thất bại là không thể tránh khỏi.
Chiều tối 19/5, tướng Maurice Gamelin bị cách chức Tổng tư lệnh Liên quân. Người được lựa chọn thay thế là tướng Maxime Weygand. Tuy nhiên, trong tình thế chiến trường đang biến chuyển từng giờ, Weygand lại mất vài ngày mới đưa ra quyết định tổ chức phản công.
Theo kế hoạch, Liên quân sẽ đồng thời đánh từ phía bắc và phía nam vào hành lang mà các đơn vị thiết giáp Đức vừa mở ra, phối hợp giữa những tập đoàn quân đang bị cô lập ở phía bắc với lực lượng phòng thủ trên mặt trận sông Somme. Mục tiêu là cắt đứt mũi thọc sâu của quân Đức, nối lại đội hình Liên quân và đảo ngược tình thế.
Nhưng thời cơ nhanh chóng trôi qua. Ba ngày quý giá mà Bộ Chỉ huy Liên quân bỏ lỡ đã được quân Đức tận dụng để củng cố hành lang tiến quân, điều chỉnh đội hình và chuẩn bị đối phó với các cuộc phản kích. Kế hoạch phản công của Weygand vì thế không thể thực hiện như dự kiến. Thay vì cắt được hành lang của đối phương, lực lượng Liên quân ở phía bắc ngày càng bị siết chặt và cuối cùng bị dồn về khu vực Dunkirk.
Đến cuối tháng 5/1940, phần lớn những đơn vị tinh nhuệ và được trang bị tốt nhất của quân đội Pháp, vốn được điều lên phía bắc từ đầu chiến dịch, đã bị loại khỏi vòng chiến hoặc mắc kẹt trong vòng vây. Quân đội Pháp cũng gần như không còn nhận được sự hỗ trợ đáng kể từ các đồng minh.
Sau khi mất 61 sư đoàn, trong tay Weygand chỉ còn 65 sư đoàn có khả năng tiếp tục chiến đấu, gồm 64 sư đoàn Pháp và Sư đoàn Highland số 51 của Anh. Đáng lo ngại hơn, phần lớn lực lượng Pháp còn lại là các sư đoàn hạng B cùng những đơn vị đã bị tổn thất nặng hoặc tàn quân rút được từ phía bắc.
Trong hoàn cảnh đó, Weygand hầu như không còn lực lượng dự bị đủ mạnh để tổ chức những cuộc phản công lớn, bịt các lỗ thủng trên phòng tuyến hay thay thế những đơn vị tiền tuyến đã kiệt sức sau nhiều tuần chiến đấu liên tục.
Khó khăn càng trở nên nghiêm trọng khi quân Pháp phải phòng thủ trên một chính diện dài khoảng 965 km, từ Sedan tới eo biển Manche. Càng bị đẩy lùi về phía nam, phòng tuyến càng kéo dài, trong khi lực lượng phòng giữ ngày một mỏng đi. Quân số suy giảm, lực lượng dự bị cạn kiệt và những đơn vị thiện chiến nhất đã tổn thất nặng khiến quân đội Pháp bước vào giai đoạn tiếp theo của chiến dịch trong tình thế ngày càng bất lợi.
Nếu trong những ngày đầu cuộc chiến, thất bại của Pháp bắt nguồn từ sự bất ngờ và rối loạn trước tốc độ tiến công của quân Đức, thì đến cuối tháng 5, cuộc khủng hoảng đã mang một tính chất khác: Pháp không chỉ mất thế chủ động mà còn dần mất cả những lực lượng cần thiết để giành lại thế chủ động ấy.
Nỗi buồn xuyên thế kỷ.
Ngày 10/6/1940, Chính phủ Pháp rút về Bordeaux, tuyên bố Paris là một thành phố mở. Ngày 13/6, tại một cuộc họp của Hội đồng Chiến tranh Tối cao Anh – Pháp ở Tours, Thủ tướng Anh Winston Churchill đề nghị hợp nhất hai quốc gia nhưng bị từ chối. Phía Pháp yêu cầu Churchill cung cấp tất cả các phi đội máy bay chiến đấu sẵn có để cứu vãn cuộc chiến. Churchill từ chối vì lực lượng tiêm kích còn lại của Anh đã giảm xuống dưới 25 phi đội, chỉ đủ để bảo vệ nước Anh.
Ngày 14/6, Paris thất thủ. Quân đội Đức chiếm được Paris, chiến lợi phẩm mà họ đã vuột mất trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Đây là lần thứ hai trong vòng một thế kỷ Paris bị các lực lượng quân sự Đức chiếm đóng (lần đầu tiên trong Chiến tranh Pháp – Phổ 1870-1871). Cùng thời gian này, các đơn vị xe tăng Đức dưới quyền tướng Heinz Guderian cấp tốc vượt sông Marne, thọc sâu, đánh vào phía sau phòng tuyến Maginot. Ngày 15/6, cánh quân của tướng Wilhelm von Leeb tấn công trực diện, vượt sông Rhine tiến vào Pháp. Ngày 17/6, hệ thống phòng thủ Maginot bị cắt rời khỏi phần còn lại của nước Pháp. Những đơn vị Pháp cuối cùng tại đây đầu hàng vào ngày 25/6.
Thất bại quân sự của Pháp dẫn tới một cuộc khủng hoảng chính trị. Một số chính khách muốn thừa nhận thất bại và cầu hòa, trong khi những người khác muốn dựa vào các thuộc địa ở Bắc Phi để tiếp tục chiến tranh. Khuynh hướng đầu hàng, được tướng Maxime Weygand, Thống chế Philippe Pétain và Đô đốc François Darlan ủng hộ, cuối cùng đã thắng thế.
Ngày 16/6/1940, Thủ tướng Paul Reynaud, người chủ trương tiếp tục chiến tranh, tuyên bố từ chức. Người kế nhiệm ông là Thống chế Philippe Pétain. Ngày 17/6, Pétain gửi đề nghị cầu hòa thông qua Đại sứ Tây Ban Nha. Nhận được đề nghị, Hitler liền chọn rừng Compiègne làm địa điểm đàm phán. Đây chính là nơi Hiệp định đình chiến năm 1918 được ký kết, chấm dứt Chiến tranh thế giới thứ nhất với thất bại của nước Đức. Nay Hitler coi việc lựa chọn chính địa điểm này là cách tốt nhất để nước Đức rửa mối nhục năm xưa trước người Pháp.
Hiệp định đình chiến được ký ngày 22/6 trên chính toa xe lửa từng được sử dụng để ký Hiệp định đình chiến năm 1918. Toa xe được đưa ra khỏi bảo tàng và đặt lại đúng vị trí của nó năm xưa. Hitler ngồi vào chính chiếc ghế mà Thống chế Pháp Ferdinand Foch từng ngồi khi tiếp các đại diện của nước Đức chiến bại. Sau khi nghe đọc các điều khoản, Hitler đứng dậy rời toa xe trong một cử chỉ khinh miệt có tính toán đối với các đại biểu Pháp, để phần đàm phán còn lại cho tướng Wilhelm Keitel, người đứng đầu Bộ Chỉ huy Tối cao quân đội Đức (OKW).
Theo Hiệp định đình chiến, nước Pháp bị chia cắt thành khu vực chiếm đóng của Đức ở miền bắc và miền tây, một khu vực chiếm đóng nhỏ của Ý ở phía đông nam và một “vùng tự do” ở phía nam do Chính phủ Vichy của Pétain quản lý. Trong khu vực do Đức chiếm đóng, vùng Alsace bị sáp nhập trở lại vào Đức; vùng Lorraine được dự tính tái định cư người Đức nhằm đẩy biên giới Pháp trở lại tuyến năm 1540; còn vùng bờ biển Flanders ở miền bắc nước Pháp được dành làm căn cứ quân sự phục vụ các hoạt động chống lại Anh.
Hitler đã đạt được mục tiêu chỉ trong vòng sáu tuần lễ. Quân Đức chịu tổn thất 27.000 người chết, 18.400 người mất tích và 111.000 người bị thương, chưa bằng một phần ba thương vong của Đức trong trận Verdun thời Chiến tranh thế giới thứ nhất. Trong khi đó, phía Liên quân có 360.000 người chết và bị thương, 1.900.000 người bị bắt.
Ngày 19/7, cùng với việc thăng Tư lệnh Không quân Hermann Göring từ hàm Thống chế lên “Thống chế Đế chế” (Reichsmarschall), Hitler còn phong hàm Thống chế (Generalfeldmarschall) cho 12 tướng lĩnh để tưởng thưởng công lao trong Trận chiến nước Pháp.
Với việc đánh quỵ nước Pháp chỉ trong vòng sáu tuần, Đức đã giành được một trong những thắng lợi ngoạn mục nhất trong toàn bộ cuộc chiến. Chiến thắng chóng vánh này đem lại cho Đức ưu thế chiến lược to lớn: vừa có được bàn đạp để tiến hành các hoạt động trên không và trên biển chống lại Anh, vừa rảnh tay chuẩn bị cho cuộc chiến ở phía đông chống Liên Xô.
Ngược lại, Trận chiến nước Pháp trở thành một trong những thất bại cay đắng nhất trong lịch sử nước Pháp. Đó không chỉ là thất bại trên chiến trường, mà còn phơi bày sự bạc nhược, tâm lý thất bại và những bất đồng sâu sắc trong giới lãnh đạo Pháp. Trong khi đó, các nước Đồng minh, vì những tính toán và lợi ích riêng, đã không tạo dựng được sự thống nhất cần thiết vào thời điểm quyết định. Sự thiếu phối hợp về quân sự, chia rẽ về chiến lược và tâm lý đặt lợi ích của mỗi quốc gia lên trên lợi ích chung đã tạo ra những khoảng trống mà Đức nhanh chóng khai thác.
Người Đức đã tận dụng triệt để những điểm yếu ấy bằng một bộ máy chỉ huy quyết đoán, cách sử dụng lực lượng tập trung và tốc độ tiến công khiến đối phương không kịp xoay xở. Khi nước Pháp chưa hết bàng hoàng trước những đòn đột phá quân sự thì ý chí tiếp tục chiến đấu trong một bộ phận giới lãnh đạo đã lung lay. Đồng minh chưa kịp tìm được tiếng nói chung thì chiến trường đã bị chia cắt.
Thất bại mùa hè năm 1940 không chỉ là câu chuyện về sức mạnh của quân đội Đức. Nó còn là bài học cay đắng về cái giá của sự bạc nhược, chia rẽ và những toan tính lợi ích riêng trong một liên minh. Khi mỗi bên chỉ tìm cách bảo toàn phần mình, sức mạnh chung bị suy yếu; và đối phương, nếu đủ quyết đoán, sẽ biến chính những rạn nứt ấy thành con đường dẫn tới chiến thắng.
Nguyễn Đăng Song


