Dữ liệu ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản lý, giám sát vận tải đường bộ, từ phương tiện, người lái xe đến hành trình và hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, hiệu quả khai thác dữ liệu không chỉ phụ thuộc vào hạ tầng kỹ thuật mà còn vào khuôn khổ pháp lý về thu thập, kết nối, chia sẻ, sử dụng và bảo vệ thông tin. Thực tiễn cho thấy vẫn cần hoàn thiện quy định về thẩm quyền, trách nhiệm, liên thông dữ liệu và kiểm soát khai thác thông tin, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tính minh bạch và an toàn trong vận tải đường bộ.

Khung pháp lý về quản lý và khai thác dữ liệu trong hoạt động vận tải đường bộ.
Pháp luật về đường bộ hiện nay đã xác lập tương đối rõ vị trí của dữ liệu trong quản lý nhà nước. Điều 6 Luật Đường bộ số 35/2024/QH15 quy định cơ sở dữ liệu đường bộ bao gồm nhiều nhóm thông tin liên quan đến quy hoạch, kết cấu hạ tầng, thanh toán điện tử giao thông và hoạt động vận tải bằng xe ô tô; đồng thời yêu cầu kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu về trật tự, an toàn giao thông đường bộ và các cơ sở dữ liệu có liên quan. Trên cơ sở đó, Nghị định 165/2024/NĐ-CP cụ thể hóa yêu cầu quản lý cơ sở dữ liệu theo hướng tập trung, thống nhất, cập nhật đầy đủ, chính xác, bảo đảm an toàn và bảo mật. Cách tiếp cận này cho thấy dữ liệu vận tải không chỉ phục vụ theo dõi phương tiện mà còn là nguồn thông tin có giá trị đối với công tác kiểm tra, điều hành, đánh giá hoạt động vận tải và hỗ trợ cơ quan quản lý ra quyết định.
Đối với dữ liệu phát sinh trực tiếp trong quá trình vận hành phương tiện, Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ số 36/2024/QH15 thiết lập cơ chế quản lý riêng đối với dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình và thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe. Theo Điều 71, hệ thống này có chức năng ghi nhận, lưu trữ và truyền dữ liệu phục vụ bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, quản lý vận tải và xử lý vi phạm. Việc tách nhóm dữ liệu này khỏi cơ sở dữ liệu vận tải thông thường phản ánh tính chất pháp lý đặc thù: dữ liệu vừa phục vụ quản lý hành chính, vừa có thể được sử dụng để xác định hành vi vi phạm. Do đó, độ chính xác, tính toàn vẹn, khả năng kiểm chứng và nguồn gốc dữ liệu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nếu thiếu những bảo đảm này, dữ liệu dù được thu thập với khối lượng lớn vẫn khó phát huy đầy đủ giá trị trong thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm.
Việc khai thác dữ liệu vận tải đồng thời phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 xác lập các nguyên tắc đối với việc thu thập, xử lý và sử dụng dữ liệu gắn với cá nhân cụ thể, trong đó có dữ liệu vị trí, hình ảnh và thông tin có khả năng nhận diện chủ thể. Quy định này liên quan trực tiếp đến dữ liệu vận tải đường bộ, bởi dữ liệu hành trình, vị trí phương tiện hoặc hình ảnh người lái xe có thể đồng thời phản ánh hoạt động của phương tiện và thông tin cá nhân của người điều khiển. Vì vậy, cơ chế pháp lý trong lĩnh vực này phải đáp ứng đồng thời hai yêu cầu: bảo đảm khai thác dữ liệu hiệu quả phục vụ quản lý nhà nước và kiểm soát chặt chẽ phạm vi tiếp cận, mục đích sử dụng, thời hạn lưu trữ cũng như trách nhiệm của chủ thể khai thác. Sự cân bằng giữa hiệu quả quản lý và bảo vệ quyền đối với dữ liệu là cơ sở quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về dữ liệu vận tải đường bộ.
Thực tiễn áp dụng pháp luật và những vấn đề đặt ra trong quản lý dữ liệu vận tải.
Việc đưa dữ liệu vào quản lý vận tải đường bộ đã tạo ra sự thay đổi rõ rệt trong phương thức quản lý nhà nước. Nếu trước đây hoạt động kiểm tra chủ yếu dựa vào hồ sơ, báo cáo của doanh nghiệp và kiểm tra trực tiếp trên đường, thì nay có thể được hỗ trợ bằng dữ liệu hành trình, tốc độ, thời gian lái xe và hình ảnh ghi nhận trên phương tiện. Quy mô dữ liệu phát sinh từ hoạt động vận tải ngày càng lớn. Theo báo cáo của Cục Đường bộ Việt Nam, đến quý I/2025, cả nước có 936.751 xe kinh doanh vận tải đã lắp thiết bị giám sát hành trình, trong đó khoảng 200.000 xe đã lắp camera. Với số lượng phương tiện này, vấn đề đặt ra hiện nay không còn chủ yếu là tạo lập dữ liệu mà chuyển sang khả năng khai thác hiệu quả, bảo đảm dữ liệu được sử dụng đúng mục đích và gắn với trách nhiệm của từng chủ thể trong quá trình quản lý.
Thứ nhất, dữ liệu giám sát hành trình đã trở thành nguồn thông tin quan trọng để phát hiện và xử lý vi phạm trong hoạt động kinh doanh vận tải. Khả năng theo dõi tốc độ, thời gian điều khiển phương tiện, hành trình và tình trạng truyền dữ liệu giúp cơ quan quản lý nhận diện vi phạm mà không hoàn toàn phụ thuộc vào kiểm tra trực tiếp. Trong 9 tháng đầu năm 2024, các Sở Giao thông vận tải đã thu hồi phù hiệu của hơn 21.523 phương tiện có từ 5 lần vi phạm tốc độ trên 1.000 km xe chạy trong một tháng; đồng thời chấn chỉnh, nhắc nhở hơn 368.233 phương tiện có vi phạm liên quan đến tốc độ, thời gian lái xe hoặc không truyền dữ liệu. Khả năng khai thác dữ liệu tiếp tục được thể hiện sau khi hệ thống được chuyển sang lực lượng Cảnh sát giao thông quản lý. Ngày 23/7/2026, từ dữ liệu giám sát hành trình, Cục Cảnh sát giao thông phát hiện hơn 4.000 trường hợp lái xe kinh doanh vận tải có dấu hiệu điều khiển phương tiện quá thời gian làm việc. Chỉ trong khoảng thời gian từ 0 giờ đến 7 giờ cùng ngày, cơ quan chức năng đã rà soát 168 phương tiện có dấu hiệu vi phạm, chuyển thông tin của 18 phương tiện đang lưu thông trên cao tốc để kiểm tra trực tiếp và xử lý lái xe, doanh nghiệp có liên quan. Những số liệu này cho thấy dữ liệu đã được sử dụng như một công cụ kiểm soát chủ động, góp phần chuyển phương thức quản lý từ phát hiện vi phạm sau khi xảy ra sang nhận diện nguy cơ ngay trong quá trình phương tiện hoạt động.
Thứ hai, mức độ bao phủ của hệ thống dữ liệu tương đối lớn nhưng hiệu quả khai thác giữa các cơ quan và đơn vị vận tải chưa đồng đều. Kết quả kiểm tra của Thanh tra Bộ Giao thông vận tải công bố năm 2024 cho thấy nhiều Sở Giao thông vận tải chưa thường xuyên truy cập, khai thác dữ liệu về hành trình, tốc độ và thời gian lái xe liên tục; việc tra cứu dữ liệu camera phục vụ quản lý tại một số nơi còn hạn chế. Không ít doanh nghiệp vận tải cũng chưa duy trì thường xuyên việc theo dõi dữ liệu để cảnh báo hoặc xử lý lái xe có hành vi vi phạm. Đáng lưu ý, tỷ lệ nộp lại phù hiệu, biển hiệu thuộc diện bị thu hồi tại thời điểm kiểm tra chỉ đạt khoảng 60%. Việc tổng hợp, thông báo số liệu vi phạm ở một số thời điểm còn chậm, kéo theo việc ban hành quyết định xử lý chưa kịp thời. Thực tế này cho thấy khoảng cách giữa “có dữ liệu” và “quản lý bằng dữ liệu” vẫn khá rõ: hệ thống kỹ thuật có thể ghi nhận hàng triệu hành trình, nhưng nếu dữ liệu không được khai thác thường xuyên hoặc kết quả phân tích không được chuyển hóa kịp thời thành quyết định quản lý thì giá trị pháp lý và giá trị phòng ngừa của dữ liệu sẽ giảm đáng kể.
Thứ ba, quá trình kết nối, chia sẻ dữ liệu đang mở rộng, kéo theo yêu cầu xác định rõ trách nhiệm đối với chất lượng và tính toàn vẹn của dữ liệu. Từ ngày 1/1/2025, hệ thống dữ liệu thiết bị giám sát hành trình và camera trên phương tiện kinh doanh vận tải được bàn giao từ cơ quan quản lý đường bộ sang Cục Cảnh sát giao thông và lực lượng Cảnh sát giao thông địa phương quản lý. Đồng thời, Thông tư số 71/2024/TT-BCA yêu cầu dữ liệu hành trình từ máy chủ dịch vụ phải được truyền về máy chủ của Cục Cảnh sát giao thông trong thời gian không quá 2 phút, còn dữ liệu hình ảnh người lái xe không quá 5 phút kể từ khi máy chủ dịch vụ tiếp nhận. Quy định về thời gian truyền dữ liệu tạo cơ sở cho việc giám sát gần với thời gian thực, nhưng cũng làm phát sinh chuỗi trách nhiệm pháp lý phức tạp hơn giữa đơn vị vận tải, nhà cung cấp thiết bị, đơn vị cung cấp dịch vụ máy chủ và cơ quan quản lý nhà nước. Khi dữ liệu bị gián đoạn, sai tọa độ, sai thông tin người lái hoặc không được truyền đúng thời hạn, việc xác định lỗi phát sinh từ thiết bị, doanh nghiệp vận tải hay đơn vị cung cấp dịch vụ có ý nghĩa trực tiếp đối với tính hợp pháp của quyết định xử lý. Vì vậy, bên cạnh yêu cầu kết nối, cơ chế kiểm chứng, truy xuất nguồn gốc và xác định trách nhiệm đối với dữ liệu sai lệch cần được quy định rõ hơn trong quá trình áp dụng pháp luật.
Thứ tư, việc khai thác dữ liệu phục vụ quản lý cần được đặt trong mối quan hệ với mục tiêu phòng ngừa tai nạn và bảo vệ quyền của người có dữ liệu. Yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi tai nạn liên quan đến phương tiện kinh doanh vận tải vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể. Theo thông tin được Chính phủ công bố tháng 8/2026, tai nạn giao thông liên quan đến xe kinh doanh vận tải chiếm 37,3% tổng số vụ tai nạn giao thông. Riêng trong khoảng thời gian từ 1/2 đến 5/7/2026, các vụ tai nạn liên quan đến xe khách đã làm 199 người tử vong. Những con số này cho thấy dữ liệu về thời gian lái xe, tốc độ, hành trình và tình trạng hoạt động của phương tiện cần được khai thác không chỉ để xử lý vi phạm mà còn nhằm nhận diện sớm nguy cơ mất an toàn. Mặt khác, dữ liệu hành trình có thể phản ánh vị trí, lịch trình của cá nhân, trong khi camera ghi nhận trực tiếp hình ảnh người lái xe. Vì vậy, việc mở rộng phạm vi kết nối phải đi kèm các giới hạn rõ ràng về chủ thể được truy cập, mục đích khai thác, thời gian lưu giữ và trách nhiệm khi dữ liệu bị sử dụng sai mục đích. Đây là bài toán đặt ra đối với quản lý dữ liệu vận tải hiện nay: khai thác dữ liệu đủ sâu để phục vụ an toàn giao thông và quản lý nhà nước, đồng thời không mở rộng quyền tiếp cận vượt quá phạm vi, mục đích mà pháp luật cho phép.
Những bất cập của cơ chế pháp lý về chia sẻ, bảo vệ và sử dụng dữ liệu vận tải.
Hệ thống pháp luật hiện hành đã tạo nền tảng cho việc hình thành, kết nối và khai thác dữ liệu vận tải đường bộ, song các quy định vẫn phân bố trong nhiều nhóm văn bản với mục tiêu điều chỉnh khác nhau. Dữ liệu về hoạt động vận tải thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật đường bộ; dữ liệu hành trình và hình ảnh người lái xe gắn với pháp luật về trật tự, an toàn giao thông; trong khi dữ liệu có khả năng nhận diện cá nhân còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật về dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Cách tổ chức này phù hợp với tính chất đa chiều của dữ liệu vận tải, nhưng cũng làm phát sinh những điểm giao thoa về thẩm quyền, phạm vi khai thác và trách nhiệm pháp lý. Khi cùng một dữ liệu vừa phục vụ quản lý hoạt động vận tải, vừa được sử dụng để giám sát an toàn và xử lý vi phạm, yêu cầu đặt ra không chỉ là kết nối các hệ thống mà còn phải xác định rõ mục đích sử dụng, chủ thể được quyền khai thác và phạm vi trách nhiệm phát sinh.
Thứ nhất, cơ chế chia sẻ dữ liệu còn phụ thuộc nhiều vào sự phối hợp giữa các hệ thống và cơ quan quản lý. Điều 62 Nghị định 165/2024/NĐ-CP quy định việc kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu đường bộ với cơ sở dữ liệu của bộ, ngành và địa phương được thực hiện trên cơ sở thống nhất về phạm vi, hình thức, cấu trúc dữ liệu và trách nhiệm của các bên. Quy định này tạo cơ sở pháp lý cho liên thông dữ liệu, nhưng đồng thời cho thấy nhiều nội dung quan trọng vẫn phải được xác lập thông qua quá trình phối hợp giữa các chủ thể quản lý. Trong khi đó, dữ liệu vận tải được hình thành liên tục từ nhiều nguồn như thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe, dữ liệu đăng ký phương tiện, giấy phép lái xe, hoạt động kinh doanh vận tải và hệ thống giao thông thông minh. Nếu mỗi hệ thống áp dụng cách tổ chức hoặc chuẩn dữ liệu khác nhau, khả năng đối chiếu và khai thác thống nhất sẽ bị hạn chế. Vấn đề cần hoàn thiện vì vậy không chỉ nằm ở quyền “được chia sẻ dữ liệu” mà còn ở việc xây dựng cơ chế thống nhất về chuẩn dữ liệu, phương thức xác thực, thời điểm cập nhật và trách nhiệm xử lý khi thông tin giữa các cơ sở dữ liệu không trùng khớp.
Thứ hai, ranh giới giữa khai thác dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước và bảo vệ dữ liệu cá nhân cần được cụ thể hóa hơn phù hợp với đặc thù của hoạt động vận tải. Theo Thông tư 71/2024/TT-BCA, dữ liệu được thu nhận không chỉ bao gồm biển số xe, tốc độ và thời gian mà còn có số giấy phép lái xe, tọa độ và hình ảnh người lái xe. Dữ liệu hành trình phải được lưu trữ tối thiểu 01 năm, còn dữ liệu hình ảnh người lái xe tối thiểu 03 tháng. Đây là những thông tin có khả năng phản ánh khá chi tiết quá trình di chuyển và hoạt động nghề nghiệp của cá nhân. Trong khi đó, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 đặt ra yêu cầu xử lý dữ liệu phải gắn với loại dữ liệu, mục đích xử lý và trách nhiệm của bên kiểm soát hoặc xử lý dữ liệu; Nghị định 356/2025/NĐ-CP tiếp tục cụ thể hóa các biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân từ ngày 1/1/2026. Sự giao thoa này đòi hỏi pháp luật chuyên ngành vận tải phải làm rõ hơn phạm vi khai thác đối với từng nhóm dữ liệu, thời hạn sử dụng cho từng mục đích và cơ chế kiểm soát truy cập. Nếu chỉ quy định nghĩa vụ thu thập, lưu giữ mà chưa gắn chặt với giới hạn sử dụng, nguy cơ dữ liệu được khai thác vượt quá mục đích quản lý ban đầu sẽ khó được kiểm soát đầy đủ.
Thứ ba, trách nhiệm pháp lý đối với chất lượng dữ liệu chưa hoàn toàn tương xứng với chuỗi chủ thể tham gia tạo lập và truyền dữ liệu. Thông tư 71/2024/TT-BCA yêu cầu dữ liệu hành trình phải được truyền về máy chủ của Cục Cảnh sát giao thông trong thời gian không quá 02 phút, dữ liệu hình ảnh người lái xe không quá 05 phút kể từ thời điểm máy chủ dịch vụ tiếp nhận; đơn vị kinh doanh vận tải phải bảo đảm dữ liệu được truyền chính xác, đầy đủ, liên tục và không được sửa chữa hoặc làm sai lệch. Trên thực tế, một bản ghi dữ liệu trước khi đến cơ quan quản lý có thể trải qua nhiều khâu: thiết bị lắp trên phương tiện, đường truyền, máy chủ của đơn vị cung cấp dịch vụ, hệ thống của doanh nghiệp vận tải và máy chủ của cơ quan nhà nước. Khi dữ liệu mất kết nối, sai tọa độ, thiếu thông tin về thời gian hoặc không đồng bộ thông tin người lái xe, việc xác định trách nhiệm không thể chỉ dựa vào kết quả cuối cùng là “không có dữ liệu”. Cơ chế pháp lý vì vậy cần phân định rõ trách nhiệm của người lái xe, đơn vị kinh doanh vận tải, nhà cung cấp thiết bị và đơn vị cung cấp dịch vụ truyền dẫn; đồng thời cần có quy trình xác minh nguyên nhân kỹ thuật trước khi sử dụng dữ liệu làm căn cứ xác lập trách nhiệm pháp lý.
Thứ tư, giá trị pháp lý của dữ liệu trong kiểm tra và xử lý vi phạm cần đi kèm với cơ chế kiểm chứng và giải quyết tranh chấp tương ứng. Pháp luật hiện hành đã cho phép lực lượng Cảnh sát giao thông khai thác dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe và cơ sở dữ liệu về trật tự, an toàn giao thông để phát hiện, xử lý hành vi vi phạm. Điều này làm thay đổi đáng kể phương thức quản lý khi dữ liệu điện tử có thể trực tiếp dẫn đến quyết định xử phạt hoặc trở thành căn cứ kiểm tra phương tiện. Khi dữ liệu ngày càng có giá trị chứng minh, yêu cầu về tính toàn vẹn và khả năng kiểm chứng cũng phải cao hơn. Trường hợp doanh nghiệp hoặc người lái xe cho rằng dữ liệu sai lệch do thiết bị, tín hiệu hoặc quá trình truyền nhận, cần có cơ chế đủ rõ để xác định bản ghi gốc, lịch sử chỉnh sửa, thời điểm phát sinh dữ liệu và chủ thể chịu trách nhiệm xác nhận. Quy định chuyên ngành đã đặt ra yêu cầu bảo đảm tính khách quan, chính xác và không làm sai lệch dữ liệu, nhưng cơ chế xử lý khi phát sinh tranh chấp về chính dữ liệu đó vẫn cần được hoàn thiện theo hướng thống nhất hơn. Đây là điều kiện cần thiết để dữ liệu vận tải không chỉ có giá trị kỹ thuật mà còn bảo đảm độ tin cậy pháp lý khi được sử dụng trong quản lý nhà nước.
Những hạn chế của cơ chế hiện hành không nằm ở việc thiếu quy định về thu thập dữ liệu mà chủ yếu ở mối liên kết giữa các quy định về chia sẻ, quyền tiếp cận, trách nhiệm bảo đảm chất lượng và giới hạn sử dụng dữ liệu. Khi dữ liệu ngày càng được sử dụng trực tiếp để kiểm soát hoạt động kinh doanh vận tải và xác định vi phạm, yêu cầu hoàn thiện pháp luật cần chuyển từ tư duy quản lý từng hệ thống riêng lẻ sang quản trị toàn bộ vòng đời dữ liệu, từ khi dữ liệu được hình thành, truyền nhận, lưu trữ, chia sẻ, sử dụng cho đến khi kết thúc mục đích xử lý.
Định hướng hoàn thiện cơ chế pháp lý và nâng cao hiệu quả khai thác dữ liệu vận tải đường bộ.
Hoàn thiện cơ chế pháp lý về dữ liệu vận tải đường bộ cần được nhìn nhận như một yêu cầu của quản trị nhà nước dựa trên dữ liệu, thay vì chỉ là bổ sung quy định cho hoạt động ứng dụng công nghệ. Luật Đường bộ năm 2024, Luật Dữ liệu năm 2024, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 cùng các văn bản chuyên ngành đã hình thành nền tảng tương đối đầy đủ cho việc thu thập, kết nối và khai thác dữ liệu. Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, qua đó củng cố đáng kể khuôn khổ pháp luật chung về quản trị và bảo vệ dữ liệu. Vấn đề cần tiếp tục giải quyết là bảo đảm các quy định này được vận hành thống nhất trong lĩnh vực vận tải, để dữ liệu được khai thác thực chất, có khả năng kiểm chứng và không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Thứ nhất, cần hoàn thiện cơ chế kết nối và chia sẻ dữ liệu theo hướng thống nhất về tiêu chuẩn, cấu trúc và trách nhiệm cập nhật. Nghị định 165/2024/NĐ-CP đã tạo cơ sở cho việc xây dựng, quản lý và kết nối cơ sở dữ liệu đường bộ, song hiệu quả liên thông còn phụ thuộc vào khả năng tương thích giữa các hệ thống do nhiều cơ quan, đơn vị quản lý. Vì vậy, pháp luật cần quy định cụ thể hơn về bộ tiêu chuẩn dữ liệu dùng chung đối với các thông tin cốt lõi như phương tiện, đơn vị kinh doanh vận tải, người lái xe, hành trình, thời gian điều khiển phương tiện và tình trạng hoạt động của thiết bị giám sát. Đối với cùng một phương tiện, không nên tồn tại thông tin khác nhau giữa cơ sở dữ liệu đăng ký, dữ liệu kinh doanh vận tải và dữ liệu giám sát hành trình mà thiếu cơ chế tự động đối chiếu, cảnh báo sai lệch. Khi chuẩn dữ liệu và nguyên tắc cập nhật được thống nhất, việc chia sẻ thông tin mới thực sự tạo ra giá trị quản lý, thay vì hình thành những kho dữ liệu tồn tại song song.
Thứ hai, cần xác lập rõ trách nhiệm pháp lý trong toàn bộ quá trình hình thành, truyền nhận và sử dụng dữ liệu. Dữ liệu vận tải không được tạo ra bởi một chủ thể duy nhất mà hình thành qua một chuỗi gồm thiết bị trên phương tiện, người lái xe, doanh nghiệp vận tải, đơn vị cung cấp dịch vụ và hệ thống của cơ quan nhà nước. Thông tư 71/2024/TT-BCA đã quy định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan trong quản lý, vận hành hệ thống dữ liệu giám sát hành trình và thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe. Tuy nhiên, pháp luật cần phân định rõ hơn trách nhiệm khi dữ liệu bị mất, truyền chậm, sai lệch hoặc không phản ánh đúng hoạt động thực tế của phương tiện. Trước khi sử dụng một bản ghi làm căn cứ xác định vi phạm, cần bảo đảm khả năng truy xuất nguồn phát sinh, thời điểm tạo lập, lịch sử truyền nhận và tình trạng kỹ thuật của thiết bị. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm trách nhiệm của doanh nghiệp và nhà cung cấp dịch vụ, vừa hạn chế trường hợp người lái xe phải chịu hậu quả pháp lý do sai sót thuần túy về kỹ thuật.
Thứ ba, việc mở rộng khai thác dữ liệu phải đi cùng cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân phù hợp với đặc thù vận tải. Dữ liệu vị trí, hành trình và hình ảnh người lái xe có giá trị lớn trong kiểm soát an toàn, nhưng cũng cho phép tái hiện khá chi tiết hoạt động của cá nhân trong một khoảng thời gian dài. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 đã thiết lập khuôn khổ chung cho việc xử lý và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đối với lĩnh vực vận tải, cần cụ thể hóa chủ thể được quyền truy cập từng nhóm dữ liệu, phạm vi thông tin được khai thác, mục đích sử dụng, thời hạn lưu giữ, việc ghi nhận lịch sử truy cập và trách nhiệm khi dữ liệu bị khai thác ngoài mục đích pháp luật cho phép. Có thể thiết kế quyền truy cập theo chức năng: doanh nghiệp được khai thác dữ liệu cần thiết cho điều hành và quản lý an toàn; cơ quan quản lý vận tải sử dụng dữ liệu phục vụ quản lý chuyên ngành; cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm được tiếp cận dữ liệu trong phạm vi nhiệm vụ. Phân quyền theo mục đích như vậy sẽ góp phần dung hòa yêu cầu khai thác dữ liệu vì lợi ích công với bảo vệ quyền của người có dữ liệu.
Thứ tư, cần nâng giá trị của dữ liệu từ công cụ ghi nhận sang công cụ dự báo và phòng ngừa rủi ro trong quản lý vận tải. Nếu dữ liệu chỉ được khai thác để xác định một phương tiện đã chạy quá tốc độ hoặc một lái xe đã vượt quá thời gian điều khiển cho phép thì hiệu quả quản lý vẫn chủ yếu tập trung ở khâu xử lý vi phạm. Khối lượng dữ liệu được hình thành liên tục từ các phương tiện cho phép cơ quan quản lý nhận diện sớm hơn các dấu hiệu rủi ro, chẳng hạn doanh nghiệp có tỷ lệ vi phạm tốc độ cao bất thường, phương tiện thường xuyên mất tín hiệu tại những thời điểm nhất định hoặc lái xe liên tục tiệm cận giới hạn thời gian làm việc. Khi những dấu hiệu này được tổng hợp theo chu kỳ và gắn với cơ chế cảnh báo, kiểm tra có trọng tâm, dữ liệu sẽ trở thành căn cứ phòng ngừa thay vì chỉ được sử dụng để chứng minh vi phạm. Để thực hiện điều đó, pháp luật cần xác định rõ giá trị sử dụng của từng loại dữ liệu, nguyên tắc đánh giá độ tin cậy, quy trình kiểm chứng khi có khiếu nại và cơ chế lưu dấu quá trình khai thác. Đây cũng là điều kiện để quản lý vận tải chuyển dần từ kiểm tra theo vụ việc sang quản lý dựa trên mức độ rủi ro, qua đó sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực của cơ quan quản lý và nâng cao khả năng phòng ngừa mất an toàn giao thông.
Cơ chế pháp lý về quản lý và khai thác dữ liệu vận tải đường bộ ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về vận tải. Giá trị của dữ liệu không chỉ nằm ở quy mô thông tin được thu thập mà còn phụ thuộc vào độ chính xác, khả năng liên thông, tính minh bạch trong khai thác và trách nhiệm của các chủ thể tham gia. Khi nguồn gốc dữ liệu, quyền truy cập, mục đích sử dụng và giá trị chứng minh được xác định, kiểm soát chặt chẽ, dữ liệu có thể trở thành nền tảng để chuyển từ quản lý theo vụ việc sang quản lý dựa trên dữ liệu, qua đó nhận diện sớm rủi ro, nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm và phòng ngừa mất an toàn giao thông. Hoàn thiện cơ chế pháp lý về dữ liệu vì vậy là điều kiện quan trọng để quản lý vận tải đường bộ theo hướng hiện đại, minh bạch, an toàn và hiệu quả.
Anh Tuấn
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Công an (2024), Thông tư số 71/2024/TT-BCA ngày 12 tháng 11 năm 2024 quy định quản lý, vận hành, sử dụng hệ thống quản lý dữ liệu thiết bị giám sát hành trình và thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe, Hà Nội.
2. Chính phủ (2024), Nghị định số 165/2024/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2024 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đường bộ và Điều 77 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, Hà Nội.
3. Cục Đường bộ Việt Nam (2024), Báo cáo chuyên đề đánh giá công tác quản lý hoạt động vận tải, dịch vụ vận tải, đào tạo, sát hạch cấp giấy phép lái xe 9 tháng; nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm Quý IV năm 2024, Phòng Quản lý vận tải, phương tiện và người lái, Hà Nội, ngày 08 tháng 10 năm 2024.
4. Cục Đường bộ Việt Nam (2025), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ Quý I năm 2025 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm Quý II năm 2025, Hội nghị giao ban công tác Quý I năm 2025, Hà Nội, tháng 4 năm 2025.
5. Quốc hội (2024a), Luật Đường bộ, Luật số 35/2024/QH15 ngày 27 tháng 6 năm 2024, Hà Nội.
6. Quốc hội (2024b), Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, Luật số 36/2024/QH15 ngày 27 tháng 6 năm 2024, Hà Nội.
7. Quốc hội (2025), Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật số 91/2025/QH15 ngày 26 tháng 6 năm 2025, Hà Nội.


