Thứ Tư, Tháng 9 16, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Chuyện ‘bên lề’ Hội nghị quân sự Trung Giã: Những tư liệu vô giá lần đầu được kể



ĐNA -

Hơn 70 năm đã trôi qua, Trung Giã (Sóc Sơn, Hà Nội) hôm nay đã đổi thay từng ngày, nhưng ký ức về mùa hè lịch sử năm 1954 vẫn vẹn nguyên trong tâm trí những người từng chứng kiến. Đằng sau những cuộc đấu trí căng thẳng tại Hội nghị quân sự Trung Giã là nhiều câu chuyện ít được biết đến, được lưu giữ qua những tư liệu quý và lời kể của chính người trong cuộc. Lật giở từng lớp ký ức ấy, những câu chuyện bên lề hội nghị dần hiện lên, không chỉ soi chiếu một thời khắc đặc biệt của lịch sử dân tộc mà còn chứa đựng những giá trị nhân văn vượt thời gian.

Nhân dân phố Nỷ nô nức đón phái đoàn của ta đến dự Hội nghị quân sự Trung Giã-1954. Ảnh tư liệu

 “Thần tốc” dựng chiến trường không tiếng súng
Đầu tháng 6/1954, một không khí khẩn trương bao trùm huyện Đa Phúc, tỉnh Vĩnh Phúc. Nhận lệnh từ cấp trên, Ban lãnh đạo huyện gồm: Chủ tịch UBHC Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Văn Tứ, Chủ nhiệm Việt Minh Nguyễn Văn Thư và ông Huệ Huyện đội trưởng, kiêm Đại đội trưởng Đại đội 472 đã trực tiếp về làm việc với hai xã Trung Giã và Hồng Kỳ (nay là xã Trung Giã, Hà Nội). Nhiệm vụ tối mật và khẩn cấp lúc bấy giờ được triển khai: chuẩn bị mọi mặt để tổ chức và phục vụ một hội nghị quân sự đặc biệt quan trọng.

Là người trực tiếp tham gia bảo vệ phái đoàn quân sự Pháp tại sự kiện này, Đại tá Công an Nguyễn Văn Tuệ (93 tuổi, trú tại thôn Xuân Sơn, xã Trung Giã), khi đó là chiến sĩ Đại đội 472, Huyện đội Đa Phúc bồi hồi nhớ lại: “Hội nghị diễn ra từ ngày 4/7 đến ngày 27/7/1954 tại khu đồi Đá Ong, thôn Xuân Sơn. Nơi đây rộng khoảng 100ha, trong đó khu ngoài giáp Quốc lộ 3 rộng chừng 30ha. Để vào được khu bên trong phải đi qua con đường dài 300m. Toàn bộ hệ thống an ninh này do dân quân du kích xã Trung Giã và bộ đội địa phương ngày đêm canh gác, bảo vệ nghiêm ngặt.”

Để lán trại vừa bảo đảm tính mỹ thuật, vừa chắc chắn trước thời tiết nắng mưa của mùa hè, huyện Đa Phúc đã huy động khoảng 30 thợ có tay nghề cao từ làng nghề truyền thống tre trúc Thu Hồng (nay thuộc xã Xuân Thu, Sóc Sơn) trực tiếp thiết kế và thi công. Hầu hết vật liệu như tre, nứa, lá cọ… đều do nhân dân các xã Nam Sơn, Hồng Kỳ, Trung Giã và cả các xã giáp ranh thuộc huyện Phổ Yên (Thái Nguyên) tự nguyện quyên góp.

Nhờ sức dân, lòng Đảng, chỉ trong một thời gian ngắn kỷ lục, đến cuối tháng 6/1954, một khối lượng công việc khổng lồ đã hoàn thành. Giữa đồi Đá Ong sừng sững mọc lên hai dãy lán trại cho hai trung đội thuộc Đại đội 472 nghỉ ngơi và làm công tác bảo vệ vòng ngoài (vòng 2); một dãy nhà ăn, bếp hậu cần cùng giếng nước to, trong mát do dân quân đào; và một dãy lán rộng khoảng 50m² làm hội trường chính, nơi chứng kiến những cuộc đấu trí cân não của hai phái đoàn.

Sát hội trường về phía Tây là nơi đóng quân của Trung đội Cảnh vệ Sư đoàn 308 do Thiếu úy Lê Tiến Trọng làm Trung đội trưởng, chịu trách nhiệm bảo vệ vòng trong (vòng 1) của phái đoàn ta. Tại đây, một căn phòng riêng biệt, trang nghiêm cũng được dựng lên để Thiếu tướng Văn Tiến Dũng, Trưởng đoàn đại biểu Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, cùng các cộng sự nghỉ ngơi và thảo luận mật sau mỗi phiên họp gay gắt.

Đúng 9 giờ ngày 4/7/1954, Hội nghị quân sự Trung Giã chính thức khai mạc. Ngay từ sáng sớm, một cảnh tượng chưa từng có đã diễn ra trên mảnh đất Sóc Sơn: hàng nghìn người dân Đa Phúc (lúc đó) rực rỡ cờ hoa, tay cầm biểu ngữ, đứng xếp hàng dài suốt mấy cây số từ phố Nỉ theo Quốc lộ 3 vào tận thôn Xuân Sơn để đón chào phái đoàn của ta. Sự đồng lòng và khí thế của nhân dân như một điểm tựa vững chắc cho phái đoàn ta bước vào trận tuyến không tiếng súng.

Hình ảnh dãy núi mang dòng chữ: “HỒ CHÍ MINH MUÔN NĂM” nhìn từ phia sau khu Trại Ổi, bên Hồ Đồng Quan. Ảnh: Ngô Văn

“Tình huống bất ngờ” bên chân Núi Đôi
“91 tuổi đời, 64 tuổi Đảng, tôi đã đi qua biết bao thăng trầm của lịch sử, nhưng chưa bao giờ quên một tình huống bất ngờ xảy ra ngay trước giờ khai mạc Hội nghị quân sự Trung Giã. Khoảnh khắc ấy không có trong bất kỳ kịch bản ngoại giao nào, nhưng đã khiến phái đoàn quân sự Pháp phải nghiêng mình kính nể chúng ta ngay từ những phút đầu tiên”, Đại tá Nguyễn Văn Tuệ bồi hồi lật giở ký ức.

Đó là buổi sáng mùa hè lịch sử ngày 4/7/1954. Cái nắng gay gắt của vùng trung du Đa Phúc không làm giảm đi không khí khẩn trương, nghiêm ngặt trên toàn tuyến bảo vệ. Đúng 8 giờ, tiếng động cơ gầm vang, xé toạc không gian khi chiếc máy bay “3 càng” chở Đại tá Lennuyeux cùng phái đoàn quân sự Pháp hạ cánh xuống sân bay dã chiến Lương Châu, dưới chân Núi Đôi (thuộc xã Tiên Dược, Sóc Sơn).

Để đón và dẫn đường cho phái đoàn Pháp về nơi họp, Đại đội 472 thuộc Huyện đội Đa Phúc đã bố trí một xe con mui trần chở chỉ huy và một xe quân sự chở tiểu đội vệ binh. Trên đầu cả hai xe, những lá cờ đỏ sao vàng tung bay phần phật trong gió hè, hiên ngang dẫn lộ.

Đoàn xe bắt đầu lăn bánh từ sân bay Lương Châu, vòng qua chân Núi Đôi huyền thoại. Khi chiếc xe chở phái đoàn Pháp cách huyện lỵ Đa Phúc chừng 200 mét, một hiệu lệnh dứt khoát được phát ra. Toàn bộ chiến sĩ vệ binh của ta trên xe đồng loạt đứng dậy. Trong sắc phục nghiêm trang, các anh đồng loạt bồng súng, đánh mặt về phía bên trái (hướng Tây), đưa tay lên vành mũ chào và hô vang: “Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!”. Ba tiếng hô vang thấu núi đồi, át cả tiếng động cơ xe.

Sự dứt khoát và khí thế ngút trời ấy khiến Đại tá Lennuyeux cùng các sĩ quan Pháp và lính lê dương hoàn toàn sững sờ. Theo phản xạ tự nhiên, họ lập tức hướng mắt nhìn theo tầm mắt của các chiến sĩ về phía Tây.

Hiện ra trước mắt họ, sừng sững và kiêu hãnh trên lưng chừng của năm ngọn núi trập trùng, là dòng chữ khổng lồ, vuông vức: “HỒ CHÍ MINH MUÔN NĂM”. Năm ngọn núi tựa như năm ngón tay xòe lên giữa trời xanh, mỗi ngọn núi tạc một chữ nét căng, chạy dài từ trái sang phải đầy uy nghi.

Trước sự hùng vĩ của thiên nhiên và lòng tôn kính tuyệt đối, sự đồng lòng của người lính Việt Nam dành cho vị Lãnh tụ, một điều kỳ diệu đã xảy ra. Như một phản xạ có điều kiện trước cái đẹp và tầm vóc vĩ đại, Đại tá Lennuyeux lập tức đứng nghiêm trên xe. Theo sau vị chỉ huy, toàn bộ sĩ quan trong phái đoàn quân sự Pháp và lính lê dương đồng loạt đứng dậy, đưa tay lên mũ, kính cẩn hướng về dãy núi mang dòng khẩu hiệu thiêng liêng ấy.

Suốt dọc đường từ đó, trải qua những khúc cua quanh co cho đến khi đoàn xe tiến vào địa phận thôn Phù Mã, cách đó gần một cây số, những bàn tay chào của phía bên kia chiến tuyến vẫn giữ nguyên đầy tôn trọng. Vừa bước xuống xe tại đồi Đá Ong để chuẩn bị bước vào phòng họp, Đại tá Lennuyeux vẫn chưa hết trầm trồ, quay sang nói với các sĩ quan tùy tùng: “Thật kỳ diệu! Tôi chưa từng thấy sự kính trọng và tin yêu nào lớn lao như cách người Việt Nam dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh!”.

Ít ai biết rằng, dòng chữ đặc biệt trên vùng núi Sóc ấy đã được đục tạc bằng mồ hôi và lòng quả cảm của quân dân ta từ những ngày đầu kháng chiến. Nằm ở vị trí “thách thức” kẻ thù và chỉ cách bốt đóng quân của Pháp một tầm súng bộ binh, nhưng suốt 9 năm chiến tranh ác liệt, kẻ địch chưa một lần dám quấy phá hay tìm cách xóa bỏ.

Dòng chữ ấy vững chãi đi qua hai cuộc kháng chiến, tồn tại đến tận những năm 1970, khi máy bay Mỹ bắn phá miền Bắc, như một lời khẳng định bất tử: Lòng dân hướng về Bác Hồ chính là bức tường thành kiên cố nhất mà không một thứ vũ khí tân tiến nào có thể lay chuyển.

“Địa chỉ đỏ” trên dãy núi Sóc hùng vĩ
Nhiều thập kỷ trôi qua, chiến tranh đã lùi xa, nhưng giá trị lịch sử và sức lan tỏa của dòng chữ thiêng liêng trên sườn núi năm nào vẫn luôn đau đáu trong lòng những người con đất Sóc Sơn. Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Sóc Sơn lần thứ VII (nhiệm kỳ 1996-2000), ông Nguyễn Tân Chính, khi đó là Bí thư Đảng ủy thị trấn Sóc Sơn (nay là xã Sóc Sơn), đã có một bài tham luận đầy tâm huyết. Ông tha thiết đề xuất việc phục hồi “địa chỉ đỏ”, dòng chữ “HỒ CHÍ MINH MUÔN NĂM” trên vùng núi Sóc, khẳng định đây là một di tích có ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng.

Ngược dòng thời gian về những ngày tháng sục sôi sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (19/12/1946), dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng, Nhân dân xã Lạc Long, huyện Đa Phúc (nay là các xã Sóc Sơn, Hà Nội) đã tạo nên một kỳ tích bằng lòng yêu nước. Năm chữ in hoa khổng lồ đã được tạc thẳng vào sườn của năm ngọn núi trập trùng, kéo dài suốt từ thôn Dược Thượng, xã Tiên Dược, đến thôn Đạc Đức, xã Phù Linh cũ (nay là xã Sóc Sơn).

Những chứng nhân lịch sử trực tiếp tổ chức thi công năm xưa tự hào kể lại: Việc tạc dòng chữ xuất phát từ lòng tôn kính vô bờ bến của Đảng bộ và Nhân dân đối với Bác Hồ, từ niềm tin sắt đá vào đường lối “Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi”. Chẳng ai bảo ai, mọi thế hệ từ cụ già đến em nhỏ thi nhau thu nhặt từng viên đá ở khắp núi đèo, vườn tược, lòng hồ, ngọn suối đem về tập kết. Để định vị hàng chữ khổng lồ giữa địa hình hiểm trở, bà con đã quét vôi nước vào các sợi dây thừng, phơi khô rồi nối lại, căng ngang sát vào sườn núi làm dấu cho bộ phận thi công. Mỗi chữ có chiều cao và chiều rộng lên tới 5 mét, nét chữ rộng 1 mét. Từ Quốc lộ 3 nhìn lên, hàng chữ sừng sững, nổi bật trên nền xanh thẫm của đại ngàn, khắc sâu vào tâm khảm bao thế hệ.

Tác giả và Đại tá Công an Nguyễn Văn Tuệ (bên phải) – Ảnh Ngô Văn

Bản đồ địa lý hôm nay đã ghi nhận những tọa độ lịch sử ấy: Chữ “HỒ” nằm ở khu Đồng Trại, sát Sư đoàn Không quân 371 ngày nay; chữ “CHÍ” ngự tại khu vực Trại Ổi, cạnh hồ Đồng Quan thơ mộng; chữ “MINH” và chữ “MUÔN” nằm tại khu SK2, thuộc địa bàn xã Phù Linh cũ (nay là xã Sóc Sơn); và chữ “NĂM” kiêu hãnh tọa lạc kề sát núi Đá Chồng, ngay bên cạnh tượng đài Thánh Gióng và Khu di tích lịch sử Đền Sóc ngày nay – nơi Thánh Gióng bay về trời, hóa thành một trong “Tứ Bất Tử” của người Việt.

Năm ngọn núi mang dòng chữ “HỒ CHÍ MINH MUÔN NĂM” không chỉ là một biểu tượng văn hóa – lịch sử vô giá của địa phương và cả nước. Vượt qua lằn ranh địa lý, nó đã mang tầm vóc toàn cầu, lay động tâm thức của những người lính phía bên kia chiến tuyến khi họ đặt chân đến Hội nghị quân sự Trung Giã mùa hè năm 1954. Việc bảo tồn, vinh danh và hồi sinh “địa chỉ đỏ” này chính là nén tâm nhang tri ân quá khứ, là bài học giáo dục lòng yêu nước sâu sắc cho thế hệ mai sau, để tinh thần Trung Giã và hào khí núi Sóc mãi mãi trường tồn cùng thời gian.

Ngô Văn Học