Cuộc tập kích Trân Châu Cảng ngày 7/12/1941 đẩy chiến tranh lan rộng khắp Thái Bình Dương, đồng thời thúc đẩy hình thành liên minh chống phát xít Liên Xô – Mỹ – Anh. Tuy nhiên, phía sau mặt trận chung, những tính toán chiến lược nhằm làm suy yếu Liên Xô của phương Tây vẫn tồn tại. Ngay cả khi chiến tranh bước vào hồi kết, các cuộc tiếp xúc và khả năng đàm phán riêng với Đức Quốc xã tiếp tục khoét sâu nghi kỵ giữa Moskva và các đồng minh. “Giải mã hồ sơ” lần theo những diễn biến này, làm rõ những gì diễn ra phía sau liên minh thời chiến.
Sau thất bại của quân Đức tại Stalingrad, mùa hè năm 1943, đại diện các cơ quan tình báo Đức, Anh và Mỹ đã nhóm họp tại thành phố Santander, Tây Ban Nha. Tham dự cuộc gặp có Cục trưởng Tình báo quân sự Đức Quốc xã, Đô đốc Wilhelm Canaris; Giám đốc Cơ quan Tình báo Mật Anh (MI6), Stewart Menzies; và người đứng đầu Cơ quan Tình báo Chiến lược Mỹ (OSS), William Donovan.
Tại cuộc gặp, các bên thảo luận khả năng ký kết một thỏa thuận hòa bình, trong đó thống nhất một trong những điều kiện là loại bỏ Hitler. Tuy nhiên, cuộc chính biến ngày 20/7/1944 của một nhóm sĩ quan Đức nhằm ám sát Hitler thất bại, khiến “kế hoạch Santander” không thể thực hiện.
Ngày 20/8/1943, các nhà lãnh đạo và chỉ huy quân sự cấp cao của Anh, Mỹ và Canada họp tại Quebec, Canada. Bên cạnh việc thảo luận Chiến dịch Overlord, kế hoạch đổ bộ của quân Đồng minh lên Normandy, Pháp, hội nghị còn đề cập một kế hoạch khác mang tên “Rankin”.
Theo kế hoạch này, trong trường hợp quân Đức đứng trước nguy cơ tan rã, Anh và Mỹ sẽ tiến hành đàm phán với giới lãnh đạo Đức Quốc xã, hướng tới việc tập trung lực lượng quân sự nhằm đẩy Hồng quân khỏi Đông Âu.
Đầu tháng 7/1944, Đại sứ Đức tại Thụy Điển Thomsend thông báo cho phía Anh – Mỹ những điều kiện mà Berlin có thể chấp nhận để tiến tới một thỏa thuận hòa bình riêng rẽ. Theo đó, quân đội Liên Xô phải dừng lại ở bờ đông sông Vistula; quân Anh – Mỹ sẽ “hành động vừa phải”, trong khi phía Đức chỉ chống cự Hồng quân một cách chiếu lệ, tạo điều kiện để quân Anh – Mỹ tiến vào nước Đức.
Trên cơ sở đề nghị này, tháng 8/1944, tại Vatican, Thủ tướng Anh Winston Churchill có cuộc tiếp xúc với Thứ trưởng Ngoại giao Đức Ribbentrop. Phía Anh đưa ra một số yêu cầu: Đức phải đầu hàng vô điều kiện và chấp nhận để quân Đồng minh chiếm đóng; sau chiến tranh, các đảng Dân chủ Thiên chúa giáo phải được khôi phục và chiếm đa số trong chính phủ tương lai của Đức; chính phủ lâm thời Đức phải nằm dưới sự kiểm soát của Anh – Mỹ; Đức phải nhanh chóng trao trả những vùng lãnh thổ đã chiếm đóng; đồng thời, người Đức phải hợp tác trong việc loại trừ nguy cơ của chủ nghĩa cộng sản.
Cũng trong thời gian này, Cục trưởng Tình báo đối ngoại Đức (SD), Valter Sellenberg, đến Thụy Điển để thảo luận với phía Anh – Mỹ về những điều kiện sơ bộ cho một giải pháp riêng rẽ. Những cuộc tiếp xúc này tiếp tục bằng các vòng đàm phán tại Bern, Thụy Sĩ, vào cuối tháng 3/1945 giữa trùm tình báo Mỹ Allen Dulles và đại diện phía Đức, Đại tướng SS Volph. Tuy nhiên, hai bên không đạt được thỏa thuận về điều kiện đầu hàng của lực lượng Đức đóng tại Italia.
Các cuộc đàm phán bí mật tại Thụy Sĩ sau này còn trở thành chất liệu cho bộ phim truyền hình tình báo nổi tiếng của Liên Xô “Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân”. Bộ phim do nữ đạo diễn Tachyana Lizonova thực hiện, dựa trên tác phẩm của Iulyan Semenov, nhà văn nổi tiếng với đề tài an ninh – tình báo.
Ngày 13/4/1945, đúng ngày Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt qua đời, Đại sứ Anh tại Thụy Điển gửi về London báo cáo về những điều kiện hòa bình riêng rẽ do Heinrich Himmler đưa ra. Toàn bộ quá trình tiếp xúc Đức – Anh, Đức – Mỹ và kết quả của các cuộc tiếp xúc này được tình báo viên Liên Xô tại London, Konstantin Kunkin, theo dõi, nắm bắt và báo cáo thường xuyên về Trung tâm. Nhờ đó, Moskva nắm được diễn biến sự việc.
Trên cơ sở những báo cáo này, I. V. Stalin quyết định công khai vấn đề bằng cách gửi thư cho phía Mỹ, đề cập các thông tin liên quan đến những cuộc tiếp xúc bí mật. Ngày 25/4, Thủ tướng Anh Winston Churchill gửi điện cho Stalin, xác nhận việc các cuộc tiếp xúc đã diễn ra.
Cũng trong tháng 4/1945, Churchill chỉ thị Bộ Tham mưu Anh xây dựng kế hoạch cho một cuộc chiến tranh có thể xảy ra với Liên Xô, mang mật danh “Operation Unthinkable” (Chiến dịch Không thể tưởng tượng). Theo kế hoạch, cuộc tấn công dự kiến bắt đầu ngày 1/7/1945, với sự tham gia của 47 sư đoàn Anh – Mỹ – Canada và từ 10 đến 12 sư đoàn Đức.
Tuy nhiên, phía Mỹ không ủng hộ phương án này, trong bối cảnh Washington đang trông đợi Liên Xô tham chiến chống Nhật Bản ở Viễn Đông. Tương quan lực lượng tại châu Âu cũng đặt ra những trở ngại lớn. Khi đó, liên quân Anh – Mỹ – Canada có 103 sư đoàn lục quân, trong khi Liên Xô có khả năng huy động 264 sư đoàn. Về không quân, liên quân có 8.798 máy bay, so với 11.742 máy bay của Hồng quân. Hải quân là lĩnh vực liên quân chiếm ưu thế, song lợi thế này khó phát huy vai trò quyết định trong một cuộc chiến chủ yếu diễn ra trên bộ.
Với tương quan lực lượng như vậy, giới hoạch định quân sự Anh nhận định một cuộc chiến với Liên Xô có nguy cơ kéo dài và gây tổn thất rất lớn, trong khi khả năng giành thắng lợi nhanh chóng là hạn chế.
Sau khi Hitler tự sát, quyền lãnh đạo nước Đức Quốc xã được chuyển giao cho Đại đô đốc Karl Dönitz. Chính quyền mới nhanh chóng cử đại diện tiếp xúc với phía Anh – Mỹ, tìm kiếm một thỏa thuận ngừng bắn ở mặt trận phía Tây trong khi tiếp tục chống Hồng quân. Tuy nhiên, Tổng tư lệnh Lực lượng Viễn chinh Đồng minh Dwight D. Eisenhower vẫn yêu cầu quân Đức đầu hàng vô điều kiện và không chấp nhận một thỏa thuận riêng rẽ.
Chiến tranh kết thúc, nhưng sự đối đầu giữa các đồng minh thời chiến nhanh chóng hình thành những đường ranh mới. Trong bối cảnh quan hệ với Liên Xô ngày càng căng thẳng, Mỹ và Anh bắt đầu khai thác một số nhân viên, sĩ quan tình báo cùng các mạng lưới của Đức để thu thập thông tin về Liên Xô và Đông Âu. Những hoạt động này về sau trở thành một bộ phận trong mạng lưới tình báo phương Tây ở giai đoạn đầu Chiến tranh Lạnh.
Cùng với việc tận dụng các nguồn lực tình báo, Mỹ còn triển khai chương trình đưa hàng trăm nhà khoa học, kỹ sư và chuyên gia kỹ thuật Đức sang làm việc. Trong số đó có Wernher von Braun cùng nhiều chuyên gia từng tham gia chương trình tên lửa của Đức Quốc xã. Đội ngũ này về sau đóng vai trò đáng kể trong quá trình phát triển công nghệ tên lửa, chương trình không gian và một số chương trình quân sự của Mỹ. Trong một số trường hợp, quá khứ phục vụ chế độ Đức Quốc xã của các chuyên gia được xử lý theo hướng tạo điều kiện để họ tiếp tục làm việc tại Mỹ.
Không chỉ Mỹ, Canada sau chiến tranh cũng trở thành điểm đến của nhiều người từng phục vụ hoặc cộng tác với chế độ Đức Quốc xã. Trong những thập niên tiếp theo, hàng nghìn cựu quân nhân Đức, thành viên các lực lượng liên quan đến SS và những người bị cáo buộc cộng tác với Đức Quốc xã đã nhập cư, định cư tại Canada.
Có thể thấy, những cuộc tiếp xúc và đàm phán riêng giữa Anh – Mỹ với phía Đức trong những năm cuối chiến tranh đã trở thành một trong những nguyên nhân làm gia tăng nghi kỵ giữa Liên Xô và các đồng minh phương Tây. Từ góc nhìn của Moskva, đó không đơn thuần là những tính toán nhằm sớm kết thúc chiến tranh, mà còn phản ánh sự tồn tại dai dẳng của tư duy chống Liên Xô trong một bộ phận chính giới phương Tây.
Sự nghi kỵ ấy không xuất hiện từ khoảng trống. Quan hệ giữa nước Nga Xô-viết, sau này là Liên Xô, với các cường quốc phương Tây từng trải qua nhiều giai đoạn đối đầu kể từ sau Cách mạng Tháng Mười. Đến trước và trong Chiến tranh thế giới thứ hai, những bất đồng về an ninh, chiến lược quân sự và cách thức đối phó với Đức Quốc xã tiếp tục khoét sâu khoảng cách giữa hai bên. Vì vậy, dù cùng đứng trong liên minh chống phát xít, Moskva vẫn đặc biệt cảnh giác trước việc Anh – Mỹ tiếp xúc riêng với phía Đức, cũng như trước sự chậm trễ trong việc mở mặt trận thứ hai ở Tây Âu.
Những diễn biến cuối chiến tranh càng cho thấy tính mong manh của liên minh được hình thành trước một kẻ thù chung. Khi thất bại của Đức Quốc xã đã trở nên rõ ràng, lợi ích hậu chiến ngày càng chi phối tính toán của mỗi bên. Những cuộc tiếp xúc bí mật, các phương án quân sự và việc chuẩn bị cho trật tự châu Âu sau chiến tranh đã báo hiệu sự chuyển dịch từ hợp tác chống phát xít sang đối đầu giữa hai khối. Chỉ ít lâu sau chiến thắng năm 1945, những rạn nứt ấy trở thành một phần của cuộc Chiến tranh Lạnh kéo dài nhiều thập niên.
Trong hồi ức và các công trình xuất bản sau chiến tranh, một số quan chức cấp cao của Mỹ cũng đề cập những bất đồng, tính toán và nguy cơ rạn vỡ từng tồn tại trong nội bộ phe Đồng minh. Những đánh giá đó, khi được đặt cạnh các tài liệu về quan hệ Liên Xô – phương Tây trong chiến tranh, cho thấy phía sau một liên minh quân sự tưởng như thống nhất vẫn tồn tại những khác biệt sâu sắc về lợi ích và mục tiêu chiến lược.
Nhìn lại toàn bộ quá trình, liên minh Liên Xô – Mỹ – Anh là sự kết hợp có tính lịch sử trước hiểm họa chung của chủ nghĩa phát xít, nhưng không xóa bỏ được những mâu thuẫn vốn tồn tại giữa các bên. Khi kẻ thù chung đi đến thất bại, những mâu thuẫn ấy nhanh chóng trở lại và ngày càng công khai. Chiến tranh thế giới thứ hai chưa kết thúc thì những đường nét đầu tiên của một cuộc đối đầu mới đã bắt đầu hiện ra.
Nguyễn Đăng Song


