Hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo mở ra cơ hội tiếp cận tri thức, công nghệ, phương pháp đào tạo và nguồn lực phát triển, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng sai mục đích. Ngày 18/8/2023, tại Hội nghị tổng kết năm học 2022-2023, triển khai nhiệm vụ năm học 2023-2024 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thượng tướng Lương Tam Quang, khi đó là Thứ trưởng Bộ Công an, cho biết qua công tác bảo đảm an ninh quốc gia đã nhận diện âm mưu lợi dụng hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo nhằm tạo ra lớp người có quan điểm, tư tưởng không phù hợp với đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước.

Hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo: Nhu cầu khách quan của hội nhập
Hợp tác quốc tế là một bộ phận quan trọng trong quá trình phát triển giáo dục. Thông qua các hoạt động liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa học, trao đổi giảng viên và người học, chuyển giao công nghệ, tổ chức hội thảo, tư vấn, tài trợ và đầu tư cơ sở vật chất, ngành giáo dục có điều kiện tiếp cận tri thức, kinh nghiệm, công nghệ và nhiều nguồn lực từ bên ngoài. Pháp luật Việt Nam về giáo dục đại học xác định hợp tác quốc tế nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, tiếp cận nền giáo dục tiên tiến, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời quy định nhiều hình thức hợp tác để hiện thực hóa các mục tiêu này.
Những giá trị mà hội nhập giáo dục mang lại là rõ ràng. Một chương trình hợp tác được tổ chức hiệu quả có thể đưa phương pháp giảng dạy tiên tiến vào nhà trường; một dự án nghiên cứu có thể mở ra những hướng tiếp cận khoa học mới; một học bổng có thể tạo thêm cơ hội học tập, phát triển cho người học; một chương trình trao đổi có thể giúp sinh viên mở rộng tri thức, tầm nhìn và hiểu biết về thế giới. Vì vậy, vấn đề đặt ra không phải là hạn chế hay khép lại cánh cửa hợp tác quốc tế, mà là chủ động lựa chọn đối tác, tiếp nhận có chọn lọc, tổ chức hợp tác có trách nhiệm và bảo đảm các nguồn lực từ bên ngoài được sử dụng đúng mục tiêu phát triển giáo dục.
Hợp tác càng được mở rộng, yêu cầu về quản lý càng phải chặt chẽ và thực chất. Từ đối tác, chương trình, nguồn tài chính, nội dung đào tạo, tài liệu, chuyên gia đến phương thức triển khai và trách nhiệm của từng bên đều cần được xác định rõ ràng, công khai, minh bạch. Văn bản hợp nhất số 09/VBHN-BGDĐT ngày 31/12/2024 quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục cho thấy các hoạt động này đã được đặt trong một khuôn khổ pháp lý cụ thể, với những yêu cầu và trách nhiệm tương ứng đối với các chủ thể tham gia.
Trong quá trình đó, hội nhập quốc tế và bảo đảm an toàn trong giáo dục cần được xem là hai yêu cầu song hành. Một nền giáo dục có năng lực hội nhập cũng phải có năng lực lựa chọn, tiếp nhận và sàng lọc. Mở cửa để tiếp nhận tri thức, kinh nghiệm và nguồn lực quốc tế không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý; tăng cường giao lưu, hợp tác không có nghĩa là bỏ qua việc xem xét nguồn gốc, nội dung, mục tiêu và phương thức triển khai của các chương trình hợp tác. Nguyên tắc xuyên suốt là mọi quan hệ hợp tác phải minh bạch về mục tiêu, rõ ràng về trách nhiệm, phù hợp với mục tiêu phát triển giáo dục và tuân thủ pháp luật Việt Nam. Khi những điều kiện này được bảo đảm, hợp tác quốc tế mới có thể phát huy đầy đủ giá trị, trở thành nguồn lực thiết thực và bền vững cho sự phát triển của giáo dục.
Vì sao giáo dục có thể trở thành lĩnh vực bị lợi dụng
Giáo dục có một đặc điểm quan trọng: đối tượng hướng tới không chỉ là việc truyền thụ kiến thức mà còn là quá trình hình thành và phát triển con người. Nhà trường góp phần xây dựng năng lực nhận thức, phương pháp tư duy, thái độ xã hội, hệ giá trị và định hướng nghề nghiệp của người học. Do đó, nếu một hoạt động giáo dục bị sử dụng cho mục đích khác với mục tiêu công bố, hệ quả có thể không dừng lại ở một sự kiện, một chương trình hay một khóa học, mà còn ảnh hưởng lâu dài đến quá trình hình thành nhận thức của người học. Đặc điểm này đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận giáo dục không chỉ từ góc độ chuyên môn, mà còn từ góc độ quản trị, phòng ngừa rủi ro và bảo đảm an toàn.
Thanh niên, học sinh, sinh viên đang trong quá trình tích lũy tri thức, hoàn thiện thế giới quan và xác lập định hướng tương lai. Khả năng tiếp nhận nhanh những điều mới là một lợi thế, nhưng cũng đòi hỏi người học phải được trang bị năng lực kiểm chứng, đánh giá và sàng lọc thông tin. Theo VietnamPlus, tại Hội nghị tổng kết năm học 2022-2023, triển khai nhiệm vụ năm học 2023-2024, Thượng tướng Lương Tam Quang, khi đó là Thứ trưởng Bộ Công an, cho biết cơ quan chức năng đã nhận diện việc lợi dụng những hạn chế, điểm yếu của lứa tuổi thanh niên, sinh viên để kích động tư tưởng chống đối, tác động đến học sinh, sinh viên và giáo viên. Nội dung này được ông nêu khi đề cập công tác bảo đảm an ninh quốc gia trong lĩnh vực giáo dục.
Trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số, không gian giáo dục cũng không còn giới hạn trong khuôn viên nhà trường hay lớp học. Người học có thể đồng thời tham gia chương trình liên kết đào tạo, hội thảo quốc tế, nhóm nghiên cứu, chương trình học bổng, diễn đàn chuyên môn và nhiều cộng đồng trực tuyến. Những mối quan hệ hình thành từ hoạt động học thuật có thể tiếp tục duy trì trong thời gian dài; một nội dung được trao đổi trong lớp học, hội thảo hoặc diễn đàn chuyên môn cũng có thể nhanh chóng được chia sẻ, lan truyền trên môi trường số. Vì thế, việc nhận diện nguy cơ không thể chỉ tập trung vào từng sự kiện riêng lẻ, mà cần đặt trong tổng thể các mối quan hệ, dòng nguồn lực, nội dung và luồng thông tin gắn với hoạt động giáo dục.
Một vấn đề khác cần lưu ý là những tác động có chủ đích, nếu xuất hiện, không nhất thiết diễn ra trong thời gian ngắn hoặc thể hiện rõ ngay từ đầu. Quá trình này có thể diễn ra qua nhiều bước như thiết lập quan hệ, cung cấp nguồn lực, tổ chức đào tạo, trao đổi chuyên gia, hình thành mạng lưới, truyền tải nội dung và từng bước tạo ảnh hưởng. Xét riêng lẻ, mỗi hoạt động có thể mang hình thức của một chương trình hợp tác, giao lưu hoặc hỗ trợ thông thường. Tuy nhiên, nếu nhiều hoạt động có sự liên kết, cùng hướng tới một mục tiêu khác với mục tiêu công khai ban đầu, ảnh hưởng tích lũy có thể trở nên đáng kể. Do đó, công tác nhận diện và phòng ngừa cần chú ý đến cả quá trình, mối liên hệ giữa các hoạt động và mục tiêu thực tế, thay vì chỉ xem xét từng sự kiện một cách biệt lập.
Nhận diện những phương thức lợi dụng hợp tác quốc tế
Một phương thức cần lưu ý là tác động thông qua nội dung giáo dục. Chương trình đào tạo, giáo trình, tài liệu tham khảo, hội thảo, nghiên cứu và các hoạt động trao đổi học thuật vừa là phương tiện truyền tải tri thức, vừa có thể chuyển tải quan điểm, cách tiếp cận và hệ giá trị. Pháp luật Việt Nam đã đặt ra những yêu cầu cụ thể đối với chương trình giáo dục có yếu tố nước ngoài, trong đó yêu cầu không gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, lợi ích cộng đồng; không có nội dung xuyên tạc lịch sử, ảnh hưởng xấu đến văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục và khối đại đoàn kết dân tộc. Đây là một trong những cơ sở để kiểm soát nội dung, đồng thời bảo đảm hoạt động hợp tác phục vụ đúng mục tiêu giáo dục.
Tuy nhiên, nhận diện nguy cơ chỉ từ nội dung giáo dục là chưa đủ. Nguồn lực tài chính cũng có thể tạo ra những mức độ ảnh hưởng nhất định đối với định hướng, chính sách và phương thức vận hành. Trong hợp tác giáo dục, nguồn lực bên ngoài có thể được cung cấp dưới nhiều hình thức như tài trợ, học bổng, dự án, đầu tư, tín dụng hoặc các chương trình hỗ trợ phát triển. Không thể từ nguồn gốc nước ngoài của một khoản tài chính để mặc nhiên suy diễn rằng nguồn lực đó nhằm mục tiêu chi phối. Song thực tiễn quốc tế cho thấy tài chính trong một số trường hợp có thể đi kèm những điều kiện nhất định. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), chẳng hạn, công khai áp dụng cơ chế “conditionality”, theo đó việc giải ngân một số khoản tài chính gắn với các hành động hoặc điều chỉnh chính sách mà quốc gia vay vốn cam kết thực hiện.
Từ các chương trình hợp tác và nguồn lực đi kèm, những mạng lưới và mối quan hệ lâu dài cũng có thể được hình thành. Dự án hợp tác có thể kết nối các chuyên gia; học bổng hình thành mạng lưới cựu học viên; chương trình đào tạo tạo nên những nhóm người có chung trải nghiệm học thuật; hoạt động tư vấn kỹ thuật có thể góp phần định hình cách tiếp cận trong xây dựng chính sách; tài trợ nghiên cứu có thể tác động đến việc lựa chọn lĩnh vực và thứ tự ưu tiên nghiên cứu. Về bản chất, đây đều là những hoạt động phổ biến trong hợp tác quốc tế và có thể mang lại nhiều lợi ích chính đáng cho giáo dục. Vấn đề chỉ đặt ra khi có căn cứ cho thấy nguồn lực, quan hệ hoặc mạng lưới được sử dụng có chủ đích nhằm tạo ảnh hưởng vượt ra ngoài mục tiêu hợp tác đã công bố. Khi đó, mục tiêu thực tế, cơ chế vận hành, dòng nguồn lực và kết quả của hoạt động hợp tác cần được xem xét một cách thận trọng. OECD cũng lưu ý hợp tác giáo dục xuyên quốc gia có thể giao thoa với các ưu tiên rộng hơn về đối ngoại, phát triển quốc tế, kinh tế, thương mại và an ninh.
Ở một tầng mức khác, cần chú ý khả năng hình thành sự liên kết giữa các yếu tố bên ngoài và chủ thể bên trong. Tác động từ bên ngoài có thể bị giới hạn nếu không có các điều kiện để tiếp nhận và chuyển hóa. Ngược lại, khi nguồn lực, quan hệ hoặc phương thức tác động từ bên ngoài được một số cá nhân, tổ chức hoặc mạng lưới trong nước tiếp nhận, kết nối và chuyển hóa thành hoạt động cụ thể, phạm vi và mức độ ảnh hưởng có thể được mở rộng và duy trì lâu dài hơn. Vì thế, nhận diện nguy cơ không chỉ dừng ở câu hỏi chủ thể bên ngoài là ai, mà còn cần làm rõ chủ thể nào ở bên trong tham gia, họ tiếp nhận nguồn lực hoặc nội dung gì, kết nối theo phương thức nào và thực hiện những hoạt động gì.
Dù vậy, sự tồn tại của quan hệ hợp tác giữa cá nhân, tổ chức trong nước với đối tác nước ngoài tự thân không phải là bằng chứng về sự móc nối bất chính. Việc đánh giá phải dựa trên những căn cứ cụ thể về mục tiêu, hành vi, nguồn lực, phương thức triển khai và mối liên hệ thực tế giữa các chủ thể. Phân biệt rõ hợp tác quốc tế bình thường với hành vi lợi dụng hợp tác không chỉ giúp nhận diện đúng nguy cơ mà còn tránh cách nhìn quy chụp, qua đó vừa bảo đảm yêu cầu an toàn, an ninh, vừa duy trì môi trường thuận lợi cho những hoạt động hợp tác giáo dục chính đáng.

Những dấu hiệu cần nhận diện từ nhà trường đến không gian mạng
Ở cấp độ chương trình và nội dung, cần chú ý những biểu hiện như đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc lịch sử, bóp méo các giá trị văn hóa, kích động định kiến hoặc lồng ghép những nội dung nằm ngoài mục tiêu giáo dục đã được xác định. Tuy nhiên, sự khác biệt về quan điểm, cách tiếp cận hay phương pháp học thuật không thể tự động bị xem là dấu hiệu nguy cơ. Điều quan trọng trong nhận diện là phân biệt được tranh luận, phản biện học thuật bình thường với hành vi cố ý xuyên tạc, kích động hoặc lợi dụng môi trường giáo dục để phục vụ những mục tiêu khác. Do đó, việc đánh giá cần dựa trên những căn cứ cụ thể như nội dung tài liệu, nguồn thông tin, mục tiêu của chương trình, phương pháp truyền đạt, bối cảnh triển khai và tác động thực tế.
Ở cấp độ con người và các mối quan hệ, cần lưu ý những biểu hiện cho thấy hoạt động tiếp xúc có dấu hiệu chuyển hướng khỏi mục tiêu học tập, nghiên cứu hoặc hợp tác ban đầu. Đó có thể là việc tiếp cận có hệ thống, cung cấp thông tin một chiều, tạo sự phụ thuộc về lợi ích hoặc nguồn lực, gây sức ép hay lôi kéo người học tham gia những hoạt động không liên quan đến mục tiêu của chương trình giáo dục. Một biểu hiện đơn lẻ chưa đủ cơ sở để đưa ra kết luận. Tuy nhiên, khi nhiều dấu hiệu cùng xuất hiện, diễn ra trong thời gian dài và có mối liên hệ rõ ràng với những nguồn lực, cá nhân, tổ chức hoặc mạng lưới bên ngoài, nhà trường cần có cơ chế kiểm tra, xác minh và xử lý phù hợp trên cơ sở quy định của pháp luật.
Trên không gian mạng, phạm vi và tốc độ lan truyền của thông tin khiến tác động có thể được mở rộng nhanh hơn. Nội dung xuất hiện trong một chương trình hợp tác có thể tiếp tục được chia sẻ trong các nhóm trực tuyến; một cộng đồng hình thành từ hoạt động học thuật có thể phát triển thành mạng lưới trao đổi rộng hơn; những thông tin thiếu căn cứ, nếu được lặp lại với tần suất cao và lan truyền có tổ chức, có thể ảnh hưởng đến nhận thức của người tiếp nhận. Khi xuất hiện dấu hiệu bất thường, việc đánh giá cần xem xét đồng thời nguồn phát tán, nội dung, tần suất, phương thức lan truyền, cách thức tổ chức và mối liên hệ giữa các tài khoản, nhóm hoặc cộng đồng có liên quan. Bản thân mạng xã hội hay việc hình thành các cộng đồng trực tuyến không phải là nguy cơ; vấn đề cần xem xét là mục đích, nội dung và phương thức sử dụng các không gian này.
Một dấu hiệu khác cần đặc biệt lưu ý là tính tích lũy của tác động theo thời gian. Một học bổng, một khóa đào tạo, một hội thảo hay một chương trình trao đổi riêng lẻ tự thân chưa đủ để cho thấy sự tồn tại của một mục tiêu khác với mục tiêu đã công bố. Tuy nhiên, nếu trong một khoảng thời gian dài liên tục xuất hiện nhiều chương trình có sự trùng lặp đáng kể về nguồn lực, mạng lưới, nhóm người tham gia, định hướng nội dung và các mối quan hệ liên quan, cần đặt các hoạt động đó trong một tổng thể để xem xét thay vì đánh giá từng sự kiện một cách biệt lập. Việc nhận diện ở cấp độ này đòi hỏi không chỉ xem xét từng hành vi cụ thể, mà còn phải làm rõ mối liên hệ giữa các hành vi, chủ thể, nguồn lực và nội dung qua thời gian. Đây cũng là cấp độ khó hơn trong công tác nhận diện, bởi điều cần xác định không chỉ là một hoạt động đã diễn ra như thế nào, mà còn là các hoạt động có thực sự liên kết với nhau, hướng tới một mục tiêu chung hay không.
Chủ động hội nhập, chủ động phòng ngừa
Một trong những yêu cầu quan trọng là bảo đảm tính minh bạch trong toàn bộ quá trình hợp tác, từ lựa chọn đối tác, xác định mục tiêu, nguồn vốn, điều kiện tài chính đến chương trình, chuyên gia, tài liệu, trách nhiệm của các bên và cơ chế đánh giá kết quả. Đối với những dự án có nguồn tài chính lớn hoặc triển khai trong nhiều năm, việc đánh giá không nên chỉ dừng ở hiệu quả trước mắt mà cần xem xét cả tác động dài hạn đối với năng lực tự chủ của cơ sở giáo dục cũng như quá trình xây dựng, thực thi chính sách giáo dục. Quản lý chặt chẽ không có nghĩa là hạn chế hay từ chối nguồn lực bên ngoài, mà nhằm bảo đảm các nguồn lực đó được tiếp nhận, sử dụng trên cơ sở rõ ràng, minh bạch, đúng mục tiêu và phù hợp với lợi ích phát triển của đất nước.
Song song với quản lý nguồn lực là nâng cao năng lực của người học và đội ngũ làm công tác giáo dục. Người học cần được trang bị khả năng kiểm chứng nguồn tin, nhận diện các hình thức thao túng thông tin, đánh giá những điều kiện đi kèm nguồn tài trợ, phân biệt tranh luận học thuật với hành vi kích động, đồng thời nhận biết những mối quan hệ có dấu hiệu chuyển hướng khỏi mục tiêu giáo dục. Giảng viên và cán bộ quản lý cũng cần nâng cao năng lực nhận diện, đánh giá và ứng phó với những rủi ro mới nảy sinh trong môi trường số và các hoạt động hợp tác xuyên biên giới. Phòng ngừa hiệu quả không chỉ dựa vào việc phát hiện, ngăn chặn nguy cơ từ bên ngoài, mà quan trọng hơn là củng cố năng lực tự bảo vệ, khả năng sàng lọc và sức đề kháng từ bên trong mỗi cơ sở giáo dục.
Cùng với đó, cơ chế phối hợp giữa ngành Giáo dục và các cơ quan chức năng cần tiếp tục được củng cố. Ngày 10/1/2026, Bộ Công an và Bộ Giáo dục và Đào tạo ký Quy chế phối hợp công tác, trong đó phạm vi phối hợp bao gồm giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, hợp tác quốc tế và công tác bảo đảm an ninh, trật tự, phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật trong ngành Giáo dục. Cơ chế phối hợp này tạo thêm cơ sở cho việc trao đổi thông tin, phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường, đánh giá nguy cơ và xử lý những vấn đề phát sinh trong thực tiễn, đồng thời góp phần bảo đảm môi trường giáo dục an toàn trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu rộng.
Nhìn tổng thể, nhận diện và phòng ngừa nguy cơ không nhằm thu hẹp hay phủ nhận giá trị của hợp tác quốc tế, mà để bảo đảm giáo dục giữ được thế chủ động trong quá trình hội nhập. Một tác động riêng lẻ, trong thời gian ngắn có thể chưa tạo ra ảnh hưởng đáng kể; nhưng khi nguồn lực, con người, nội dung, mạng lưới và các mối quan hệ liên kết với nhau trong một quá trình dài, tác động tích lũy có thể trở nên sâu rộng hơn. Điều đó đòi hỏi hợp tác quốc tế phải được nhìn nhận đồng thời từ hai phương diện: tận dụng cơ hội tiếp nhận tri thức, công nghệ, kinh nghiệm và nguồn lực phát triển; đồng thời nâng cao năng lực lựa chọn, sàng lọc, quản trị rủi ro và bảo vệ lợi ích chính đáng.
Hội nhập càng sâu rộng, yêu cầu về tự chủ, minh bạch, trách nhiệm và năng lực nhận diện càng cao. Chủ động hội nhập không có nghĩa là mở cửa không điều kiện; chủ động phòng ngừa cũng không đồng nghĩa với thu hẹp hợp tác. Cốt lõi là xây dựng đủ năng lực để lựa chọn đúng đối tác, tiếp nhận đúng nguồn lực, nhận diện đúng nguy cơ và xử lý đúng vấn đề. Đó cũng là năng lực làm chủ quá trình hội nhập, để hợp tác quốc tế thực sự phục vụ mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển đất nước.
Thế Nguyễn – Minh Văn
Tài liệu tham khảo
1. VietnamPlus, “Bộ Công an cảnh báo âm mưu lợi dụng phá hoại trong hợp tác giáo dục”, 19/8/2023.
2. Bộ Công an, “Bộ Công an – Bộ Giáo dục và Đào tạo ký kết Quy chế phối hợp”, 10/1/2026.
3. Chính phủ, Luật Giáo dục đại học số 08/2012/QH13, các quy định về hợp tác quốc tế.
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Văn bản hợp nhất số 09/VBHN-BGDĐT ngày 31/12/2024 về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục.
5. OECD, Policies for transnational collaboration in higher education, 2025.
6. IMF, IMF Conditionality, cập nhật 2025.


