Từ ngày 5 đến 8/11/2026, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ tổ chức Hội nghị Khoa học Công nghệ mở rộng kết hợp Hội thảo Quốc tế Cột sống, với 134 báo cáo khoa học cùng các hoạt động hội chẩn, phẫu thuật và chuyển giao kỹ thuật. Sự kiện mở ra cơ hội nâng cao năng lực điều trị chuyên sâu tại Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời đặt ra bài toán về nhân lực, trang thiết bị và khả năng điều trị tại chỗ khi nhiều người bệnh trong vùng vẫn phải lên TP.HCM chữa bệnh.

Kỹ thuật tăng, dòng người bệnh chưa giảm
Dù nhiều kỹ thuật y tế chuyên sâu đã được triển khai tại Đồng bằng sông Cửu Long, lượng người bệnh trong vùng đến TP.HCM khám, chữa bệnh vẫn lớn. Thực tế này được đặt ra tại tọa đàm về phát triển y tế chất lượng cao cho vùng, khi những con số về nhân lực, giường bệnh, kỹ thuật mới và lượng người bệnh điều trị ngoài vùng cho thấy khoảng cách giữa năng lực y tế tại chỗ và lựa chọn của người dân.
Theo số liệu ngành y tế Cần Thơ, trong 9 tháng đầu năm 2026, các cơ sở khám, chữa bệnh trên địa bàn tiếp nhận hơn 8,7 triệu lượt khám, trên 710.000 lượt điều trị nội trú, công suất sử dụng giường bệnh bình quân đạt 85,7%.
Cùng với nhu cầu khám, chữa bệnh gia tăng, nhiều kỹ thuật chuyên sâu tiếp tục được triển khai. Thành phố đã thực hiện ghép thận sau khi tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật từ Bệnh viện Trung ương Huế; hệ thống máy gia tốc tuyến tính tại Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ được đưa vào vận hành từ tháng 6/2026. Các bệnh viện tuyến cuối trên địa bàn cũng đang phát triển những lĩnh vực như tim mạch can thiệp, điều trị đột quỵ, hồi sức tích cực, ngoại khoa và chấn thương chỉnh hình.
Tuy nhiên, việc mở rộng năng lực điều trị tại vùng chưa đồng nghĩa với sự thay đổi rõ rệt trong lựa chọn nơi khám, chữa bệnh của người dân.
Tại tọa đàm, đại diện Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM cho biết, mỗi năm bệnh viện tiếp nhận gần 2,5 triệu lượt khám ngoại trú, trong đó người dân Đồng bằng sông Cửu Long chiếm gần 40%, tương đương khoảng 1 triệu lượt. Trong khoảng 120.000 lượt điều trị nội trú mỗi năm, người bệnh miền Tây chiếm khoảng 30%.
Những con số này cho thấy lượng người bệnh từ Đồng bằng sông Cửu Long đến điều trị tại một bệnh viện lớn ở TP.HCM vẫn đáng kể, dù các địa phương trong vùng đang từng bước đầu tư, phát triển kỹ thuật chuyên sâu.
Theo các ý kiến tại tọa đàm, thực trạng trên xuất phát từ ba nguyên nhân chính: năng lực chuyên môn và tổ chức hệ thống y tế giữa các địa phương chưa đồng đều; niềm tin của người dân đối với cơ sở y tế tại chỗ còn hạn chế; cùng với thói quen lựa chọn bệnh viện lớn ở TP.HCM đã hình thành trong nhiều năm.
Khó khăn này cũng được ghi nhận tại Cà Mau. Đại diện ngành y tế địa phương cho biết, dù đạt khoảng 13 bác sĩ trên một vạn dân, tỷ lệ người bệnh đi tuyến trên vẫn cao. Một số kỹ thuật chuyên sâu, trang thiết bị và điều kiện phục vụ điều trị tại chỗ chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đến TP.HCM điều trị đều là chuyển tuyến không cần thiết. Với bệnh hiếm, ca bệnh phức tạp hoặc những kỹ thuật chưa được triển khai tại địa phương, việc chuyển đến cơ sở có năng lực chuyên môn cao hơn là cần thiết để bảo đảm an toàn và hiệu quả điều trị.
Vấn đề đặt ra là phải phân định được nhóm bệnh đã có thể điều trị tại địa phương hoặc tại Cần Thơ nhưng người dân vẫn lựa chọn đi xa, với nhóm bệnh buộc phải chuyển tuyến do thiếu bác sĩ chuyên khoa, trang thiết bị, thuốc, vật tư y tế hoặc chưa có quy trình phối hợp điều trị phù hợp.
Bên cạnh năng lực chuyên môn, tiến độ đầu tư hạ tầng y tế cũng là một trở ngại. Dự án Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ quy mô 500 giường, với tổng mức đầu tư điều chỉnh hơn 2.071 tỷ đồng, vẫn đang phải tiếp tục tháo gỡ những vướng mắc về tiến độ. Theo báo cáo của ngành y tế, tỷ lệ giải ngân kế hoạch vốn năm 2026 tại thời điểm báo cáo mới đạt 7,1%.
Trong khi chờ bệnh viện mới hoàn thiện, nhu cầu điều trị ung thư, xạ trị và theo dõi dài ngày của người dân trong vùng vẫn hiện hữu, đặt thêm áp lực lên khả năng đáp ứng của các cơ sở điều trị hiện có.
Bài toán nhân lực cũng không kém phần quan trọng. Trang thiết bị có thể được đầu tư trong thời gian tương đối ngắn, nhưng việc hình thành đội ngũ bác sĩ chuyên khoa, kỹ thuật viên, điều dưỡng và ê-kíp hồi sức đủ năng lực vận hành kỹ thuật cao đòi hỏi quá trình đào tạo, thực hành và tích lũy kinh nghiệm.
Nếu một kỹ thuật chỉ thực hiện được khi có chuyên gia tuyến trên hỗ trợ, hoặc số ca triển khai còn ít, người bệnh khó có đủ cơ sở để tin tưởng lựa chọn điều trị lâu dài tại địa phương.
Thực tế cho thấy, phát triển y tế chuyên sâu không chỉ là bổ sung kỹ thuật mới hay trang thiết bị hiện đại, mà còn phải bảo đảm khả năng vận hành thường xuyên, an toàn và liên tục. Đây là điều kiện quan trọng để người bệnh miền Tây có thêm lựa chọn điều trị ngay tại vùng, thay vì phải đi xa đối với những bệnh lý đã có thể xử lý tại chỗ.
Giảm những chuyến đi xa bằng năng lực điều trị thực tế
Muốn giảm số người bệnh Đồng bằng sông Cửu Long phải lên TP.HCM điều trị, trước hết cần xác định họ đi vì bệnh gì, vì sao phải đi và trường hợp nào có thể điều trị ngay tại vùng. Tuy nhiên, hiện chưa có bộ số liệu công khai, thống nhất cho toàn vùng về số ca chuyển tuyến theo chuyên khoa, nguyên nhân chuyển tuyến và tỷ lệ người bệnh có thể được điều trị tại chỗ.
Đây là khoảng trống dữ liệu cần được giải quyết để việc đầu tư y tế chuyên sâu đi đúng nhu cầu. Từ dữ liệu chuyển tuyến, thanh toán bảo hiểm y tế và hồ sơ bệnh án, ngành y tế các địa phương có thể phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội và các bệnh viện xác định những nhóm bệnh thường xuyên phải đến TP.HCM. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý mới có căn cứ lựa chọn chuyên khoa ưu tiên, phân bổ trang thiết bị, đào tạo nhân lực và xác định bệnh viện đủ khả năng tiếp nhận người bệnh từ các tỉnh trong vùng.
Cùng với đầu tư kỹ thuật, hiệu quả chuyển giao cần được đánh giá bằng khả năng điều trị thường quy, thay vì chỉ ghi nhận số kỹ thuật mới được triển khai. Những chỉ số như số ca thực hiện độc lập, tỷ lệ biến chứng, số trường hợp phải chuyển tiếp, thời gian chờ điều trị và thời gian thiết bị ngừng hoạt động sẽ phản ánh sát hơn năng lực thực tế của từng cơ sở.
Việc công khai những thông tin phù hợp cũng giúp người dân phân biệt kỹ thuật đã được thực hiện ổn định với kỹ thuật đang trong giai đoạn đào tạo hoặc còn phụ thuộc vào chuyên gia tuyến trên.
Một yêu cầu khác là tổ chức lại mạng lưới chuyển tuyến theo hướng tăng liên kết giữa các địa phương. Với những ca bệnh vượt khả năng điều trị của bệnh viện tỉnh nhưng nằm trong năng lực chuyên môn của cơ sở y tế tại Cần Thơ, người bệnh có thể được chuyển đến trung tâm vùng thay vì phải tiếp tục lên TP.HCM.
Ở chiều ngược lại, sau phẫu thuật hoặc hoàn tất giai đoạn điều trị chuyên sâu, người bệnh có thể trở về bệnh viện gần nhà để theo dõi, phục hồi chức năng và tiếp tục dùng thuốc khi đáp ứng điều kiện chuyên môn. Cách tổ chức này vừa giảm quãng đường đi lại, vừa giúp các bệnh viện trong vùng chia sẻ trách nhiệm điều trị theo năng lực từng tuyến.
Để mạng lưới vận hành hiệu quả, thông tin y tế phải được chuyển tiếp cùng người bệnh. Kết quả xét nghiệm, hình ảnh chẩn đoán, đơn thuốc và kế hoạch theo dõi cần được chia sẻ giữa các cơ sở theo quy định, hạn chế tình trạng người bệnh phải thực hiện lại những xét nghiệm không cần thiết. Hồ sơ bệnh án điện tử và các hệ thống thông tin y tế đang triển khai có thể hỗ trợ quá trình này nếu dữ liệu được kết nối và sử dụng hiệu quả.
Tại Cần Thơ, việc hoàn thiện các dự án bệnh viện đang triển khai cũng có ý nghĩa trực tiếp đối với năng lực tiếp nhận người bệnh trong vùng. Trong đó, dự án Bệnh viện Ung bướu quy mô 500 giường cần được theo dõi chặt chẽ về tiến độ, bởi nhu cầu điều trị ung thư thường kéo dài, đòi hỏi kỹ thuật chuyên sâu và sự phối hợp của nhiều chuyên khoa.
Tuy nhiên, tiến độ xây dựng phải gắn với kế hoạch bố trí nhân lực, trang thiết bị, thuốc, vật tư y tế và điều kiện thanh toán bảo hiểm y tế. Một công trình hoàn thành về cơ sở vật chất nhưng chưa có đủ ê-kíp chuyên môn sẽ khó phát huy ngay năng lực điều trị như kỳ vọng.
Tương tự, đào tạo nhân lực cần xuất phát từ nhu cầu và điều kiện vận hành tại từng bệnh viện. Bác sĩ sau khi tiếp nhận kỹ thuật chuyên sâu phải có vị trí làm việc phù hợp, đủ số ca thực hành để duy trì tay nghề, được hỗ trợ bởi trang thiết bị và ê-kíp chuyên môn đồng bộ. Nếu thiếu những điều kiện này, hiệu quả chuyển giao khó duy trì lâu dài.
Các địa phương cũng cần ưu tiên chính sách thu hút, giữ chân nhân lực ở những chuyên khoa còn thiếu, phù hợp với nhu cầu điều trị và khả năng đầu tư của từng cơ sở, thay vì phân bổ nguồn lực dàn trải.
Bên cạnh năng lực chuyên môn, việc tạo dựng niềm tin với người bệnh là yếu tố không thể tách rời. Niềm tin ấy cần được hình thành từ kết quả điều trị có thể kiểm chứng, chất lượng phục vụ ổn định và thông tin rõ ràng. Các bệnh viện có thể công khai danh mục kỹ thuật thực hiện thường quy, lịch khám chuyên gia, quy trình tiếp nhận và đầu mối tư vấn để người dân có cơ sở lựa chọn nơi điều trị phù hợp.
Từ thực tế trên, mục tiêu phát triển y tế chuyên sâu cho Đồng bằng sông Cửu Long cần được đánh giá bằng những chỉ số gắn trực tiếp với người bệnh. Bên cạnh số kỹ thuật mới, cần theo dõi số ca được điều trị tại vùng, tỷ lệ chuyển tuyến theo chuyên khoa, thời gian chờ và kết quả điều trị. Đây cũng là căn cứ để đánh giá hiệu quả đầu tư, nhận diện những khâu còn thiếu và điều chỉnh chính sách phù hợp.
Những số liệu được nêu tại tọa đàm cho thấy, dù năng lực y tế trong vùng từng bước được bổ sung, lượng người bệnh miền Tây tìm đến các bệnh viện lớn ở TP.HCM vẫn đáng kể. Khoảng cách giữa kỹ thuật đã triển khai và khả năng giữ người bệnh điều trị tại vùng vì vậy chưa thể thu hẹp chỉ bằng việc đầu tư thêm máy móc hay mở rộng danh mục kỹ thuật.
Với người dân ở Cà Mau, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long và những địa bàn xa trung tâm, hiệu quả phát triển y tế chuyên sâu sẽ được cảm nhận rõ nhất khi họ biết nơi nào trong vùng có thể điều trị bệnh của mình, được tiếp nhận đúng chuyên khoa, điều trị an toàn và chỉ phải đi thêm hàng trăm kilômét khi thực sự cần thiết.
Trọng Nguyễn






