Thứ Tư, Tháng 1 28, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Bác Hồ và nghệ thuật kiến tạo thời – thế – lực – mưu trong bước ngoặt lịch sử năm 1941



ĐNA -

Ngày 28/01/1941 là dấu mốc lịch sử đặc biệt của cách mạng Việt Nam, ghi dấu sự trở về Tổ quốc của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, qua cột mốc 108 Pác Bó (Cao Bằng). Sự kiện ấy mở ra một thời kỳ phát triển mới, khi phong trào giải phóng dân tộc có sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của nhà cách mạng kiệt xuất, kết tinh ý chí độc lập, khát vọng tự do và con đường cứu nước đúng đắn, đưa dân tộc Việt Nam tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 28/01/1941 là dấu mốc lịch sử đặc biệt của cách mạng Việt Nam, ghi dấu sự trở về Tổ quốc của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, qua cột mốc 108 Pác Bó (Cao Bằng).

Thời – thiên thời của cách mạng Việt Nam
Bác Hồ trở về Tổ quốc trong một thời điểm lịch sử đặc biệt. Chiến tranh thế giới thứ hai lan rộng, làm rung chuyển trật tự thế giới và hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Ở Đông Dương, thực dân Pháp ngày càng suy yếu, trong khi phát xít Nhật từng bước xâm nhập và chiếm đóng, khiến bộ máy thống trị rơi vào tình trạng phân hóa sâu sắc. Mâu thuẫn giữa các thế lực đế quốc trở nên gay gắt, đồng thời mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa thực dân và phát xít cũng ngày càng quyết liệt.

Trong nước, phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ, song việc chỉ đạo chiến lược từ bên ngoài còn gặp nhiều hạn chế. Thực tiễn lịch sử đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có sự lãnh đạo trực tiếp của lãnh tụ và Trung ương Đảng nhằm thống nhất đường lối, tổ chức lực lượng và chuẩn bị cho một bước phát triển mới của cách mạng.

Bác Hồ trở về Tổ quốc đúng vào thời điểm lịch sử đòi hỏi, khi các điều kiện khách quan và chủ quan bắt đầu hội tụ. “Thiên thời” của cách mạng Việt Nam năm 1941 không phải là sự ngẫu nhiên, mà là kết quả của sự vận động của thời đại gắn liền với tầm nhìn chiến lược và sự nhạy bén chính trị của Người. Bác nhận ra rằng cục diện quốc tế đang tạo ra những khe hở trong hệ thống thống trị của chủ nghĩa đế quốc, mở ra cơ hội cho các dân tộc thuộc địa đứng lên giành độc lập. Việc Người lựa chọn trở về Tổ quốc vào thời điểm ấy thể hiện tầm nhìn vượt trước thời đại, khả năng nắm bắt quy luật vận động của lịch sử và nghệ thuật lựa chọn thời cơ hành động một cách chính xác.

Thế – địa thế và thế trận của cách mạng
Ngay sau khi trở về Tổ quốc, Bác Hồ lựa chọn Cao Bằng làm địa bàn hoạt động cách mạng. Đây không phải là một quyết định thuần túy về mặt địa lý, mà là sự lựa chọn mang tính chiến lược, được hình thành trên cơ sở phân tích toàn diện các yếu tố địa hình, chính trị, quân sự và phong trào quần chúng. Cao Bằng là vùng đất có truyền thống yêu nước, có cơ sở cách mạng được gây dựng từ trước, lại giáp biên giới, tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên lạc quốc tế và bảo đảm khả năng cơ động chiến lược trong những tình huống cần thiết.

Xét về phương diện quân sự và địa chính trị, Cao Bằng là địa bàn bất lợi đối với kẻ thù nhưng lại đặc biệt thuận lợi đối với cách mạng. Địa hình hiểm trở với núi non trùng điệp, hang động, sông suối chằng chịt, dân cư phân tán, cùng với sự gắn bó và ủng hộ của đồng bào các dân tộc đối với phong trào cách mạng đã tạo nên một không gian chiến lược độc đáo. Trong tương quan lực lượng lúc bấy giờ, Cao Bằng trở thành khu vực mà kẻ thù khó kiểm soát, trong khi cách mạng có điều kiện đứng vững, củng cố lực lượng và từng bước phát triển.

Từ địa bàn Cao Bằng, Bác Hồ từng bước xây dựng thế trận cách mạng một cách chủ động và linh hoạt. Pác Bó được lựa chọn làm trung tâm chỉ đạo bí mật, nơi hội tụ các tuyến liên lạc trong và ngoài nước, đồng thời là nơi hình thành và triển khai những quyết sách chiến lược quan trọng của cách mạng Việt Nam. Việc tổ chức các cơ sở cách mạng theo phương thức phân tán về không gian nhưng thống nhất về chỉ đạo đã thể hiện rõ nghệ thuật tạo thế của Bác Hồ, trong đó địa thế tự nhiên được kết hợp chặt chẽ với điều kiện xã hội và yêu cầu phát triển lâu dài của cách mạng.

Buổi lễ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (22/12/1944)

Lực – tích lũy sức mạnh của cách mạng
Trên nền tảng của thời cơ và thế trận đã được tạo lập, Bác Hồ tập trung xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng. Tháng 5/1941, dưới sự chủ trì của Người, Hội nghị Trung ương 8 của Đảng Cộng sản Đông Dương được triệu tập. Hội nghị xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, đồng thời gắn kết chặt chẽ với mục tiêu lâu dài của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đây là bước hoàn chỉnh có ý nghĩa quyết định đối với đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới.

Một quyết định quan trọng của Hội nghị là thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh), nhằm mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp mọi lực lượng yêu nước không phân biệt giai cấp, tôn giáo hay xu hướng chính trị. Từ đó, phong trào cách mạng Việt Nam có một mặt trận thống nhất, có cương lĩnh rõ ràng, phương hướng hành động cụ thể và một cơ sở xã hội rộng lớn, vững chắc.

Song song với việc xây dựng lực lượng chính trị, Bác Hồ đặc biệt coi trọng việc hình thành và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng. Từ Cao Bằng, quá trình xây dựng lực lượng từng bước lan tỏa ra toàn khu Việt Bắc và các địa phương trong cả nước, tạo nên sự kết hợp ngày càng chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Sự ra đời của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ngày 22/12/1944 là kết quả tất yếu của quá trình tích lũy lực lượng đó, đồng thời đánh dấu bước trưởng thành mới về chất của cách mạng Việt Nam.

Từ Cao Bằng, thế và lực của cách mạng được bồi đắp một cách bền bỉ, có kế hoạch và có hệ thống. Lực lượng quần chúng ngày càng được giác ngộ và tổ chức chặt chẽ; lực lượng vũ trang từng bước hình thành và phát triển; căn cứ địa cách mạng không ngừng được củng cố và mở rộng. Nhờ đó, khi thời cơ lịch sử chín muồi vào năm 1945, toàn dân tộc Việt Nam đã sẵn sàng bước vào cuộc Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân.

Mưu – nghệ thuật lãnh đạo và sử dụng thời cơ
Nếu thời là điều kiện khách quan, thế là nền tảng chiến lược, lực là sức mạnh vật chất và tinh thần của cách mạng, thì mưu chính là nghệ thuật lãnh đạo và sử dụng thời cơ. Bác Hồ không chỉ nhận diện đúng thời cơ lịch sử, mà còn chủ động tạo ra, nuôi dưỡng và vận dụng thời cơ một cách linh hoạt, chính xác và hiệu quả.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Người thể hiện tư duy chiến lược sắc sảo khi biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa bí mật và công khai, giữa tiến công và bảo toàn lực lượng, giữa mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài. Bác Hồ kiên trì chuẩn bị khi điều kiện chưa chín muồi, đồng thời kiên quyết, kịp thời hành động khi thời cơ xuất hiện. Sự kết hợp hài hòa giữa tính kiên định và tinh thần quyết đoán ấy đã tạo nên bản lĩnh đặc biệt của một lãnh tụ cách mạng kiệt xuất.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của sự kết tinh toàn diện giữa thời – thế – lực – mưu. Đó không phải là sự bùng nổ tự phát, mà là thành quả của một quá trình chuẩn bị lâu dài, khoa học và sáng tạo dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ. Từ Pác Bó đến Hà Nội, từ Cao Bằng đến phạm vi cả nước, con đường cách mạng Việt Nam được định hình và phát triển trên cơ sở gắn kết chặt chẽ giữa tư duy chiến lược đúng đắn và thực tiễn đấu tranh sinh động của quần chúng nhân dân.

Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó – Cao Bằng

Thiên thời – Địa lợi – Nhân hòa trong tư duy chiến lược của Bác Hồ
Nhìn lại bước ngoặt lịch sử năm 1941, có thể thấy rõ tư duy chiến lược đặc sắc của Bác Hồ trong việc vận dụng và kết hợp nhuần nhuyễn thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Thiên thời là sự biến động sâu sắc của cục diện thế giới và khu vực trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ hai; địa lợi là sự lựa chọn đúng đắn Cao Bằng và việc xây dựng căn cứ địa Pác Bó làm trung tâm chỉ đạo cách mạng; nhân hòa là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được tổ chức và phát huy thông qua Mặt trận Việt Minh.

Bằng tư duy chiến lược sắc sảo, Bác Hồ đã tạo dựng cho cách mạng Việt Nam một “thế” vững chắc: thế trong điều kiện tự nhiên, thế trong lòng dân và thế trong tiến trình lịch sử. Từ sự trở về của Người năm 1941 đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cách mạng Việt Nam đã trải qua một quá trình phát triển logic, từ chuẩn bị đến hành động, từ tích lũy đến bứt phá, từ khát vọng độc lập đến hiện thực của một nhà nước dân tộc độc lập.

Trong tiến trình ấy, vai trò của Bác Hồ không chỉ dừng lại ở người lãnh đạo cách mạng, mà còn là nhà kiến tạo chiến lược, người gắn kết sáng tạo lý luận cách mạng với thực tiễn Việt Nam, người biến những quy luật khách quan của lịch sử thành sức mạnh hiện thực của dân tộc. Từ mùa xuân năm 1941, một logic phát triển mới của cách mạng Việt Nam đã được mở ra, đặt nền tảng cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do và phát triển.

Minh Văn