Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong thời kỳ đổi mới, làm rõ quá trình phát triển nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và môi trường. Trên cơ sở đó, bài viết luận giải bước đột phá trong tư duy của Đảng khi xác lập quan điểm “bảo vệ môi trường là trung tâm” trong kỷ nguyên mới, thể hiện sự chuyển đổi từ tiếp cận coi môi trường là yếu tố hỗ trợ sang xác lập môi trường như nền tảng, điều kiện và nguyên tắc tổ chức phát triển. Đây là cơ sở định hướng cho mô hình phát triển nhanh, bền vững và hiện đại của Việt Nam.
Từ khóa: bảo vệ môi trường; phát triển bền vững; kỷ nguyên mới.

Đặt vấn đề
Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường đang trở thành một trong những vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc trong tình hình mới. Thực tiễn cho thấy mô hình phát triển dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên, mở rộng quy mô sản xuất và tăng trưởng theo chiều rộng đã bộc lộ những giới hạn ngày càng rõ nét, kéo theo suy thoái môi trường, gia tăng rủi ro sinh thái và tác động trực tiếp đến chất lượng sống, an ninh và triển vọng phát triển lâu dài.
Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa con người, xã hội và tự nhiên, Đảng ta nhất quán quan điểm phát triển kinh tế gắn với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định: “Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm”(1). Đây là sự bổ sung về nội dung trong tư duy phát triển, phản ánh bước đột phá mới trong nhận thức lý luận của Đảng, chuyển từ tiếp cận coi môi trường là yếu tố hỗ trợ sang xác lập môi trường như một nguyên tắc tổ chức phát triển trong kỷ nguyên mới. Điều này có ý nghĩa quan trọng góp phần định hướng quá trình hoàn thiện mô hình phát triển quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Nội dung
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong thời kỳ đổi mới
Thời kỳ đổi mới ở Việt Nam là giai đoạn phát triển lịch sử, bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1986), đánh dấu sự chuyển đổi toàn diện trong tư duy lý luận và thực tiễn phát triển đất nước, từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Trong đó, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững từng bước trở thành định hướng chiến lược trong tư duy phát triển của Đảng, phản ánh sự chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang phát triển hài hòa, lâu dài và hiệu quả.
Về thuật ngữ môi trường, theo Khoản 1 Điều 3 của Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 nêu rõ: Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên. Ngoài ra, môi trường được hiểu là “bao gồm tất cả các yếu tố tự nhiên, kinh tế – xã hội tác động lên con người”(2). Theo đó, về mặt tự nhiên, “môi trường chính là sinh quyển (biosphere) là khoảng không gian của Trái đất ở đó có sinh vật cư trú và sinh sống thường xuyên”(3). Về mặt xã hội, môi trường được hiểu như một hệ sinh thái nhân văn, là khoa học nghiên cứu tổng thể môi trường liên quan đến đời sống phát triển kinh tế, xã hội của con người.
Do đó, bảo vệ môi trường có thể được hiểu là tổng thể các hoạt động có ý thức của con người nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục các tác động tiêu cực đối với tự nhiên, bảo đảm sự ổn định và khả năng tự phục hồi của hệ sinh thái. Phát triển bền vững là quá trình vận động tiến bộ của xã hội loài người, trong đó sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái được thực hiện trong mối quan hệ thống nhất biện chứng, đáp ứng yêu cầu tồn tại và phát triển toàn diện của con người.
Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau, vừa là tiền đề, vừa là điều kiện, mục tiêu của nhau trong tiến trình phát triển xã hội. Trước hết, bảo vệ môi trường là cơ sở vật chất – sinh thái bảo đảm cho sự tồn tại lâu dài của các hệ thống kinh tế và xã hội; mọi chiến lược phát triển nếu làm suy thoái môi trường đều tất yếu phá vỡ nền tảng tự nhiên của chính quá trình phát triển. Ngược lại, phát triển bền vững cung cấp khung định hướng và cơ chế thực thi để hoạt động bảo vệ môi trường không dừng lại ở các biện pháp khắc phục hậu quả, mà được tích hợp vào toàn bộ mô hình tăng trưởng, tổ chức sản xuất và tiêu dùng xã hội.
Thực tiễn phát triển cho thấy mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, dựa nhiều vào khai thác tài nguyên và mở rộng sản xuất đã bộc lộ ngày càng rõ các giới hạn sinh thái thông qua suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu và sức ép đối với chất lượng sống của xã hội. Đồng thời, tính hữu hạn của tài nguyên, yêu cầu bảo đảm công bằng liên thế hệ và xu hướng quản trị hiện đại đặt ra đòi hỏi phải chuyển đổi phương thức phát triển theo hướng sử dụng hiệu quả tài nguyên, phát triển xanh và tăng cường năng lực quản trị môi trường. Trong bối cảnh đó, bảo vệ môi trường không còn là hoạt động xử lý hệ quả của tăng trưởng mà trở thành điều kiện, nội dung và động lực nội tại của phát triển bền vững, phản ánh bước chuyển từ tư duy phát triển đơn tuyến sang tư duy phát triển tích hợp trong thời kỳ đổi mới.
Quá trình nhận thức của Đảng ta về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong thời kỳ đổi mới
Nhận thức của Đảng ta về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững từ Đại hội VI đến nay đã không ngừng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện cùng với tiến trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Từ chỗ xem môi trường như hệ quả của tăng trưởng kinh tế, Đảng ta từng bước khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa kinh tế, xã hội và môi trường, xác lập phát triển bền vững là định hướng chiến lược, trong đó bảo vệ môi trường trở thành nền tảng và điều kiện của phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
Đại hội VI của Đảng (1986) đã thể hiện quan điểm bảo vệ môi trường trong “Phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 1986 – 1990”, nhấn mạnh yêu cầu “xây dựng và bảo vệ vốn rừng” nhằm “bảo vệ môi trường sống”(4). Điều này cho thấy, ngay từ thời điểm khởi xướng công cuộc đổi mới, yếu tố môi trường sinh thái đã được xem là một nội dung quan trọng trong định hướng phát triển kinh tế – xã hội.
Đại hội VII của Đảng (1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã nhấn mạnh yêu cầu: “tuân thủ nghiêm ngặt việc bảo vệ môi trường, giữ gìn cân bằng sinh thái cho thế hệ hiện tại và các thế hệ mai sau”(5). Việc đặt vấn đề môi trường trong mối liên hệ với trách nhiệm liên thế hệ phản ánh bước tiến quan trọng trong nhận thức, khi phát triển không còn bị giới hạn trong lợi ích trước mắt mà được đặt trong tầm nhìn lâu dài của dân tộc.
Văn kiện Đại hội VIII (1996), Đảng tiếp tục khẳng định “tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”(6). Việc đưa yêu cầu bảo vệ môi trường vào hệ mục tiêu phát triển chung cho thấy Đảng ta thể hiện cách tiếp cận tổng hợp, coi môi trường là một bộ phận cấu thành của mục tiêu phát triển toàn diện.
Đại hội IX của Đảng (2001) đánh dấu bước phát triển mới khi Đảng khẳng định rõ đường lối “bảo vệ và cải thiện môi trường” như một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước(7). Việc sử dụng đồng thời hai khái niệm “bảo vệ” và “cải thiện” cho thấy nhận thức của Đảng đã có bước phát triển mới, môi trường cần được gìn giữ trước các nguy cơ suy thoái, phải được chủ động cải thiện, phục hồi trong những khu vực đã và đang chịu tác động tiêu cực của quá trình phát triển.
Đại hội XI của Đảng (2011) tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội đối với môi trường, trong đó yêu cầu “Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của cán bộ lãnh đạo các cấp về bảo vệ môi trường… xử lý nghiêm các cơ sở gây ô nhiễm, khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường. Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình, dự án đầu tư. Các dự án, công trình đầu tư xây dựng mới bắt buộc phải thực hiện nghiêm các quy định bảo vệ môi trường”(8).
Đại hội XII của Đảng (2016) tiếp tục phát triển tư duy về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đại hội xác định phương hướng quan trọng là “thu hút mạnh hơn mọi nguồn lực đầu tư để phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường”(9). Việc đặt yêu cầu bảo vệ môi trường song hành với thu hút đầu tư cho thấy Đảng đã nhận thức rõ rằng tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn mới không thể dựa thuần túy vào mở rộng quy mô đầu tư, mà phải gắn với chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của phát triển.
Đại hội XIII của Đảng (2021) đã thể hiện bước phát triển rõ rệt trong tư duy về bảo vệ môi trường khi định hướng phát triển giai đoạn 2021 – 2030, nhấn mạnh yêu cầu “lấy bảo vệ môi trường sống và sức khoẻ nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường”(10). Việc đặt “môi trường sống và sức khỏe nhân dân” ở vị trí mục tiêu hàng đầu cho thấy môi trường đã được nhìn nhận trực tiếp từ góc độ chất lượng sống và phúc lợi con người, chứ không chỉ như một điều kiện hay lĩnh vực hỗ trợ cho phát triển kinh tế. Đồng thời, định hướng xây dựng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn phản ánh sự chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình tăng trưởng truyền thống sang mô hình phát triển dựa trên hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm phát thải và bảo vệ hệ sinh thái.
Đại hội XIV của Đảng (2026) đã thể hiện được bước tiến quan trọng, mang tính đột phá trong tư duy lý luận của Đảng về bảo vệ môi trường. Nghị quyết của Đại hội đã xác định: “Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm”. Sự khẳng định này không chỉ là sự bổ sung một thành tố mới vào nội hàm của nhiệm vụ trung tâm, mà là sự tái cấu trúc căn bản tư duy phát triển, phản ánh bước phát triển về chất trong nhận thức lý luận của Đảng về mối quan hệ giữa tăng trưởng, tiến bộ xã hội và môi trường sinh thái.
Việc đưa bảo vệ môi trường lên vị thế trung tâm cho thấy Đảng đã phát triển sáng tạo lý luận phát triển bền vững hiện đại, dựa trên ba trụ cột kinh tế – xã hội – môi trường, đồng thời gắn với chủ nghĩa nhân văn sinh thái, trong đó con người được đặt trong môi quan hệ hài hòa với tự nhiên. Trên nền tảng đó, quan điểm của nhà nước về phát triển bền vững coi bảo vệ môi trường là một trụ cột cốt lõi của quản trị quốc gia hiện đại. Đây là sự đáp ứng tất yếu trước những yêu cầu cấp bách của bối cảnh phát triển mới. Thế giới đang đứng trước những thách thức môi trường toàn cầu chưa từng có, buộc các quốc gia phải xem xét lại mô hình tăng trưởng truyền thống. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đặt bảo vệ môi trường ở vị trí trung tâm vừa mang ý nghĩa định hướng lâu dài, vừa là yêu cầu thực tiễn nhằm thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, bao trùm và phát thải thấp; bảo đảm sự hài hòa giữa lợi ích ngắn hạn của tăng trưởng và lợi ích dài hạn của quốc gia – dân tộc, giữa nhu cầu phát triển hiện tại và trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai.
Đột phá nhận thức của Đảng ta về “bảo vệ môi trường là trung tâm” trong kỷ nguyên mới
Trong bối cảnh các giới hạn sinh thái ngày càng trở thành nhân tố chi phối tiến trình phát triển toàn cầu, nhận thức của Đảng về bảo vệ môi trường đã có bước phát triển mới cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Sự chuyển biến này phản ánh quá trình đổi mới nhận thức từ mô hình phát triển thiên về mở rộng quy mô sang phát triển dựa trên chất lượng, hiệu quả và khả năng duy trì lâu dài của hệ thống “tự nhiên – con người – xã hội”.
Đột phá về mặt lý luận
Thứ nhất, bảo vệ môi trường được xác lập là một trong ba trụ cột của phát triển bền vững.
Sự khẳng định này đánh dấu bước đột phá quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng, khi chuyển từ cách tiếp cận xem môi trường như một lĩnh vực cần quản lý sang nhận thức môi trường là cấu phần nền tảng của mô hình phát triển. Nếu trong các giai đoạn trước, đặc biệt thời kỳ đầu đổi mới, bảo vệ môi trường chủ yếu được đặt trong logic “hạn chế tác động tiêu cực của công nghiệp hóa”, thì trong nhận thức mới, môi trường được xác lập ngang hàng với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội trong cấu trúc ba trụ cột của phát triển bền vững, đồng thời giữ vai trò nền tảng bảo đảm sự vận hành ổn định của toàn bộ hệ thống phát triển. Việc đặt môi trường vào vị trí trụ cột, thậm chí giữ vai trò nền tảng, đã vượt qua tư duy phát triển đơn lẻ, ngắn hạn trước đây, hướng tới tư duy hệ thống và dài hạn, trong đó bảo vệ môi trường trở thành điều kiện tiên quyết bảo đảm chất lượng tăng trưởng và sự bền vững của tiến bộ xã hội.
Sự đột phá này còn thể hiện ở việc chuyển từ mô hình “tăng trưởng trước – xử lý môi trường sau” sang mô hình phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế carbon thấp, coi môi trường là động lực nội sinh của tăng trưởng dài hạn. Qua đó, nhận thức mới của Đảng đã góp phần định hình hệ phát triển hiện đại, trong đó sự hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường trở thành nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt, bảo đảm lợi ích lâu dài của quốc gia, dân tộc và trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai.
Thứ hai, bảo vệ môi trường được nhận thức như điều kiện và tiền đề của phát triển bền vững, chứ không phải là hệ quả của quá trình sản xuất vật chất.
Đây là bước đột phá về chất trong tư duy lý luận của Đảng, thể hiện sự chuyển đổi quan niệm phát triển mang tính biện chứng và hệ thống. Nếu trong mô hình tăng trưởng truyền thống, môi trường thường bị xem là “chi phí ngoại sinh” của phát triển, chỉ được quan tâm xử lý sau khi các hoạt động sản xuất – kinh doanh đã gây ra ô nhiễm và suy thoái, thì trong nhận thức mới, môi trường được xác lập là tiền đề tồn tại của mọi quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Tức là không thể có phát triển theo đúng nghĩa nếu các điều kiện sinh thái – tự nhiên, vốn là nền tảng vật chất của đời sống xã hội, bị phá vỡ hoặc suy kiệt.
Sự chuyển biến này cũng phản ánh kinh nghiệm thực tiễn sâu sắc của Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, khi nhiều hệ lụy môi trường đã bộc lộ rõ, buộc phải trả giá bằng chi phí khắc phục lớn và suy giảm chất lượng sống của nhân dân. Trên cơ sở đó, việc xác lập môi trường như điều kiện tiên quyết của phát triển có ý nghĩa lý luận sâu sắc, định hướng cho sự đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, phát thải thấp và sử dụng hiệu quả tài nguyên.
Thứ ba, phát triển tư duy biện chứng về quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên trong điều kiện mới.
Đây là một đột phá lý luận quan trọng, phản ánh sự phát triển sâu sắc trong nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên trong bối cảnh toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu và cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay. Con người không đứng ngoài hay đứng trên tự nhiên, mà tồn tại trong mạng lưới quan hệ phụ thuộc lẫn nhau với hệ sinh thái.
Trong điều kiện mới, khi Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu và chịu tác động trực tiếp của các vấn đề môi trường xuyên biên giới, tư duy biện chứng về quan hệ con người, xã hội và tự nhiên còn mở rộng sang bình diện toàn cầu. Môi trường không còn bị giới hạn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà trở thành không gian sinh tồn chung của toàn nhân loại, nơi các tác động sinh thái có tính lan tỏa và liên kết chặt chẽ. Điều này đòi hỏi sự chuyển đổi từ tư duy phát triển cục bộ sang tư duy phát triển có trách nhiệm toàn cầu, trong đó Việt Nam vừa bảo vệ lợi ích quốc gia, vừa tham gia tích cực vào các nỗ lực chung nhằm bảo vệ hệ sinh thái Trái đất.
Sự phát triển tư duy biện chứng về quan hệ con người, xã hội và tự nhiên cũng kéo theo sự thay đổi trong hệ giá trị phát triển. Thay vì đề cao tăng trưởng kinh tế thuần túy, mô hình phát triển mới hướng tới sự hài hòa giữa lợi ích vật chất và giá trị sinh thái, giữa nhu cầu hiện tại và quyền lợi của các thế hệ tương lai. Qua đó, Đảng ta đã nâng tầm nhận thức từ cách tiếp cận quản lý môi trường đơn ngành sang cách tiếp cận sinh thái học xã hội, trong đó môi trường trở thành không gian tương tác của các quá trình kinh tế, văn hóa, xã hội và đạo đức.
Thứ tư, môi trường trở thành yếu tố cấu thành chất lượng sống, công bằng xã hội và phát triển con người toàn diện.
Đây là bước chuyển căn bản trong tư duy lý luận của Đảng khi môi trường không còn được nhìn nhận như một điều kiện tồn tại bên ngoài của sự phát triển, mà trở thành một thành tố nội tại cấu thành chất lượng sống và chỉ số phát triển con người. Sự mở rộng quan trọng từ tư duy phát triển kinh tế – kỹ thuật sang tư duy phát triển lấy con người làm trung tâm trong chỉnh thể sinh thái, xã hội.
Môi trường được xác định là yếu tố nền tảng của chất lượng sống. Chất lượng sống không chỉ được đo bằng thu nhập hay mức tiêu dùng vật chất, mà còn bao gồm chất lượng không khí, nguồn nước, an toàn thực phẩm, không gian xanh và sự ổn định của hệ sinh thái. Việc đưa môi trường vào nội hàm của chất lượng sống phản ánh sự hội tụ giữa tư duy phát triển bền vững và quan niệm phát triển con người hiện đại, trong đó hạnh phúc và an ninh sinh thái trở thành tiêu chí quan trọng của tiến bộ xã hội. Nhận thức mới của Đảng ta đặt vấn đề môi trường trong mối liên hệ với công bằng phân phối lợi ích và rủi ro sinh thái, qua đó khẳng định rằng công bằng xã hội bao gồm cả vấn đề phân phối thu nhập, cơ hội và quyền được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh.
Đột phá về mặt thực tiễn
Thứ nhất, xanh hóa và tuần hoàn mô hình tăng trưởng theo giới hạn sinh thái.
Đây là bước chuyển căn bản trong thực tiễn phát triển từ mô hình “tăng trưởng theo chiều rộng” dựa trên khai thác tối đa tài nguyên sang mô hình tăng trưởng dựa trên sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải và tái tạo hệ sinh thái.
Tính đột phá của xanh hóa và mô hình tăng trưởng tuần hoàn được thể hiện trong việc chuyển từ mô hình kinh tế truyền thống sang kinh tế tuần hoàn. Trong mô hình truyền thống, tăng trưởng kinh tế luôn đi đôi với khai thác, tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên, từ đó sản xuất, tiêu dùng và cuối cùng là loại bỏ sản phẩm khi không còn giá trị sử dụng. Ngược lại, mô hình kinh tế tuần hoàn là một mô hình kinh tế trong đó các hoạt động thiết kế, sản xuất và dịch vụ được tổ chức nhằm kéo dài tuổi thọ của vật chất và loại bỏ tác động tiêu cực đến môi trường. Thay vì mô hình kinh tế tuyến tính truyền thống (khai thác, sản xuất, tiêu dùng, và thải bỏ), kinh tế tuần hoàn hướng tới việc tái sử dụng, sửa chữa, tân trang, tái chế và tái sản xuất các sản phẩm và vật liệu.
Sự đột phá còn thể hiện ở việc quy hoạch phát triển, lựa chọn dự án đầu tư và tổ chức không gian kinh tế – xã hội đều phải đánh giá đầy đủ sức chịu tải của môi trường và rủi ro sinh thái dài hạn. Điều này phản ánh sự vận dụng những đột phá lý luận vào trong thực tiễn: bảo vệ môi trường là điều kiện tiên quyết để duy trì tăng trưởng ổn định và khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc sinh thái toàn cầu. Mặt khác, xanh hóa mô hình tăng trưởng còn mở ra khả năng tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng, giảm phụ thuộc vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ, hướng tới nền kinh tế tri thức, kinh tế số và kinh tế carbon thấp.
Thứ hai, chủ động tham gia quản trị môi trường toàn cầu và thực hiện cam kết quốc tế.
Điều này có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống các đột phá thực tiễn, bởi nó mở rộng không gian bảo vệ môi trường từ phạm vi quốc gia sang bình diện khu vực và toàn cầu, đồng thời nâng tầm vấn đề môi trường từ lĩnh vực quản lý chuyên ngành trở thành một trụ cột của chiến lược phát triển và đối ngoại quốc gia. Việc chủ động tham gia quản trị môi trường toàn cầu và thực hiện cam kết quốc tế là bước đột phá về sự chuyển biến tư duy thích ứng thụ động sang chủ động tham gia và định hình các cơ chế quản trị môi trường đa phương, thông qua việc tích cực thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ tài nguyên nước, phát triển năng lượng tái tạo và thúc đẩy kinh tế xanh. Việc nội luật hóa các tiêu chuẩn môi trường quốc tế, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao năng lực giám sát, đánh giá tác động môi trường cho thấy môi trường đã trở thành tiêu chí định hướng cho hoạch định chính sách và lựa chọn mô hình tăng trưởng.
Đột phá này còn được thể hiện ở việc tích hợp vấn đề môi trường vào chiến lược đối ngoại và hợp tác phát triển, qua đó tranh thủ nguồn lực quốc tế về tài chính xanh, công nghệ sạch và tri thức quản trị hiện đại nhằm phục vụ chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong nước. Sự kết hợp giữa trách nhiệm toàn cầu và lợi ích quốc gia phản ánh bước tiến trong tư duy phát triển: bảo vệ môi trường vừa là nghĩa vụ, vừa là cơ hội để tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng phát thải thấp, nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm an ninh sinh thái.
Thứ ba, hài hòa lợi ích ngắn hạn và dài hạn, tối ưu hóa lợi ích bền vững.
Đây là một đột phá thực tiễn có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc trong định hướng phát triển hiện nay. Đột phá này có vai trò như một nguyên tắc nền tảng chi phối toàn bộ quá trình hoạch định và thực thi chính sách, nhằm khắc phục triệt để tư duy phát triển nhiệm kỳ, cục bộ và chạy theo tăng trưởng trước mắt từng tồn tại trong một số giai đoạn trước.
Trong thực tiễn, nội dung của đột phá được biểu hiện nổi bật ở sự chuyển dịch từ tư duy phát triển ngắn hạn sang tư duy chiến lược dài hạn trong quản trị quốc gia và tổ chức xã hội. So với trước đây, khi việc thu hút đầu tư bằng mọi giá hoặc khai thác tối đa tài nguyên được xem là động lực chủ yếu cho tăng trưởng, hiện nay, phát triển kinh tế, công bằng, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm, được quán triệt rõ rệt trong hoạch định chính sách. Các quyết sách phát triển đã chú trọng hơn đến đầu tư dài hạn cho hạ tầng số, giáo dục, khoa học – công nghệ và chuyển đổi xanh; doanh nghiệp chuyển từ mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận ngắn hạn sang xây dựng chuỗi giá trị bền vững, đổi mới sáng tạo và quản trị rủi ro dài hạn; trong khi xã, hội, chính sách an sinh và phát triển con người được định hướng nâng cao năng lực thích ứng thay vì chỉ giải quyết khó khăn trước mắt.
Thứ tư, đổi mới phương thức quản trị quốc gia theo hướng sinh thái và số hóa.
Đây là một đột phá thực tiễn mang tính cấu trúc, phản ánh bước chuyển từ mô hình quản trị truyền thống sang mô hình quản trị hiện đại, thích ứng với yêu cầu phát triển bền vững và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đột phá này giữ vị trí then chốt trong việc hiện thực hóa quan điểm “bảo vệ môi trường là trung tâm”, bởi vì quản trị quốc gia là công cụ điều hành phát triển, cơ chế điều phối hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.
Đột phá này biểu hiện rõ ở việc chuyển từ quản lý môi trường thụ động sang quản trị sinh thái chủ động, thông minh và dự báo. So với trước đây, khi công tác bảo vệ môi trường chủ yếu tập trung vào kiểm soát ô nhiễm sau phát sinh, thì hiện nay phương thức quản trị đã hướng tới phòng ngừa, giám sát theo thời gian thực và ra quyết định dựa trên dữ liệu số về tài nguyên, khí hậu và hệ sinh thái. Việc xây dựng chính phủ số, kinh tế số và xã hội số tạo nền tảng cho quản trị môi trường thông minh, cho phép tích hợp các hệ thống quan trắc, cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia và các nền tảng phân tích dự báo nhằm cảnh báo sớm rủi ro sinh thái, thiên tai và biến đổi khí hậu. Đồng thời, quản trị theo hướng sinh thái còn thể hiện ở việc lồng ghép tiêu chí môi trường vào toàn bộ chu trình chính sách, từ quy hoạch phát triển, phân bổ nguồn lực đến đánh giá hiệu quả, bảo đảm mọi quyết định phát triển đều tính đến “giới hạn sinh thái” và sức chịu tải của môi trường.
Kết luận
Quan điểm “bảo vệ môi trường là trung tâm” phản ánh bước phát triển mới trong nhận thức lý luận của Đảng về phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới. Đây là sự điều chỉnh ưu tiên chính sách, sự chuyển đổi trong tư duy phát triển, từ coi môi trường là yếu tố hỗ trợ sang xác lập môi trường như nền tảng, điều kiện và nguyên tắc tổ chức phát triển. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tổng kết thực tiễn đổi mới, Đảng ta đã từng bước hình thành cách tiếp cận phát triển tích hợp, bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và cân bằng sinh thái, qua đó tạo nền tảng lý luận và thực tiễn cho con đường phát triển nhanh, bền vững và có trách nhiệm của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
NCS Bùi Duy Hùng – Học viện Chính trị/Bộ Quốc Phòng
Chú thích tài liệu trích dẫn:
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, ngày 23/01/2026, Hà Nội, tr.04.
- Hà Thị Thành và cộng sự (2008), Môi trường và phát triển bền vững, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội, tr5.
- Nguyễn Thị Phương Loan (2004), Môi trường và con người, NXB ĐHQG, Hà Nội, tr 73-84.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), “Phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế – xã hội trong 5 năm 1986 – 1990”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam: Hệ thống văn kiện – tư liệu Đảng, https://tulieuvankien. dangcongsan.vn.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam: Hệ thống văn kiện – tư liệu Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), “Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam: Hệ thống văn kiện – tư liệu Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), “Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam: Hệ thống văn kiện – tư liệu Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), “Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam: Hệ thống văn kiện – tư liệu Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), “Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam: Hệ thống văn kiện – tư liệu Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2021),“Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam: Hệ thống văn kiện – tư liệu Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn.
Tài liệu tham khảo:
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Phương Loan (2004), Môi trường và con người, NXB ĐHQG, Hà Nội.
- Hà Thị Thành và cộng sự (2008), Môi trường và phát triển bền vững, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội.


