Chuyển đổi số quốc gia mở ra nhiều cơ hội tiếp cận dịch vụ công và tiện ích số, song cũng làm gia tăng bất bình đẳng số và thiếu hụt vốn số. Khảo sát 1.513 người dân tại 6 xã, phường của tỉnh Bắc Ninh (11/2025) cho thấy, dù hạ tầng viễn thông đã phủ rộng, mức độ tiếp cận và thụ hưởng lợi ích số vẫn phân hóa theo học vấn, tuổi tác, giới tính và vị thế xã hội. Bài viết phân tích năm chiều cạnh bất bình đẳng số và ba dạng thiếu hụt vốn số tại Bắc Ninh, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình chuyển đổi số đến năm 2030.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 xác định đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, đột phá trong chuyển đổi số; phát triển chính quyền số, xã hội số và công dân số phục vụ người dân, doanh nghiệp là một trong năm bài học kinh nghiệm quan trọng của nhiệm kỳ 2020-2025. Đồng thời, Nghị quyết cũng đặt mục tiêu xây dựng và phát triển văn hóa, xã hội và con người Bắc Ninh toàn diện, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống gắn với ứng dụng công nghệ, qua đó biến văn hóa thành “sức mạnh mềm” và nguồn lực quan trọng cho phát triển trong giai đoạn mới.
Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh và số liệu của Thông tấn xã Việt Nam, từ ngày 01/7/2025, tỉnh Bắc Ninh có quy mô dân số khoảng 3,62 triệu người. Là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về chuyển đổi số và là trung tâm sản xuất công nghệ điện tử trọng điểm, Bắc Ninh sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế số và xã hội số. Báo cáo của các sở, ngành cho thấy hạ tầng số tiếp tục được mở rộng với 4G phủ sóng 100% xã, phường, 5G được triển khai thí điểm tại các khu công nghiệp và tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến toàn trình đạt trên 92%.
Tuy nhiên, các chỉ số hạ tầng và dịch vụ chưa phản ánh đầy đủ mức độ thụ hưởng thành quả chuyển đổi số của người dân. Câu hỏi đặt ra là: Liệu mọi nhóm xã hội đều có cơ hội tiếp cận và khai thác bình đẳng các lợi ích của công nghệ số, hay vẫn tồn tại những nhóm đang bị bỏ lại phía sau?
Để trả lời câu hỏi này, nghiên cứu sử dụng dữ liệu khảo sát xã hội học định lượng đối với 1.513 người dân từ 15 tuổi trở lên tại 6 xã, phường đại diện của tỉnh Bắc Ninh sau sáp nhập địa giới hành chính (phường Kinh Bắc, phường Mão Điền, xã Gia Bình, xã Tiên Du, phường Việt Yên và xã Lục Ngạn), được thực hiện từ tháng 9 đến tháng 11/2025 bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích hai vấn đề trọng tâm là bất bình đẳng số (digital inequality) và vốn số (digital capital) trong bối cảnh chuyển đổi số của tỉnh Bắc Ninh.
Lý luận về khoảng cách số, bất bình đẳng số và vốn số
Khái niệm khoảng cách số (digital divide) từng là cách tiếp cận chủ đạo trong nghiên cứu và hoạch định chính sách giai đoạn đầu của kỷ nguyên internet, với trọng tâm là sự khác biệt trong khả năng tiếp cận công nghệ thông tin. Tuy nhiên, Jan van Dijk (2020) cho rằng cách tiếp cận này không còn phản ánh đầy đủ thực tiễn chuyển đổi số và đề xuất khái niệm bất bình đẳng số (digital inequality), nhấn mạnh sự phân hóa không chỉ ở khả năng tiếp cận mà còn ở kỹ năng, cách thức sử dụng và mức độ thụ hưởng lợi ích từ công nghệ số. Trên cơ sở đó, Paul DiMaggio và Eszter Hargittai (2001) xây dựng mô hình bốn cấp độ gồm tiếp cận (access), kỹ năng (skills), sử dụng (use) và kết quả/lợi ích (outcomes), cho rằng bất bình đẳng ở các cấp độ sau thường sâu sắc và bền vững hơn nhiều so với khác biệt về khả năng tiếp cận ban đầu.
Trên nền tảng lý thuyết vốn của Pierre Bourdieu, Massimo Ragnedda (2018) phát triển khái niệm vốn số (digital capital), coi năng lực số là một dạng vốn có thể chuyển hóa thành lợi ích kinh tế, xã hội và văn hóa. Theo cách tiếp cận này, vấn đề cốt lõi không chỉ là ai có thể sử dụng công nghệ, mà là ai có đủ nguồn lực để biến việc sử dụng công nghệ thành giá trị và cơ hội phát triển trong đời sống.
Trên cơ sở kết hợp hai khung lý thuyết về bất bình đẳng số và vốn số, nghiên cứu phân tích dữ liệu khảo sát bằng phần mềm SPSS 29.0 thông qua các kiểm định Chi-square, phân tích phương sai một chiều (ANOVA) và hồi quy logistic nhị phân nhằm đánh giá mức độ, đặc điểm và cơ chế của bất bình đẳng số trong bối cảnh chuyển đổi số tại tỉnh Bắc Ninh.
Bất bình đẳng số của người dân tỉnh Bắc Ninh qua năm chiều cạnh chủ yếu
Theo học vấn. Học vấn là biến số có ảnh hưởng mạnh và nhất quán nhất đến mức độ thích ứng số của người dân. Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến ở nhóm có trình độ sau đại học đạt 45,2%, cao gấp 3,4 lần so với nhóm có trình độ trung học phổ thông (13,2%) (χ² = 153,929; p < 0,001) – mức ý nghĩa thống kê cao nhất trong các phân tích của nghiên cứu. Điều này cho thấy bất bình đẳng không chỉ nằm ở khả năng sử dụng công nghệ mà còn ở năng lực tiếp nhận, đánh giá và khai thác thông tin số. Theo Mark Warschauer (2003), đây là biểu hiện của năng lực số phê phán (critical digital literacy) – năng lực được tích lũy thông qua quá trình giáo dục lâu dài và có vai trò quyết định trong việc chuyển đổi khả năng tiếp cận công nghệ thành lợi ích thực tiễn.
Theo tuổi tác và nghịch lý “thế hệ số”. Kết quả khảo sát cho thấy một nghịch lý đáng chú ý: nhóm dưới 30 tuổi – thường được Marc Prensky (2001) gọi là “thế hệ số” (digital natives) – lại có tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến thấp nhất (14,7%), trong khi nhóm 31-59 tuổi đạt tỷ lệ cao nhất (40,7%) (χ² = 125,279; p < 0,001). Điều này cho thấy việc lớn lên trong môi trường công nghệ số không đồng nghĩa với năng lực số toàn diện. Theo Eszter Hargittai (2010) và David S. White cùng Alison Le Cornu (2011), người trẻ thường thành thạo các ứng dụng phục vụ giao tiếp và giải trí nhưng thiếu động lực cũng như kinh nghiệm sử dụng các nền tảng hành chính số do nhu cầu giao dịch với cơ quan nhà nước còn hạn chế.
Ở chiều ngược lại, nhóm từ 60 tuổi trở lên có tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến chỉ đạt 31,7%, thấp hơn đáng kể so với nhóm trung niên (40,7%). Mặc dù chỉ chiếm 4,0% mẫu khảo sát, đây là nhóm dân số sẽ gia tăng nhanh trong bối cảnh già hóa dân số. Nếu không có các giải pháp hỗ trợ phù hợp, bất bình đẳng số theo tuổi tác nhiều khả năng sẽ tiếp tục gia tăng cùng với xu hướng biến đổi nhân khẩu học.
Theo giới tính và vốn xã hội. Kết quả khảo sát cho thấy khác biệt giới tính thể hiện rõ nhất ở khởi nghiệp số: tỷ lệ nam giới tham gia khởi nghiệp số đạt 20,9%, cao hơn nữ giới (15,4%) và có ý nghĩa thống kê (p = 0,016). Trong bối cảnh trình độ học vấn giữa nam và nữ không có khác biệt đáng kể, kết quả này cho thấy khoảng cách giới chủ yếu xuất phát từ những rào cản về tiếp cận nguồn lực, mạng lưới xã hội và các chuẩn mực giới, hơn là từ năng lực số.
Ngược lại, vốn xã hội thể hiện vai trò tích cực trong việc thu hẹp bất bình đẳng số. Người dân tham gia các tổ chức chính trị – xã hội có mức độ thích ứng số cao hơn một cách có ý nghĩa thống kê trên hầu hết các chỉ báo, từ sử dụng dịch vụ công trực tuyến, khởi nghiệp số đến nhận thức về quy tắc ứng xử trên không gian mạng. Kết quả này phù hợp với lý thuyết vốn xã hội của Robert D. Putnam (2000), đồng thời cho thấy vai trò của các mạng lưới tổ chức cộng đồng trong việc lan tỏa tri thức, kỹ năng và cơ hội tiếp cận công nghệ số tại Việt Nam.
Theo hạ tầng và địa lý. Mặc dù báo cáo của các sở, ngành cho thấy mạng 4G đã phủ sóng 100% xã, phường, kết quả khảo sát lại phản ánh khoảng cách đáng kể giữa vùng phủ sóng và chất lượng dịch vụ thực tế. Có tới 69,4% người dân đánh giá kết nối internet tại nơi cư trú yếu hoặc không ổn định và 65,6% cho biết chất lượng sóng di động còn hạn chế. Điều này cho thấy bất bình đẳng số không chỉ phụ thuộc vào khả năng tiếp cận hạ tầng mà còn chịu tác động bởi chất lượng kết nối thực tế. Vì vậy, ưu tiên trong giai đoạn tới cần chuyển từ mở rộng vùng phủ sóng sang nâng cao chất lượng hạ tầng và trải nghiệm sử dụng của người dân.
Từ “biết” đến “dùng” và “hưởng lợi”
Kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình thích ứng số của người dân Bắc Ninh hình thành ba cấp độ rõ rệt, tương đồng với mô hình phân tầng số của Eszter Hargittai (2002) và Jan van Dijk (2020): hiểu biết, sử dụng và hưởng lợi. Trong khi mức độ hiểu biết về các công nghệ số phổ biến đạt tương đối cao (3,50-3,82/5), tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến chỉ đạt 24,3%, còn khả năng chuyển hóa việc sử dụng công nghệ thành lợi ích thiết thực vẫn còn hạn chế. Phát hiện này cho thấy rào cản lớn nhất hiện nay không còn nằm ở khả năng tiếp cận hay nhận thức, mà ở quá trình chuyển đổi từ “biết” sang “dùng” và từ “dùng” sang “hưởng lợi”. Do đó, chính sách chuyển đổi số cần ưu tiên các giải pháp thúc đẩy thay đổi hành vi, nâng cao năng lực ứng dụng và hỗ trợ người dân khai thác hiệu quả các dịch vụ số, thay vì chỉ tiếp tục mở rộng hạ tầng kỹ thuật.
Bảng 1. Tổng hợp các chỉ báo bất bình đẳng số chính tại tỉnh Bắc Ninh

Để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố, nghiên cứu xây dựng mô hình hồi quy logistic nhị phân với biến phụ thuộc là việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Kết quả cho thấy mô hình có độ phù hợp tốt (Nagelkerke R² = 0,285; kiểm định Hosmer-Lemeshow: p = 0,421), giải thích khoảng 28,5% biến thiên của hành vi sử dụng. Học vấn là yếu tố có tác động mạnh nhất: người có trình độ trung học cơ sở và trung học phổ thông chỉ có xác suất sử dụng dịch vụ công trực tuyến bằng khoảng 20-21% so với nhóm sau đại học (OR = 0,21 và 0,20). Tiếp đến, nhóm dưới 30 tuổi chỉ có xác suất sử dụng bằng 27% so với nhóm 31-59 tuổi (OR = 0,27), qua đó tiếp tục khẳng định nghịch lý “thế hệ số”. Ngược lại, việc tham gia các tổ chức chính trị – xã hội làm tăng khả năng sử dụng dịch vụ công trực tuyến lên 2,05 lần (OR = 2,05), cho thấy vai trò quan trọng của vốn xã hội trong thúc đẩy thích ứng số. Đáng chú ý, biến giới tính không còn có ý nghĩa thống kê trong mô hình đa biến (p = 0,190), hàm ý rằng khác biệt giới chủ yếu xuất hiện ở một số lĩnh vực cụ thể như khởi nghiệp số, thay vì phản ánh bất bình đẳng số mang tính tổng quát.
Ba dạng thiếu hụt vốn số đồng thời tồn tại
Vượt ra ngoài câu hỏi ai sử dụng công nghệ, lý thuyết vốn số của Massimo Ragnedda (2018) nhấn mạnh năng lực chuyển hóa việc sử dụng công nghệ thành các lợi ích kinh tế, xã hội và văn hóa. Kết quả khảo sát 1.513 người dân tại tỉnh Bắc Ninh cho thấy ba dạng thiếu hụt vốn số đang đồng thời tồn tại.
Thứ nhất, thiếu hụt vốn số cá nhân. Có tới 78,0% người dân cho biết chưa hiểu biết đầy đủ về công nghệ số, 62,1% thiếu người hướng dẫn và 72,1% lo ngại về an toàn, bảo mật thông tin. Những kết quả này phản ánh hạn chế về tri thức, kỹ năng và sự tự tin trong môi trường số. Đây là dạng thiếu hụt có thể được cải thiện thông qua đào tạo, tư vấn và hỗ trợ thường xuyên, thay vì các chương trình ngắn hạn.
Thứ hai, thiếu hụt vốn số xã hội. Dữ liệu cho thấy sự chênh lệch rõ rệt về khả năng tích lũy vốn số giữa các nhóm xã hội. Những người có vốn xã hội cao, như người có trình độ học vấn cao, cán bộ, công chức, viên chức hoặc tham gia các tổ chức chính trị – xã hội, có điều kiện tiếp cận thông tin, học hỏi và khai thác công nghệ tốt hơn. Ngược lại, lao động nông nghiệp, công nhân và những người không tham gia các tổ chức đoàn thể vừa thiếu mạng lưới hỗ trợ, vừa hạn chế cơ hội tiếp cận tri thức số. Điều này cho thấy bất bình đẳng xã hội đang có xu hướng được tái sản xuất trong môi trường số thông qua cơ chế tích lũy lợi thế.
Thứ ba, thiếu hụt vốn số thể chế. Có 55,6% người dân cho rằng công tác tuyên truyền, hướng dẫn về công nghệ số của chính quyền và các tổ chức chính trị – xã hội còn chưa đáp ứng nhu cầu. Đây không chỉ là vấn đề truyền thông mà còn phản ánh khoảng trống về năng lực và nguồn lực của các thiết chế trung gian trong việc kết nối người dân với các dịch vụ và chính sách số. Khi khoảng trống này chưa được lấp đầy, người dân có xu hướng tìm đến các nguồn thông tin không chính thống, làm gia tăng nguy cơ tiếp cận thông tin sai lệch hoặc tin giả.
So sánh với nghiên cứu tại vùng Đông Bắc Thái Lan (Suranaree University, 2023) cho thấy Bắc Ninh có mức thiếu hụt vốn số thấp hơn, phản ánh lợi thế về phổ cập điện thoại thông minh và thương mại điện tử. Tuy nhiên, khoảng cách giữa thích ứng số trong tiêu dùng và thích ứng số trong sử dụng dịch vụ công và an sinh xã hội vẫn còn khá lớn, cho thấy dư địa đáng kể để nâng cao hiệu quả và tính bao trùm của quá trình chuyển đổi số.
Khuyến nghị chính sách
Từ các kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất bốn nhóm giải pháp nhằm thu hẹp bất bình đẳng số và tăng cường vốn số cho người dân tỉnh Bắc Ninh.
Thứ nhất, phổ cập năng lực số theo nhóm đối tượng. Chính sách cần ưu tiên ba nhóm dễ bị tổn thương gồm người cao tuổi, người có trình độ học vấn thấp và lao động nông nghiệp, lao động phổ thông. Thay vì tập trung đào tạo theo mô hình truyền thống, cần đưa hoạt động hỗ trợ kỹ năng số đến cộng đồng, nơi làm việc và khu dân cư; đồng thời chuẩn hóa, mở rộng mô hình Tổ Công nghệ số cộng đồng và phát huy vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội như những kênh hỗ trợ chuyển đổi số hiệu quả.
Thứ hai, nâng cao trải nghiệm sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Các dịch vụ công cần được thiết kế theo nguyên tắc lấy người dân làm trung tâm, tích hợp trên các nền tảng quen thuộc như Zalo, đơn giản hóa quy trình, tăng cường tự động điền dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia và xây dựng giao diện thân thiện với người cao tuổi, người có trình độ học vấn thấp. Trọng tâm của cải cách là giảm rào cản trong quá trình chuyển đổi từ “biết” sang “dùng”, đồng thời củng cố niềm tin của người dân đối với các dịch vụ số.
Thứ ba, phát triển đồng bộ ba loại vốn số. Chính sách cần được triển khai theo hướng tích hợp, kết hợp phát triển vốn số cá nhân thông qua đào tạo và học tập liên thế hệ; tăng cường vốn số xã hội bằng việc chuyên nghiệp hóa mạng lưới tình nguyện viên và Tổ Công nghệ số cộng đồng; đồng thời củng cố vốn số thể chế bằng cách bổ sung các chỉ số về trải nghiệm và năng lực số của người dân vào hệ thống đánh giá chuyển đổi số của tỉnh, thay vì chỉ tập trung vào các chỉ tiêu kỹ thuật và hạ tầng.
Thứ tư, thiết lập cơ chế giám sát bất bình đẳng số. Cần xây dựng hệ thống theo dõi định kỳ theo từng nhóm dân cư, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương, thay vì chỉ công bố các chỉ số bình quân. Kết quả đánh giá cần được sử dụng làm căn cứ phân bổ nguồn lực, điều chỉnh chính sách và công khai để người dân giám sát, qua đó nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của quá trình chuyển đổi số.
Nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm từ khảo sát 1.513 người dân tỉnh Bắc Ninh, cho thấy bất bình đẳng số không chỉ là khoảng cách trong tiếp cận công nghệ mà là hiện tượng có tính cấu trúc, đa chiều và tích lũy, gắn với những bất bình đẳng sẵn có về học vấn, tuổi tác, giới tính và vị thế xã hội. Đồng thời, ba dạng thiếu hụt vốn số gồm vốn số cá nhân, vốn số xã hội và vốn số thể chế đang cùng tồn tại, làm hạn chế khả năng chuyển hóa việc tiếp cận công nghệ thành các lợi ích thiết thực cho người dân.
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thu hẹp bất bình đẳng số không thể chỉ dựa vào đầu tư hạ tầng hay mở rộng dịch vụ số, mà cần chuyển trọng tâm sang phát triển năng lực số, tăng cường vốn xã hội và hoàn thiện các thiết chế hỗ trợ người dân. Đặc biệt, các tổ chức chính trị – xã hội được xác định là nguồn vốn xã hội quan trọng, không chỉ thực hiện chức năng tuyên truyền mà còn đóng vai trò cầu nối, hỗ trợ phổ cập kỹ năng và dịch vụ số theo hướng bao trùm. Đây là lợi thế đặc thù của Việt Nam nói chung và Bắc Ninh nói riêng, cần được phát huy hiệu quả hơn trong giai đoạn 2027-2030 nhằm bảo đảm mục tiêu không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình chuyển đổi số.
PGS, TS. Đặng Thị Ánh Tuyết/ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
TS. Nguyễn Hữu Hoàng/ Học viện Chính trị khu vực II (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)
ThS. Vũ Thị Hương/ Viện Nghiên cứu con người, gia đình và giới (Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam)
Tài liệu tham khảo
1. DiMaggio, P., & Hargittai, E. (2001). From the “digital divide” to “digital inequality”: Studying Internet use as penetration increases. Center for Arts and Cultural Policy Studies, Princeton University, Working Paper 15.
2. Hargittai, E. (2002). Second-level digital divide: Differences in people’s online skills. First Monday, 7(4).
3. Hargittai, E. (2010). Digital natives? Variation in internet skills and uses among members of the “net generation”. Sociological Inquiry, 80(1), 92-113.
4. Nguyen-Pochan, T. T. (2021). State Management of Social Media in Vietnam. The Russian Journal Of Vietnamese Studies, 5(1S), 23-33. doi: 10.54631/VS.2021.S-23-33
5. Prensky, M. (2001). Digital natives, digital immigrants. On the Horizon, 9(5), 1-6.
6. Putnam, R. D. (2000). Bowling alone: The collapse and revival of American community. Simon & Schuster.
7. Ragnedda, M. (2018). Conceptualizing digital capital. Telematics and Informatics, 35(8), 2366-2375.
8. Tỉnh ủy Bắc Ninh (2026). Chương trình số 20-CTr/TU ngày 25/3/2026 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2026 – 2030.
9. Tu, T. (2026). Vietnam’s formula of accelerated modernization: strategic priorities for 2030–2045 in the decisions of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam. The Russian Journal Of Vietnamese Studies, 10(2), 6-21. doi: 10.54631/VS.2026.102-704695
10. van Dijk, J. A. G. M. (2020). The digital divide. Polity Press.
11. Warschauer, M. (2003). Technology and social inclusion: Rethinking the digital divide. MIT Press.
12. White, D. S., & Le Cornu, A. (2011). Visitors and Residents: A new typology for online engagement. First Monday, 16(9).


