Thứ Hai, Tháng 8 3, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Bất cập trong xác định điểm đầu, điểm cuối của tuyến vận tải hành khách cố định sau khi thay đổi địa giới hành chính và giải pháp hoàn thiện



ĐNA -

Việc sáp nhập, sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp xã thời gian qua đã làm thay đổi địa giới, tên gọi của nhiều địa phương trên cả nước. Thực tiễn này không chỉ tác động đến tổ chức bộ máy hành chính mà còn đặt ra yêu cầu rà soát, điều chỉnh nhiều quy định chuyên ngành, trong đó có lĩnh vực vận tải hành khách tuyến cố định. Bởi thông tin về điểm đầu, điểm cuối của tuyến vận tải được xác định gắn với bến xe khách và địa giới hành chính nơi tuyến khởi hành, kết thúc, việc thay đổi địa giới đòi hỏi các quy định liên quan phải được cập nhật, bảo đảm thống nhất và phù hợp với thực tế.

Bất cập trong xác định điểm đầu, điểm cuối của tuyến vận tải hành khách cố định sau khi thay đổi địa giới hành chính và giải pháp hoàn thiện.

Theo quy định của Luật Đường bộ năm 2024, Nghị định số 158/2024/NĐ-CP và Thông tư số 36/2024/TT-BGTVT, tuyến vận tải hành khách cố định được xác định trên cơ sở hành trình khai thác, bến xe khách hai đầu tuyến, mã số tuyến và cơ quan quản lý. Tuy nhiên, các quy định này được xây dựng trong bối cảnh địa giới hành chính ổn định, chưa dự liệu đầy đủ trường hợp đơn vị hành chính được sáp nhập, điều chỉnh địa giới hoặc đổi tên. Trên thực tế, sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, nhiều tuyến vận tải vẫn giữ nguyên hành trình, cự ly và vị trí bến xe nhưng thay đổi địa danh hành chính của điểm đầu, điểm cuối; đồng thời, một số tuyến trước đây là tuyến liên tỉnh có thể trở thành tuyến nội tỉnh. Những thay đổi này đặt ra hàng loạt vấn đề pháp lý liên quan đến việc xác định lại điểm đầu, điểm cuối của tuyến, cập nhật mã số tuyến, điều chỉnh hồ sơ khai thác và xác định thẩm quyền quản lý.

Qua rà soát các quy định hiện hành cho thấy, pháp luật chưa có hướng dẫn riêng đối với trường hợp thay đổi địa giới hành chính làm ảnh hưởng đến việc xác định điểm đầu, điểm cuối của tuyến vận tải hành khách cố định. Đồng thời, cũng chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục chuyển đổi giữa tuyến liên tỉnh và tuyến nội tỉnh; việc cập nhật danh mục mạng lưới tuyến, điều chỉnh mã số tuyến; cũng như xử lý giá trị pháp lý của giấy phép kinh doanh, văn bản chấp thuận khai thác tuyến và các giấy tờ liên quan đã được cấp trước thời điểm sắp xếp đơn vị hành chính. Khoảng trống pháp lý này dẫn đến cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất giữa các địa phương, gây lúng túng cho cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp vận tải trong quá trình tổ chức thực hiện.

Xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn, việc nghiên cứu các bất cập trong xác định điểm đầu, điểm cuối của tuyến vận tải hành khách cố định khi thay đổi địa giới hành chính có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Nghiên cứu nhằm làm rõ những khoảng trống của pháp luật hiện hành, phân tích các vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện, đồng thời đề xuất các kiến nghị hoàn thiện cơ chế pháp lý về quản lý tuyến vận tải hành khách cố định. Qua đó, góp phần bảo đảm sự thống nhất trong áp dụng pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, duy trì ổn định hoạt động vận tải và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp kinh doanh vận tải cũng như hành khách.

Quy định của pháp luật về xác định điểm đầu, điểm cuối của tuyến vận tải hành khách cố định
Hệ thống pháp luật hiện hành đã quy định tương đối đầy đủ về tổ chức và quản lý hoạt động vận tải hành khách theo tuyến cố định. Các quy định chủ yếu được thể hiện trong Luật Đường bộ năm 2024, Nghị định số 158/2024/NĐ-CP ngày 18/12/2024 của Chính phủ quy định về hoạt động vận tải đường bộ và Thông tư số 36/2024/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải quy định về tổ chức, quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ. Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng để xác định điểm đầu, điểm cuối của tuyến vận tải hành khách cố định, đồng thời làm cơ sở cho cơ quan nhà nước thực hiện công tác quản lý, giám sát hoạt động khai thác tuyến.

Thứ nhất, pháp luật quy định việc xác định tuyến vận tải hành khách cố định phải dựa trên các yếu tố cấu thành của tuyến. Theo khoản 13 Điều 3 Nghị định số 158/2024/NĐ-CP, tuyến vận tải hành khách cố định là tuyến vận tải được cơ quan có thẩm quyền công bố và được xác định bởi hành trình, lịch trình, bến xe khách nơi đi và bến xe khách nơi đến. Quy định này cho thấy điểm đầu và điểm cuối của tuyến được xác định trên cơ sở bến xe khách tại hai đầu tuyến, gắn với hành trình khai thác đã được công bố, chứ không chỉ căn cứ vào địa danh hành chính. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để phân loại tuyến vận tải thành tuyến nội tỉnh hoặc tuyến liên tỉnh, đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức khai thác và quản lý hoạt động vận tải.

Thứ hai, việc xác định điểm đầu, điểm cuối của tuyến phải gắn với hệ thống bến xe khách và mạng lưới tuyến vận tải đã được công bố. Theo quy định của Nghị định số 158/2024/NĐ-CP và Thông tư số 36/2024/TT-BGTVT, chỉ những bến xe khách đáp ứng điều kiện hoạt động và được cơ quan có thẩm quyền công bố mới được sử dụng làm điểm đầu hoặc điểm cuối của tuyến vận tải hành khách cố định. Đồng thời, việc lựa chọn hai đầu tuyến phải phù hợp với hành trình khai thác, biểu đồ chạy xe và danh mục mạng lưới tuyến đã được công bố nhằm bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống vận tải, hạn chế tình trạng khai thác ngoài phạm vi được cấp phép.

Thứ ba, pháp luật quy định cơ chế quản lý tuyến vận tải hành khách cố định thông qua việc công bố, điều chỉnh và cập nhật thông tin về tuyến. Theo đó, cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm xây dựng, công bố và điều chỉnh danh mục mạng lưới tuyến; cập nhật các thông tin liên quan đến hành trình, bến xe, mã số tuyến và các nội dung quản lý khác trên hệ thống quản lý hoạt động vận tải. Cơ chế này góp phần bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quản lý nhà nước, đồng thời tạo cơ sở để doanh nghiệp vận tải tổ chức khai thác tuyến đúng quy định của pháp luật.

Thứ tư, pháp luật hiện hành chưa có quy định điều chỉnh đối với trường hợp thay đổi địa giới hành chính làm ảnh hưởng đến việc xác định điểm đầu, điểm cuối của tuyến vận tải hành khách cố định. Mặc dù các văn bản pháp luật đã quy định khá đầy đủ về căn cứ xác định tuyến và cơ chế quản lý hoạt động khai thác, song các quy định này chủ yếu được xây dựng trong bối cảnh địa giới hành chính ổn định. Đến nay, pháp luật chưa có quy định riêng về việc xác định lại điểm đầu, điểm cuối của tuyến khi đơn vị hành chính được sáp nhập, điều chỉnh địa giới hoặc đổi tên; đồng thời cũng chưa quy định cụ thể về việc chuyển đổi giữa tuyến liên tỉnh và tuyến nội tỉnh, cập nhật danh mục mạng lưới tuyến, điều chỉnh mã số tuyến hoặc xử lý giá trị pháp lý của các giấy phép, văn bản chấp thuận khai thác đã được cấp trước thời điểm thay đổi địa giới hành chính. Khoảng trống này dẫn đến những cách hiểu và áp dụng khác nhau trong thực tiễn, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước và hoạt động khai thác của doanh nghiệp vận tải, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật để đáp ứng yêu cầu quản lý trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính hiện nay.

Thực trạng và những bất cập trong xác định điểm đầu, điểm cuối của tuyến vận tải hành khách cố định sau khi thay đổi địa giới hành chính.
Việc sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025 đã tạo ra những thay đổi lớn về phạm vi địa giới, tên gọi và cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương trên phạm vi cả nước. Theo Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15, việc sắp xếp được thực hiện đồng thời đối với đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp xã, qua đó giảm khoảng 60%–70% số lượng đơn vị hành chính cấp xã so với trước khi sắp xếp. Chính quyền địa phương cấp xã phải hoàn thành việc kiện toàn tổ chức và đi vào hoạt động chậm nhất vào ngày 15/8/2025, còn cấp tỉnh chậm nhất vào ngày 15/9/2025. Những thay đổi này không chỉ tác động đến tổ chức bộ máy hành chính mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước, trong đó có hoạt động vận tải hành khách theo tuyến cố định. Thực tiễn triển khai cho thấy, việc thay đổi địa giới hành chính đã bộc lộ một số khoảng trống và bất cập trong các quy định về xác định điểm đầu, điểm cuối của tuyến vận tải hành khách cố định.

Thứ nhất, pháp luật chưa có quy định cụ thể về việc xác định lại điểm đầu, điểm cuối của tuyến vận tải hành khách cố định khi thay đổi địa giới hành chính. Theo khoản 13 Điều 3 Nghị định số 158/2024/NĐ-CP, tuyến vận tải hành khách cố định được xác định trên cơ sở hành trình, lịch trình, bến xe khách nơi đi và bến xe khách nơi đến. Tuy nhiên, quy định này được xây dựng trong bối cảnh địa giới hành chính ổn định và chưa dự liệu trường hợp địa giới hoặc tên gọi của đơn vị hành chính nơi đặt bến xe thay đổi do sáp nhập. Trên thực tế, nhiều bến xe vẫn giữ nguyên vị trí khai thác, hành trình và phạm vi phục vụ nhưng địa chỉ hành chính của điểm đầu hoặc điểm cuối đã thay đổi, trong khi giấy phép khai thác tuyến, danh mục mạng lưới tuyến và cơ sở dữ liệu quản lý vẫn ghi nhận theo địa danh cũ. Sự không thống nhất giữa thông tin pháp lý và tình trạng khai thác thực tế không chỉ gây khó khăn cho công tác quản lý mà còn ảnh hưởng đến quá trình thực hiện các thủ tục hành chính của doanh nghiệp vận tải.

Thứ hai, việc thay đổi địa giới hành chính làm thay đổi căn cứ phân loại tuyến vận tải và thẩm quyền quản lý nhà nước, nhưng pháp luật chưa có cơ chế xử lý tương ứng. Theo quy định hiện hành, tuyến vận tải hành khách cố định được phân thành tuyến nội tỉnh và tuyến liên tỉnh căn cứ vào địa giới hành chính của điểm đầu và điểm cuối tuyến. Vì vậy, khi hai địa phương được sáp nhập thành một đơn vị hành chính mới, nhiều tuyến trước đây là tuyến liên tỉnh có thể trở thành tuyến nội tỉnh mặc dù hành trình khai thác, cự ly vận chuyển, tần suất hoạt động và vị trí bến xe không thay đổi. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định trình tự chuyển đổi loại tuyến, chưa xác định rõ cơ quan có thẩm quyền công bố lại tuyến hoặc xử lý các văn bản chấp thuận khai thác đã được cấp trước thời điểm sắp xếp đơn vị hành chính. Khoảng trống này dẫn đến cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất giữa các cơ quan quản lý địa phương, ảnh hưởng đến tính ổn định và minh bạch của hoạt động quản lý vận tải.

Thứ ba, việc cập nhật dữ liệu quản lý về điểm đầu, điểm cuối của tuyến vận tải sau khi thay đổi địa giới hành chính chưa bảo đảm tính đồng bộ. Theo Thông tư số 36/2024/TT-BGTVT, các thông tin về tuyến vận tải, mã số tuyến, bến xe khách và biểu đồ chạy xe phải được cập nhật trên hệ thống quản lý hoạt động vận tải. Tuy nhiên, trên thực tế, việc điều chỉnh dữ liệu giữa cơ quan quản lý, bến xe, doanh nghiệp vận tải và các hệ thống bán vé điện tử chưa được thực hiện thống nhất và đồng thời. Do đó, trong cùng một thời điểm, một bến xe có thể được ghi nhận theo địa danh cũ trong giấy phép khai thác tuyến nhưng lại sử dụng địa danh mới trên hệ thống quản lý hoặc phần mềm bán vé. Tình trạng thiếu đồng bộ này làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước, gây khó khăn cho công tác thống kê, thanh tra, kiểm tra và giải quyết thủ tục hành chính, đồng thời có thể ảnh hưởng đến việc tiếp cận thông tin và sử dụng dịch vụ của hành khách.

Thứ tư, pháp luật chưa thiết lập cơ chế chuyển tiếp nhằm bảo đảm quyền khai thác hợp pháp của doanh nghiệp vận tải khi thay đổi địa giới hành chính. Điều 14 Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15 quy định việc chuyển đổi giấy tờ của tổ chức, cá nhân được thực hiện theo Nghị quyết số 190/2025/QH15 nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quá trình sắp xếp đơn vị hành chính. Tuy nhiên, đối với lĩnh vực vận tải hành khách theo tuyến cố định, pháp luật chưa quy định cụ thể về việc bảo lưu giá trị pháp lý của văn bản chấp thuận khai thác tuyến, trình tự cập nhật điểm đầu, điểm cuối, mã số tuyến hoặc thủ tục điều chỉnh hồ sơ khai thác khi địa giới hành chính thay đổi. Việc thiếu cơ chế chuyển tiếp rõ ràng không chỉ làm gia tăng thời gian và chi phí tuân thủ của doanh nghiệp mà còn tiềm ẩn nguy cơ gián đoạn hoạt động khai thác tuyến nếu không có hướng dẫn thống nhất từ cơ quan quản lý nhà nước.

Nhìn chung, những bất cập nêu trên cho thấy hệ thống pháp luật hiện hành mới chỉ điều chỉnh hoạt động vận tải hành khách theo tuyến cố định trong điều kiện địa giới hành chính ổn định, chưa theo kịp những thay đổi phát sinh từ quá trình sắp xếp đơn vị hành chính. Điều này đặt ra yêu cầu cần sớm bổ sung các quy định về xác định điểm đầu, điểm cuối của tuyến, chuyển đổi loại tuyến, cập nhật dữ liệu quản lý và thiết lập cơ chế chuyển tiếp phù hợp nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tạo điều kiện cho hoạt động vận tải được duy trì ổn định, thông suốt.

Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xác định điểm đầu, điểm cuối của tuyến vận tải hành khách cố định sau khi thay đổi địa giới hành chính.
Những vướng mắc phát sinh từ quá trình sắp xếp đơn vị hành chính cho thấy pháp luật về vận tải hành khách theo tuyến cố định cần được hoàn thiện theo hướng phân biệt rõ giữa thay đổi thông tin hành chính và thay đổi nội dung khai thác tuyến. Việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật phải bảo đảm thông tin quản lý được cập nhật đầy đủ, chính xác nhưng không làm gián đoạn hoạt động khai thác của doanh nghiệp trong trường hợp bến xe, hành trình, cự ly vận chuyển và biểu đồ chạy xe không thay đổi trên thực tế.

Thứ nhất, bổ sung quy định riêng về xác định điểm đầu, điểm cuối của tuyến vận tải hành khách cố định khi thay đổi địa giới hành chính. Chính phủ cần nghiên cứu bổ sung vào Nghị định số 158/2024/NĐ-CP quy định điều chỉnh trường hợp địa giới hành chính thay đổi do sắp xếp đơn vị hành chính nhưng bến xe nơi đi, bến xe nơi đến và nội dung khai thác tuyến vẫn được giữ nguyên. Theo đó, trường hợp chỉ thay đổi tên tỉnh, thành phố hoặc đơn vị hành chính nơi đặt bến xe mà không làm thay đổi hành trình, cự ly, biểu đồ chạy xe, tần suất khai thác và vị trí bến xe thì chỉ được xem là cập nhật thông tin hành chính, không phải là căn cứ để xác lập tuyến mới hoặc thực hiện thủ tục điều chỉnh nội dung khai thác tuyến.

Đồng thời, cần quy định thống nhất việc xác định điểm đầu, điểm cuối của tuyến trên cơ sở các thông tin có tính ổn định như tên bến xe, mã định danh bến xe, vị trí địa lý hoặc tọa độ và quyết định công bố bến xe đưa vào khai thác; còn tên đơn vị hành chính chỉ là thông tin mô tả có thể được cập nhật khi địa giới hành chính thay đổi. Cách tiếp cận này sẽ hạn chế tình trạng cùng một bến xe nhưng tồn tại nhiều tên gọi khác nhau trong hồ sơ khai thác, danh mục mạng lưới tuyến và cơ sở dữ liệu quản lý.

Bên cạnh đó, cần đơn giản hóa thủ tục cập nhật thông tin. Trong thời hạn nhất định kể từ khi nghị quyết về sắp xếp đơn vị hành chính có hiệu lực, cơ quan chuyên môn về vận tải thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cần chủ động rà soát, cập nhật dữ liệu quản lý và thông báo cho doanh nghiệp, bến xe có liên quan. Doanh nghiệp chỉ phải đề nghị điều chỉnh khi thông tin thực tế không thống nhất với dữ liệu quản lý; không phải nộp lại các tài liệu đã được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu của cơ quan nhà nước.

Thứ hai, hoàn thiện quy định về chuyển đổi giữa tuyến liên tỉnh và tuyến nội tỉnh sau khi thay đổi địa giới hành chính. Pháp luật cần bổ sung nguyên tắc xác định rõ trường hợp điểm đầu và điểm cuối của tuyến trước đây thuộc hai tỉnh nhưng sau sắp xếp cùng thuộc một đơn vị hành chính cấp tỉnh thì tuyến được chuyển từ tuyến liên tỉnh thành tuyến nội tỉnh kể từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền công bố danh mục mạng lưới tuyến mới. Việc chuyển đổi này không làm chấm dứt quyền khai thác đã được xác lập của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp vẫn đáp ứng điều kiện kinh doanh và không thay đổi nội dung khai thác thực tế.

Đối với các tuyến thuộc trường hợp nêu trên, cần giao cơ quan chuyên môn về vận tải thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mới tiếp nhận toàn bộ hồ sơ quản lý, biểu đồ chạy xe và dữ liệu liên quan để thực hiện việc công bố lại loại tuyến, mã số tuyến và cơ quan quản lý, thay vì yêu cầu doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng ký lại từ đầu. Đồng thời, pháp luật cần phân định rõ ba trường hợp xử lý gồm: (i) chỉ thay đổi tên đơn vị hành chính thì thực hiện cập nhật thông tin; (ii) tuyến liên tỉnh chuyển thành tuyến nội tỉnh nhưng không thay đổi hành trình thì thực hiện công bố lại loại tuyến và mã số tuyến; (iii) trường hợp thay đổi bến xe hoặc hành trình khai thác thì thực hiện thủ tục điều chỉnh tuyến theo quy định chung. Việc phân loại này sẽ bảo đảm áp dụng đúng trình tự, thủ tục đối với từng trường hợp có bản chất pháp lý khác nhau.

Thứ ba, xây dựng cơ chế chuyển tiếp và bảo lưu giá trị pháp lý của hồ sơ khai thác tuyến. Cần bổ sung quy định theo hướng các văn bản chấp thuận khai thác tuyến, danh sách phương tiện, biểu đồ chạy xe, hợp đồng khai thác bến xe và các hồ sơ quản lý đã được cấp trước thời điểm sắp xếp đơn vị hành chính vẫn tiếp tục có giá trị cho đến khi cơ quan có thẩm quyền hoàn thành việc cập nhật thông tin theo quy định mới. Nguyên tắc này vừa bảo đảm tính liên tục của hoạt động quản lý nhà nước, vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp vận tải.

Đồng thời, cần quy định cụ thể thời gian chuyển tiếp, có thể từ 06 đến 12 tháng kể từ khi đơn vị hành chính mới chính thức đi vào hoạt động. Trong thời gian này, doanh nghiệp được phép sử dụng đồng thời tên địa phương cũ và tên địa phương mới trong các giấy tờ nghiệp vụ và hoạt động khai thác; sau khi kết thúc thời gian chuyển tiếp, toàn bộ dữ liệu phải được cập nhật và sử dụng thống nhất.

Đối với việc thay đổi mã số tuyến, pháp luật cần yêu cầu hệ thống quản lý lưu giữ đồng thời mã tuyến cũ, mã tuyến mới, thời điểm chuyển đổi và cơ quan quản lý tương ứng nhằm bảo đảm tính liên tục của dữ liệu phục vụ công tác thống kê, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp phát sinh trước thời điểm sắp xếp đơn vị hành chính.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế cập nhật và liên thông cơ sở dữ liệu về tuyến vận tải hành khách cố định. Thông tư số 36/2024/TT-BGTVT cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định thống nhất trình tự cập nhật tên bến xe, mã đơn vị hành chính, mã số tuyến và loại tuyến khi có thay đổi địa giới hành chính. Đồng thời, cơ quan quản lý nhà nước về đường bộ ở trung ương cần xây dựng chức năng đồng bộ dữ liệu tự động nhằm bảo đảm việc cập nhật được thực hiện đồng thời trên hệ thống quản lý tuyến vận tải, cơ sở dữ liệu bến xe và hệ thống giải quyết thủ tục hành chính.

Quy trình cập nhật cần được phân định rõ trách nhiệm của từng cơ quan: cơ quan quản lý hành chính cung cấp danh mục đơn vị hành chính cũ và mới; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát các tuyến và bến xe chịu tác động; cơ quan chuyên môn về vận tải xác định loại tuyến, mã số tuyến và cơ quan quản lý sau sắp xếp; cơ quan quản lý đường bộ ở trung ương thực hiện đồng bộ dữ liệu trên hệ thống quốc gia; doanh nghiệp và bến xe cập nhật thông tin trên phần mềm quản lý, hệ thống bán vé và các tài liệu nghiệp vụ.

Bên cạnh đó, cần quy định thời hạn hoàn thành từng khâu của quá trình cập nhật nhằm bảo đảm tính đồng bộ giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp. Khi phát hiện có sự khác biệt giữa dữ liệu quản lý và thực tế, cơ quan nhà nước cần chủ động điều chỉnh cơ sở dữ liệu trước khi yêu cầu doanh nghiệp bổ sung hoặc sửa đổi hồ sơ.

Cuối cùng, Bộ Xây dựng cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn riêng đối với việc quản lý tuyến vận tải hành khách cố định sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, trong đó công bố danh mục các tuyến chuyển từ liên tỉnh sang nội tỉnh, bảng đối chiếu mã số tuyến cũ và mới, cũng như mẫu biểu cập nhật thông tin để các địa phương áp dụng thống nhất. Đồng thời, trong quá trình hoàn thiện chính sách và pháp luật, cần tiếp tục rà soát các quy định của Nghị định số 218/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 158/2024/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 10/8/2026) để đánh giá những nội dung đã được sửa đổi, bổ sung và xác định các vấn đề còn chưa được điều chỉnh, làm cơ sở tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quản lý vận tải hành khách theo tuyến cố định trong bối cảnh thay đổi địa giới hành chính.

Việc sắp xếp đơn vị hành chính đã làm thay đổi địa giới, tên gọi của nhiều địa phương, qua đó đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác quản lý vận tải hành khách theo tuyến cố định. Mặc dù hệ thống pháp luật hiện hành đã quy định tương đối đầy đủ về tổ chức và quản lý hoạt động vận tải, song các quy định này chủ yếu được xây dựng trong điều kiện địa giới hành chính ổn định và chưa dự liệu đầy đủ những tác động của việc sáp nhập, điều chỉnh đơn vị hành chính đối với việc xác định điểm đầu, điểm cuối của tuyến vận tải. Thực tiễn triển khai cho thấy vẫn còn tồn tại nhiều khoảng trống pháp lý liên quan đến việc xác định loại tuyến, thẩm quyền quản lý, cập nhật cơ sở dữ liệu và xử lý các hồ sơ, giấy phép đã được cấp trước thời điểm thay đổi địa giới hành chính.

Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành và những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn, bài viết đã đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật theo hướng bổ sung cơ chế xác định điểm đầu, điểm cuối của tuyến trong trường hợp thay đổi địa giới hành chính; hoàn thiện quy định về chuyển đổi giữa tuyến liên tỉnh và tuyến nội tỉnh; xây dựng cơ chế chuyển tiếp đối với các giấy phép, văn bản chấp thuận khai thác và tăng cường liên thông, đồng bộ cơ sở dữ liệu quản lý tuyến vận tải. Việc hoàn thiện các quy định này không chỉ góp phần bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật mà còn nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, giảm chi phí tuân thủ và gánh nặng thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia hoạt động vận tải hành khách theo tuyến cố định trong bối cảnh tiếp tục sắp xếp đơn vị hành chính ở Việt Nam.

Anh Tuấn

Tài liệu tham khảo
1.Bộ Giao thông vận tải (2024), Thông tư số 36/2024/TT-BGTVT ngày 15 tháng 11 năm 2024 quy định về tổ chức, quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô và hoạt động của bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ, điểm dừng xe trên đường bộ, Hà Nội.
2.Chính phủ (2024), Nghị định số 158/2024/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2024 quy định về hoạt động vận tải đường bộ, Hà Nội.
3.Chính phủ (2026), Nghị định số 218/2026/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2024/NĐ-CP quy định về hoạt động vận tải đường bộ, Hà Nội.
4.Quốc hội (2024), Luật Đường bộ số 35/2024/QH15 ngày 27 tháng 6 năm 2024, Hà Nội.
5.Quốc hội (2025), Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, Hà Nội.
6.Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025), Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15 ngày 14 tháng 4 năm 2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, Hà Nội.
7.Tạp chí Thanh niên Việt (2025), “Thẩm quyền của Sở Xây dựng trong quản lý vận tải hành khách tuyến cố định – Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật”, truy cập ngày 01/8/2026.
8.Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2025), “Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15 về sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025”, truy cập ngày 01/8/2026.