Thứ Hai, Tháng 8 3, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Biến đổi lối sống ở đô thị và nông thôn tại Việt Nam trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và hội nhập quốc tế



ĐNA -

Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và hội nhập quốc tế đang làm biến đổi sâu sắc lối sống của người dân Việt Nam, từ đô thị đến vùng nông thôn. Trên cơ sở khảo sát 3.600 người tại 8 tỉnh, thành phố, kết hợp xử lý dữ liệu bằng SPSS 20.0 và thống kê quốc gia cập nhật, bài viết phân tích những biến đổi về lao động, đời sống chính trị, văn hoá tinh thần, gia đình – họ tộc và quan hệ xã hội. Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống chế định bắt buộc nhằm định hướng, quản lý hiệu quả quá trình biến đổi lối sống, đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng.

Chúng ta đang sống trong một thế giới biến đổi nhanh chóng với nhiều xu thế và tác động mà không một quốc gia nào có thể đứng ngoài. Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội, đồng thời làm nảy sinh nhiều vấn đề mới chưa từng có tiền lệ. Cùng với đó, quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế thúc đẩy giao lưu, dịch chuyển và tiếp biến văn hoá, làm biến đổi hệ giá trị và lối sống ở nhiều quốc gia.

Việt Nam phát triển và quản lý xã hội trong bối cảnh đó. Công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay đã tạo ra những chuyển biến toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội. Đại hội XIII (2021) và Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 01/2026) đều nhấn mạnh yêu cầu xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân; gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển bền vững, tiến bộ và công bằng xã hội; phấn đấu đến năm 2030 đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao.

Trong bối cảnh đó, lối sống của người dân Việt Nam đang có những biến đổi sâu sắc và đa chiều dưới tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số. Những biến đổi này vừa tạo ra cơ hội phát triển, vừa đặt ra nhiều thách thức đối với công tác quản lý xã hội và hoạch định chính sách. Vì vậy, việc nghiên cứu biến đổi lối sống xã hội trên cơ sở các cứ liệu thực chứng có ý nghĩa cấp thiết cả về phương diện lý luận và thực tiễn, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện chính sách phát triển xã hội trong giai đoạn mới.

Phương pháp nghiên cứu và khung phân tích
Bài viết sử dụng chủ yếu kết quả khảo sát xã hội học được thực hiện tại 8 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng trong cả nước, gồm Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Thái Nguyên, Đắk Lắk và Đồng Nai, với 3.600 người dân tham gia. Dữ liệu khảo sát được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0. Bên cạnh đó, nghiên cứu kết hợp khai thác số liệu từ Khảo sát mức sống dân cư giai đoạn 2022–2024 của Tổng cục Thống kê và các văn bản, chính sách ban hành trong giai đoạn 2021–2026 nhằm đối chiếu, so sánh và nhận diện những xu hướng biến đổi mới.

Trong bài viết, biến đổi lối sống được hiểu là sự thay đổi tổng thể trên năm lĩnh vực hoạt động cơ bản của đời sống xã hội, gồm: (1) lao động – sản xuất; (2) đời sống chính trị; (3) đời sống văn hoá, tinh thần; (4) sinh hoạt gia đình – họ tộc; và (5) quan hệ xã hội. Trên cơ sở đó, bài viết xem xét mối quan hệ biện chứng giữa biến đổi lối sống và hệ thống chế định bắt buộc (đường lối, chủ trương, pháp luật và chính sách), trong đó hai yếu tố tác động, chi phối và định hướng lẫn nhau trong quá trình phát triển xã hội.

Một số biến đổi lối sống căn bản ở thành thị và nông thôn
Biến đổi trên lĩnh vực lao động – sản xuất
Về thu nhập và mức độ cải thiện thu nhập. Theo Khảo sát mức sống dân cư năm 2024 của Tổng cục Thống kê, thu nhập bình quân đầu người/tháng đạt 5,4 triệu đồng, tăng 9,1% so với năm 2023. Trong đó, khu vực thành thị đạt 6,9 triệu đồng/tháng và khu vực nông thôn đạt 4,5 triệu đồng/tháng, đều cao hơn chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022–2025. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2023 giảm xuống còn 3,4%, phản ánh những kết quả tích cực trong công tác xóa đói, giảm nghèo.

Tuy nhiên, chênh lệch thu nhập giữa các nhóm dân cư vẫn khá lớn. Thu nhập bình quân của nhóm hộ giàu nhất cao gấp 7,4 lần nhóm hộ nghèo nhất, tương ứng 11,8 triệu đồng và 1,6 triệu đồng/tháng.

Kết quả khảo sát xã hội học năm 2018 cho thấy cảm nhận của người dân về mức độ cải thiện thu nhập chưa thực sự tích cực. Có 53,9% số người được hỏi cho rằng thu nhập có được cải thiện nhưng còn chậm, trong khi 9,1% đánh giá thu nhập không được cải thiện. Xét theo khu vực, người dân nông thôn có xu hướng đánh giá mức độ cải thiện thu nhập thấp hơn người dân thành thị, với tỷ lệ lần lượt là 56,4% và 52,9%.

Nhìn chung, mặc dù mức sống và thu nhập của người dân đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây, cảm nhận về tốc độ cải thiện vẫn chưa đồng đều giữa các nhóm dân cư, đặc biệt giữa khu vực thành thị và nông thôn.

Bảng 1: Đánh giá về mức độ cải thiện thu nhập của người dân (%)

Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả.

Về hành vi tiêu dùng và tích lũy. Xu hướng sử dụng tiền tích lũy ngày càng chủ động, tập trung nhiều hơn vào các mục tiêu dài hạn như chi cho học tập của con cái (51,1%), dự phòng cho các khoản chi đột xuất (45,9%), gửi ngân hàng (45,7%) và đầu tư sản xuất – kinh doanh (26,6%).

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2024, chi cho giáo dục và đào tạo bình quân một người đi học đạt hơn 9,5 triệu đồng/năm, tăng 36,3% so với năm 2022. Mức tăng này cho thấy giáo dục ngày càng được coi trọng và phản ánh sự chuyển dịch trong ưu tiên chi tiêu của người dân.

Phân tích theo khu vực cho thấy có sự khác biệt nhất định trong cách sử dụng tiền tích lũy. Người dân nông thôn có xu hướng ưu tiên gửi ngân hàng (50,9%) và chi cho việc học tập của con cái (58,4%), trong khi người dân thành thị có xu hướng dành nhiều hơn cho mua nhà ở (13,0%) và du lịch gia đình (21,1%).

Biến đổi trên lĩnh vực đời sống chính trị
Hiểu biết về pháp luật và đường lối. Kết quả khảo sát cho thấy 45,6% người dân tự nhận “tương đối hiểu biết” về pháp luật, trong khi 15,4% “không biết”. Đối với đường lối, chủ trương của Đảng, 38,9% cho biết “biết tương đối rõ”, còn 10,6% “không biết”. Các kênh tiếp cận thông tin pháp luật vẫn chủ yếu là phương tiện truyền thống như đọc sách báo, nghe đài, xem tivi (26,1%). Trong bối cảnh Việt Nam có hơn 77 triệu người sử dụng internet vào năm 2024, tương đương khoảng 80% dân số, việc tận dụng các nền tảng số để phổ biến, giáo dục pháp luật ngày càng trở nên cần thiết.

Thái độ trước vấn nạn tham nhũng. Đáng chú ý, 11,1% người dân cho biết “thường xuyên” phải hối lộ khi làm việc với chính quyền, 29,2% cho rằng điều này xảy ra “tùy trường hợp”, trong khi chỉ 31,6% trả lời “không bao giờ”. Ba nguyên nhân hàng đầu của tệ tham nhũng được người dân xác định gồm: thu nhập thấp (19,3%), quyền lực chưa được kiểm soát tốt (18,5%) và pháp luật còn kẽ hở (17,6%).

Từ năm 2021 đến nay, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo tinh thần Đại hội XIII và XIV của Đảng được đẩy mạnh với quyết tâm cao. Tuy nhiên, việc thay đổi nhận thức “tham nhũng là tất yếu” trong một bộ phận người dân vẫn là vấn đề cần được giải quyết trong dài hạn.

Biến đổi trên lĩnh vực văn hóa – tinh thần
Hình thức giải trí và sử dụng thời gian rảnh. Điều tra năm 2018 cho thấy xem tivi, nghe đài, đọc báo là hình thức giải trí phổ biến nhất (24,4%), tiếp đến là sử dụng internet (14,2%), dã ngoại – câu cá (13,1%) và mua sắm (11,9%). Trong khi đó, gặp gỡ bạn bè chỉ chiếm 3,4%. Đáng chú ý, người dân nông thôn dành thời gian rảnh cho chơi game (24,9%) và trò chuyện trực tuyến (24,2%) nhiều hơn người dân thành thị. Điều này cho thấy các hình thức giải trí trực tuyến đã từng bước thâm nhập sâu hơn vào đời sống, trong đó có khu vực nông thôn.

Hoạt động tâm linh, tôn giáo. Phần lớn người được hỏi (59,6%) cho biết ít khi đi chùa. Tuy nhiên, 64,9% vẫn có thói quen xem bói khi gia đình có việc cưới hỏi, tang ma, trong khi 53,5% xem phong thủy khi mua đất, xây nhà. Các hoạt động này diễn ra phổ biến hơn ở khu vực nông thôn so với thành thị. Thực trạng mê tín cực đoan và thương mại hóa tín ngưỡng tiếp tục đặt ra những vấn đề cần quan tâm trong công tác quản lý và định hướng đời sống văn hóa, tinh thần.

Biến đổi trên lĩnh vực sinh hoạt gia đình – họ tộc
Quan hệ cha mẹ – con cái và giáo dục gia đình. Chỉ 12,8% cha mẹ cho biết thường xuyên đánh con, trong khi 46,6% ít khi và 36,2% không bao giờ sử dụng hình thức này. Đây là tín hiệu tích cực về sự thay đổi trong nhận thức và phương pháp giáo dục con cái. Tuy nhiên, tỷ lệ cha mẹ thường xuyên đánh con ở nông thôn (19,8%) vẫn cao hơn đáng kể so với thành thị (9,7%).

Nội dung giáo dục con cái cũng có sự chuyển dịch. Bên cạnh việc chú trọng giáo dục đạo đức (49,4%), cha mẹ ngày càng quan tâm đến việc trang bị kỹ năng sống (33,8%). Sự thay đổi này phản ánh xu hướng thích ứng của giáo dục gia đình với những yêu cầu ngày càng đa dạng của xã hội hiện đại.

Quan hệ vợ chồng và bình đẳng giới. Có 58,0% người được hỏi cho rằng gia đình thực hiện bình đẳng giới, trong khi 38,4% nhận định vẫn còn tình trạng bất bình đẳng. Tỷ lệ nhận định về bất bình đẳng giới ở nông thôn (52,3%) cao hơn đáng kể so với thành thị (34,5%). Đáng chú ý, 25,1% người dân nông thôn cho biết từng là nạn nhân của bạo lực gia đình, so với 12,4% ở thành thị.

Quốc hội đã thông qua Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi) năm 2022, có hiệu lực từ ngày 1/7/2023 với nhiều quy định tiến bộ. Sau hai năm triển khai, nhận thức xã hội có những chuyển biến tích cực và số vụ bạo lực gia đình có xu hướng giảm. Tuy nhiên, khoảng cách giữa các quy định pháp luật và thực tiễn đời sống vẫn còn đáng kể, đòi hỏi tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, phòng ngừa và thực thi pháp luật.

Bảng 2: Phản ứng của phụ nữ khi bị bạo hành gia đình (%).

Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả.

Biến đổi trên lĩnh vực quan hệ xã hội
Vượt ra phạm vi gia đình và họ tộc, biến đổi lối sống còn diễn ra mạnh mẽ ở cấp độ cộng đồng và xã hội. Khảo sát liệt kê 9 nhóm hành vi ứng xử thiếu văn hoá phổ biến trong cộng đồng, trong đó xả rác (13,3%), hút thuốc nơi công cộng (12,8%), chen lấn (12,3%) và phóng uế bừa bãi (11,5%) nổi bật nhất.

Về thái độ trước một số hiện tượng xã hội mới: xã hội vẫn bày tỏ thái độ chưa chấp nhận ngoại tình (75,5% rất không đồng tình), sống thử (48,3%), tình yêu đồng giới (42,3%). Đặc biệt, bạo lực học đường được đánh giá ở mức đáng lo ngại – 43,8% cho là phổ biến và 6,3% cho là rất phổ biến. Mê tín cũng ở mức 38,4% phổ biến. Những con số này gióng lên hồi chuông về thách thức trong quản lý xã hội hiện đại.

Đề xuất, khuyến nghị một số giải pháp chính sách
Thứ nhất, tiếp tục cải thiện thu nhập và thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế, đẩy mạnh cải cách hành chính, phát triển kinh tế số và thúc đẩy tăng trưởng bao trùm. Đối với khu vực nông thôn, cần thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; đối với khu vực đô thị, cần quan tâm hơn đến các nhóm thu nhập thấp và lao động nhập cư. Mục tiêu GDP bình quân đầu người đạt 8.500 USD vào năm 2030 theo Nghị quyết Đại hội XIV là một định hướng quan trọng, góp phần nâng cao mức sống và thu nhập của người dân.

Thứ hai, nâng cao nhận thức chính trị và năng lực tiếp cận pháp luật. Cần đa dạng hóa hình thức và đổi mới nội dung tuyên truyền theo hướng ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Đặc biệt, cần khai thác hiệu quả các nền tảng số và mạng xã hội để tăng khả năng tiếp cận của giới trẻ cũng như người dân ở vùng sâu, vùng xa; đồng thời tăng cường quản lý thông tin trên không gian mạng, góp phần hạn chế và xử lý thông tin sai lệch.

Thứ ba, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng trên ba trụ cột: (1) cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết 27-NQ/TW; (2) hoàn thiện thể chế và cơ chế kiểm soát quyền lực; và (3) xây dựng văn hóa liêm chính trong đội ngũ cán bộ, công chức. Công tác phòng, chống tham nhũng cần được triển khai đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở, gắn với việc phát huy vai trò giám sát của người dân và báo chí.

Thứ tư, bảo vệ gia đình và thúc đẩy bình đẳng giới thực chất. Cần triển khai hiệu quả Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, đặc biệt tại khu vực nông thôn; đồng thời rà soát, bảo đảm tính thống nhất giữa các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình và bình đẳng giới. Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về bình đẳng giới tại nơi làm việc và phòng, chống mua bán người.

Thứ năm, quản lý hiệu quả đời sống tâm linh, tôn giáo và văn hóa cộng đồng. Bên cạnh các quy định pháp luật, cần phát huy vai trò của công luận, các thiết chế tôn giáo và cơ chế tự quản cộng đồng trong giáo dục, định hướng và kiểm soát hành vi. Đặc biệt, cần chú trọng phòng ngừa mê tín cực đoan, thương mại hóa tín ngưỡng và bạo lực học đường thông qua sự kết hợp giữa pháp luật, giáo dục và các hoạt động cộng đồng.

Thứ sáu, phát huy vai trò của nhà trường, gia đình và cộng đồng trong phòng ngừa, uốn nắn hành vi lệch chuẩn. Cần kết hợp giữa chế tài pháp luật với giáo dục và định hướng dư luận xã hội, góp phần hình thành thái độ không chấp nhận các hành vi thiếu văn hóa. Đồng thời, phát huy vai trò của khu phố, tổ dân phố và các tổ chức đoàn thể trong việc giám sát, giáo dục và hỗ trợ các thành viên cộng đồng, qua đó góp phần xây dựng môi trường xã hội lành mạnh.

Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế đang tạo ra những tác động mạnh mẽ, sâu sắc và đa chiều đến lối sống của người dân Việt Nam. Kết quả nghiên cứu dựa trên khảo sát 3.600 người dân tại 8 tỉnh, thành phố, kết hợp với các số liệu thống kê quốc gia đến năm 2024, cho thấy một bức tranh vừa có tính kế thừa, vừa có sự biến đổi rõ nét. Một mặt, người dân vẫn nỗ lực gìn giữ và phát huy những giá trị tốt đẹp của lối sống truyền thống; mặt khác, nhận thức và hành vi của một bộ phận dân cư đang có những chuyển biến đáng kể, trong đó xuất hiện không ít biểu hiện lệch chuẩn cần được quan tâm.

Biến đổi lối sống là một quá trình tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội. Vấn đề đặt ra không phải là ngăn cản sự biến đổi, mà là nhận diện đúng xu hướng, chủ động định hướng và phát huy những mặt tích cực, đồng thời hạn chế các biểu hiện tiêu cực, lệch chuẩn. Vì vậy, các nhà lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách cần kịp thời nắm bắt những biến đổi trong lối sống của người dân, trên cơ sở đó tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách và các cơ chế định hướng phù hợp. Qua đó, góp phần xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp và hướng tới mục tiêu xây dựng một Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng./.

TS. Bùi Nghĩa, TS. Nguyễn Tôn Phương Du & Th.S. Hồ Thức Tài/Học viện Chính trị khu vực II

Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia Sự thật.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tháng 01/2026). Hà Nội.
3. Mai Văn Hai (2012), Quan hệ dòng họ và những quan niệm khác nhau về vai trò của nó. Tạp chí Văn hoá Nghệ An. Truy xuất từ: http://www.vanhoanghean.com.vn
4. Nghiêm Thu Nga (2014), Một số biến đổi của văn hoá gia đình Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá. Tạp chí Cộng sản điện tử.
5. Nguyễn Hoàng Đức (2003), Người Việt tự ngắm mình. Hà Nội.
6. Phan Kế Bính (2001), Việt Nam phong tục. Hà Nội: NXB Văn hóa – Thông tin.
7. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2022), Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi), số 13/2022/QH15, ngày 14/11/2022.
8. Tổng cục Thống kê (2024), Thông cáo báo chí kết quả Khảo sát mức sống dân cư năm 2024. Hà Nội: GSO.
9. Trần Từ (1984), Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ. Hà Nội: NXB Khoa học xã hội.
10. We Are Social & Meltwater (2024), Digital 2024: Vietnam. Truy xuất từ: https://wearesocial.com