Thứ Tư, Tháng 6 17, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Các nhân tố phát triển công nghiệp văn hóa vùng Đông Nam Bộ hiện nay

Bài viết được trích dẫn từ đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Phát triển công nghiệp văn hóa ở vùng Đông Nam Bộ hiện nay” do TS. Nguyễn Thị Hằng chủ nhiệm đề tài, Học viện Chính trị khu vực II chủ trì thực hiện.



ĐNA -

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, kinh tế tri thức và Cách mạng công nghiệp 4.0, công nghiệp văn hóa ngày càng trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát huy sức mạnh mềm quốc gia. Tại Việt Nam, phát triển công nghiệp văn hóa được xác định là nhiệm vụ trọng tâm nhằm gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Là vùng kinh tế năng động nhất cả nước, Đông Nam Bộ sở hữu nhiều lợi thế để phát triển lĩnh vực này, song vẫn đối mặt với những hạn chế về chất lượng sản phẩm, thương hiệu văn hóa, liên kết hệ sinh thái và khai thác nguồn lực. Từ góc độ kinh tế văn hóa và phát triển vùng, bài viết phân tích các nhân tố tác động đến công nghiệp văn hóa Đông Nam Bộ và đề xuất giải pháp nhằm phát huy tiềm năng, đưa lĩnh vực này trở thành ngành kinh tế quan trọng của vùng.

Cơ sở lý luận về phát triển công nghiệp văn hóa
Khái niệm công nghiệp văn hóa xuất hiện từ giữa thế kỷ XX và ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về kinh tế văn hóa. Theo UNESCO, công nghiệp văn hóa bao gồm các ngành sản xuất và phân phối hàng hóa, dịch vụ mang nội dung văn hóa, được tạo ra trên nền tảng sáng tạo, tri thức và tài năng con người. Giá trị cốt lõi của lĩnh vực này không nằm ở nguyên liệu hay tư liệu sản xuất mà ở hàm lượng sáng tạo, giá trị biểu tượng và bản sắc văn hóa kết tinh trong sản phẩm.

Trong bối cảnh hiện nay, công nghiệp văn hóa không chỉ là một bộ phận của đời sống văn hóa mà còn là ngành kinh tế có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao. Các lĩnh vực như điện ảnh, âm nhạc, xuất bản, mỹ thuật, thiết kế, quảng cáo, trò chơi điện tử, du lịch văn hóa và nội dung số đều có khả năng chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành giá trị kinh tế. Vì vậy, nhiều quốc gia xem công nghiệp văn hóa là trụ cột của nền kinh tế sáng tạo, đồng thời là công cụ quan trọng để gia tăng sức mạnh mềm và nâng cao vị thế quốc gia.

Ở Việt Nam, Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030 xác định công nghiệp văn hóa là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Lĩnh vực này không chỉ góp phần nâng cao đời sống tinh thần, tạo việc làm và thúc đẩy đổi mới sáng tạo mà còn được kỳ vọng trở thành động lực mới cho tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh chuyển đổi sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và sáng tạo.

Sự phát triển của công nghiệp văn hóa chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó vốn văn hóa và nguồn nhân lực sáng tạo giữ vai trò nền tảng. Bên cạnh đó, trình độ phát triển kinh tế, quy mô thị trường, cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ, thể chế chính sách và mức độ hội nhập quốc tế cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phát triển của ngành.

Đối với Đông Nam Bộ, nghiên cứu các nhân tố phát triển công nghiệp văn hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, đồng thời hội tụ nhiều lợi thế về văn hóa, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và thị trường tiêu dùng, vùng có điều kiện thuận lợi để hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh trong nước và quốc tế.

Các nhân tố phát triển công nghiệp văn hóa vùng Đông Nam Bộ
Vốn văn hóa – nền tảng của phát triển công nghiệp văn hóa.
Trong các nhân tố tác động đến sự phát triển công nghiệp văn hóa, vốn văn hóa là nguồn lực nền tảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Khác với các ngành công nghiệp truyền thống dựa vào tài nguyên thiên nhiên hay vốn vật chất, công nghiệp văn hóa phát triển trên cơ sở khai thác các giá trị văn hóa để tạo ra sản phẩm và dịch vụ. Vì vậy, sự phong phú và đa dạng của vốn văn hóa ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực sáng tạo và sức cạnh tranh của ngành.

Đông Nam Bộ là vùng đất có bề dày lịch sử và quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa mạnh mẽ. Sự cộng cư của người Việt, Hoa, Khmer, Chăm cùng những ảnh hưởng từ văn hóa phương Tây đã tạo nên không gian văn hóa đa dạng, giàu bản sắc. Đây là nguồn chất liệu quan trọng cho các hoạt động sáng tạo trong nhiều lĩnh vực như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, thiết kế, thời trang và du lịch văn hóa.

Bên cạnh các giá trị văn hóa truyền thống, Đông Nam Bộ còn là khu vực có tốc độ đô thị hóa cao nhất cả nước. Sự phát triển của các đô thị lớn, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh, đã hình thành những giá trị văn hóa đô thị đặc sắc, tạo môi trường thuận lợi cho các xu hướng văn hóa mới phát triển và thúc đẩy sự giao thoa giữa truyền thống với hiện đại. Đây là nguồn cảm hứng và động lực quan trọng cho sự phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trong vùng.

Nguồn nhân lực sáng tạo – động lực trực tiếp của công nghiệp văn hóa. Nếu vốn văn hóa là nền tảng thì nguồn nhân lực sáng tạo là động lực trực tiếp quyết định chất lượng và sức cạnh tranh của công nghiệp văn hóa. Quá trình chuyển hóa các giá trị văn hóa thành sản phẩm và dịch vụ có giá trị kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào năng lực sáng tạo của con người. Vì vậy, những địa phương sở hữu nguồn nhân lực sáng tạo chất lượng cao thường có lợi thế nổi bật trong phát triển công nghiệp văn hóa.

Đông Nam Bộ hiện là khu vực tập trung nguồn nhân lực chất lượng cao lớn nhất cả nước. Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò trung tâm đào tạo, nghiên cứu và sáng tạo với hệ thống trường đại học, học viện, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo chuyên ngành văn hóa, nghệ thuật, truyền thông, thiết kế, điện ảnh và kiến trúc. Hằng năm, khu vực này cung cấp lực lượng lớn chuyên gia và lao động sáng tạo cho thị trường.

Bên cạnh đó, Đông Nam Bộ còn tập trung nhiều doanh nghiệp truyền thông, hãng phim, công ty quảng cáo, thiết kế và công nghệ số. Môi trường làm việc năng động cùng khả năng tiếp cận nhanh các xu hướng quốc tế đã góp phần hình thành hệ sinh thái sáng tạo tương đối hoàn chỉnh, tạo điều kiện cho nguồn nhân lực nâng cao trình độ chuyên môn và khả năng thích ứng với thị trường.

Tuy nhiên, nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa của vùng vẫn còn những hạn chế như chất lượng đào tạo chưa đồng đều, năng lực sáng tạo đạt chuẩn quốc tế còn hạn chế và thiếu hụt nhân lực chuyên sâu trong các lĩnh vực như điện ảnh, nội dung số, quản trị nghệ thuật và thiết kế sáng tạo. Do đó, phát triển nguồn nhân lực tiếp tục là yêu cầu cấp thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh của công nghiệp văn hóa Đông Nam Bộ trong thời gian tới.

Sự phát triển của thị trường văn hóa. Thị trường văn hóa là một trong những điều kiện quan trọng quyết định sự phát triển của công nghiệp văn hóa. Hoạt động theo cơ chế thị trường, các sản phẩm văn hóa chỉ có thể phát triển bền vững khi được xã hội chấp nhận và tạo ra giá trị kinh tế. Do đó, quy mô và mức độ phát triển của thị trường văn hóa có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởng của các ngành công nghiệp văn hóa.

Đông Nam Bộ là vùng có quy mô kinh tế lớn nhất cả nước, tập trung dân số đông với mức sống và thu nhập bình quân đầu người cao. Sự gia tăng nhanh của tầng lớp trung lưu đã thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng văn hóa ngày càng đa dạng, không chỉ dừng ở giải trí mà còn hướng tới các sản phẩm có giá trị nghệ thuật, tính sáng tạo và trải nghiệm cao.

Sự phát triển của điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, xuất bản, quảng cáo, thời trang và du lịch văn hóa, đặc biệt tại Thành phố Hồ Chí Minh, phản ánh rõ sự mở rộng của thị trường văn hóa trong vùng. Các lễ hội, triển lãm, hội sách, tuần lễ thời trang và sự kiện văn hóa quốc tế được tổ chức thường xuyên đã góp phần hình thành thói quen tiêu dùng văn hóa, trong khi thương mại điện tử và các nền tảng số giúp mở rộng khả năng tiếp cận khách hàng cho các doanh nghiệp văn hóa.

Tuy nhiên, thị trường văn hóa Đông Nam Bộ vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Nhiều sản phẩm văn hóa chưa xây dựng được thương hiệu mạnh, năng lực cạnh tranh quốc tế còn hạn chế; đồng thời, tình trạng vi phạm bản quyền và cạnh tranh thiếu lành mạnh vẫn là những rào cản đối với hoạt động sáng tạo và phát triển của ngành.

Khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, khoa học công nghệ đang trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp văn hóa. Công nghệ số không chỉ thay đổi phương thức sản xuất và phân phối sản phẩm văn hóa mà còn làm biến đổi toàn bộ chuỗi giá trị của ngành.

Đông Nam Bộ là khu vực tập trung nhiều doanh nghiệp công nghệ lớn, đồng thời có tỷ lệ sử dụng internet và nền tảng số thuộc nhóm cao nhất cả nước. Đây là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp văn hóa ứng dụng công nghệ vào sản xuất, quảng bá và phân phối sản phẩm. Các lĩnh vực như điện ảnh, âm nhạc, xuất bản, quảng cáo và trò chơi điện tử đang chuyển đổi mạnh mẽ dưới tác động của công nghệ số.

Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), thực tế ảo (VR) và thực tế tăng cường (AR) góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra những trải nghiệm mới cho người tiêu dùng, đồng thời mở rộng thị trường vượt ra ngoài phạm vi địa phương và quốc gia. Nhờ đó, các sản phẩm văn hóa của Đông Nam Bộ có nhiều cơ hội tiếp cận khách hàng trên thị trường quốc tế.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số cũng đặt ra không ít thách thức. Nhiều doanh nghiệp văn hóa quy mô nhỏ còn hạn chế về nguồn lực đầu tư công nghệ; công tác bảo vệ bản quyền trên môi trường số vẫn còn bất cập; trong khi áp lực cạnh tranh từ các nền tảng và sản phẩm văn hóa quốc tế ngày càng gia tăng. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước phải liên tục đổi mới, nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh.

Thể chế, chính sách và môi trường đầu tư. Thể chế và chính sách là nhân tố quan trọng định hướng và tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của công nghiệp văn hóa. Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, tạo cơ sở để các địa phương xây dựng chiến lược phù hợp với điều kiện thực tiễn.

Tại Đông Nam Bộ, nhiều địa phương đã quan tâm hơn đến phát triển công nghiệp văn hóa gắn với lợi thế đặc thù. Thành phố Hồ Chí Minh xác định công nghiệp văn hóa là một trong những lĩnh vực trọng điểm của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội; trong khi Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh và Đồng Nai đang đẩy mạnh khai thác các giá trị văn hóa để phát triển du lịch và các dịch vụ sáng tạo.

Tuy nhiên, hệ thống chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp văn hóa vẫn còn một số hạn chế. Các cơ chế ưu đãi chưa đủ hấp dẫn để thu hút đầu tư, công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ còn nhiều khó khăn và sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý chưa thực sự đồng bộ. Những hạn chế này phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác và phát huy các nguồn lực văn hóa của vùng.

Hội nhập quốc tế và liên kết vùng. Hội nhập quốc tế là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa. Với vị thế là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, Đông Nam Bộ có nhiều điều kiện thuận lợi để mở rộng giao lưu văn hóa và hợp tác quốc tế.

Sự hiện diện của các doanh nghiệp nước ngoài, tổ chức quốc tế và các sự kiện văn hóa quy mô khu vực, quốc tế tạo cơ hội cho doanh nghiệp văn hóa trong vùng tiếp cận công nghệ hiện đại, học hỏi kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đồng thời, đây cũng là kênh quan trọng để quảng bá hình ảnh Đông Nam Bộ và Việt Nam ra thế giới.

Tuy nhiên, hội nhập quốc tế cũng đặt ra những thách thức không nhỏ. Các sản phẩm văn hóa trong nước phải cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm từ những quốc gia có nền công nghiệp văn hóa phát triển. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp trong vùng không ngừng nâng cao chất lượng, đổi mới sáng tạo và xây dựng thương hiệu để khẳng định vị thế trên thị trường trong nước và quốc tế.

Một số giải pháp phát huy các nhân tố phát triển công nghiệp văn hóa vùng Đông Nam Bộ hiện nay.
Để phát huy hiệu quả các nhân tố phát triển công nghiệp văn hóa vùng Đông Nam Bộ, trước hết cần khai thác và phát huy tốt nguồn vốn văn hóa. Các địa phương cần tăng cường bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời đẩy mạnh chuyển hóa các giá trị này thành sản phẩm và dịch vụ có sức cạnh tranh, gắn với xây dựng thương hiệu văn hóa đặc trưng của từng địa phương.

Cùng với đó, cần tập trung phát triển nguồn nhân lực sáng tạo chất lượng cao thông qua đổi mới công tác đào tạo theo hướng gắn với nhu cầu thị trường và xu hướng phát triển của công nghiệp văn hóa thế giới. Đồng thời, xây dựng cơ chế thu hút, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo.

Việc mở rộng và phát triển thị trường văn hóa cũng là nhiệm vụ quan trọng. Nhà nước cần hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh; đồng thời nâng cao nhận thức của người dân về giá trị của sản phẩm văn hóa và khuyến khích tiêu dùng sản phẩm trong nước.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, quảng bá và phân phối sản phẩm văn hóa. Các doanh nghiệp cần chủ động đầu tư công nghệ mới, phát triển sản phẩm văn hóa số và khai thác hiệu quả các nền tảng trực tuyến. Song song đó, cần xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo để hỗ trợ hiện thực hóa các ý tưởng sáng tạo thành sản phẩm có giá trị kinh tế.

Bên cạnh các giải pháp trên, cần tăng cường liên kết vùng và hợp tác quốc tế nhằm kết nối nguồn lực văn hóa, thị trường và hạ tầng, nâng cao hiệu quả khai thác tiềm năng của toàn vùng. Đồng thời, đẩy mạnh hợp tác với các đối tác quốc tế để thu hút nguồn lực, công nghệ và kinh nghiệm quản lý phục vụ phát triển công nghiệp văn hóa.

Công nghiệp văn hóa ngày càng khẳng định vai trò là một ngành kinh tế quan trọng trong bối cảnh phát triển kinh tế sáng tạo và hội nhập quốc tế. Với những lợi thế nổi bật về vốn văn hóa, nguồn nhân lực, thị trường, khoa học công nghệ và vị thế trung tâm kinh tế của cả nước, Đông Nam Bộ có nhiều điều kiện để trở thành trung tâm công nghiệp văn hóa hàng đầu Việt Nam. Tuy nhiên, để hiện thực hóa tiềm năng này cần có sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong việc hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực, mở rộng thị trường, đẩy mạnh chuyển đổi số và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Đặc biệt, phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ nhằm tạo ra giá trị kinh tế mà còn góp phần bảo tồn, lan tỏa và nâng cao giá trị văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa. Như cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021: “Văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất.” Quan điểm đó khẳng định văn hóa là hồn cốt, là bản sắc và là nền tảng bảo đảm sự trường tồn của dân tộc Việt Nam. Vì vậy, phát triển công nghiệp văn hóa cần được đặt trong mối quan hệ hài hòa giữa mục tiêu kinh tế và sứ mệnh gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Khi các nguồn lực và nhân tố phát triển được khai thác hiệu quả, công nghiệp văn hóa sẽ trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao sức mạnh mềm và góp phần phát triển bền vững vùng Đông Nam Bộ cũng như đất nước trong thời gian tới.

TS.Nguyễn Thị Hằng/Học viện Chính trị Khu vực II

Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Thị Hằng (2026), Phát triển công nghiệp văn hóa ở vùng Đông Nam Bộ hiện nay. Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp Bộ, Học viện Chính trị khu vực II, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
2. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2023), Báo cáo phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam.
3. Chính phủ (2016), Quyết định số 1755/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
4. UNESCO (2022), Creative Economy Outlook.
5. UNCTAD (2023), Creative Economy Programme Report.
6. Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (2024), Báo cáo thường niên công nghiệp văn hóa Việt Nam.
7. Nguyễn Thị Hồng (2023), “Phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật.
8. Trần Hữu Quang (2022), Công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật.