Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và yêu cầu tái cơ cấu nội tại đặt ra cấp thiết, chất lượng nguồn nhân lực được xem là nền tảng cho phát triển bền vững. Bình Phước, địa phương ở cửa ngõ phía Tây vùng kinh tế trọng điểm phía Nam mang đặc thù của một vùng đất mới, chuyển mình mạnh mẽ từ nông nghiệp sang công nghiệp. Việc đánh giá chất lượng nguồn nhân lực tại đây cần được đặt trong mạch lịch sử hình thành, những biến động kinh tế – xã hội giai đoạn 2019–2024, đặc biệt là bối cảnh sáp nhập địa giới hành chính với tỉnh Đồng Nai, nhằm nhận diện rõ cơ hội, thách thức và các vấn đề chiến lược cho phát triển nguồn nhân lực trong thời gian tới.

Phương pháp nghiên cứu
Để đảm bảo tính toàn diện, khách quan và chiều sâu khoa học, nghiên cứu này được triển khai trên cơ sở kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, qua đó cho phép tiếp cận vấn đề chất lượng nguồn nhân lực Bình Phước một cách hệ thống và đa chiều.
Thứ nhất, phương pháp phân tích tài liệu lịch sử và hiện tại: Được sử dụng nhằm làm rõ bối cảnh hình thành và tiến trình biến đổi của cơ cấu lao động, cũng như những đặc điểm nổi bật của nguồn nhân lực tỉnh Bình Phước qua các giai đoạn phát triển. Nghiên cứu tiến hành thu thập, rà soát và phân tích các tài liệu lưu trữ, sách lịch sử địa phương, các báo cáo phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh qua từng thời kỳ, từ đó nhận diện những dấu ấn lịch sử, kinh tế và xã hội có tác động lâu dài đến chất lượng nguồn nhân lực. Song song với đó, các tài liệu và báo cáo thống kê chính thức của Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê tỉnh Bình Phước, cùng các văn bản chính sách, báo cáo chuyên đề và bài viết khoa học liên quan đến giai đoạn 2019–2024 cũng được khai thác nhằm phản ánh sát thực trạng hiện nay.
Thứ hai, phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu thống kê: Được vận dụng để xử lý và hệ thống hóa các dữ liệu định lượng về lực lượng lao động trên địa bàn tỉnh. Các chỉ tiêu như quy mô và cơ cấu lực lượng lao động, trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật, ngành nghề, vị thế việc làm, tỷ lệ lao động qua đào tạo… được tổng hợp và phân tích chuyên sâu, qua đó phác họa một bức tranh toàn diện và chi tiết về thực trạng chất lượng nguồn nhân lực của Bình Phước trong bối cảnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Thứ ba, phương pháp so sánh – đối chiếu lịch sử: Được sử dụng nhằm làm nổi bật tính động và tính đặc thù của nguồn nhân lực địa phương. Nghiên cứu tiến hành so sánh cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực của Bình Phước ở các mốc thời gian khác nhau, như trước và sau thời kỳ đổi mới, trước và sau năm 2019, đồng thời đặt trong tương quan so sánh với một số tỉnh có điều kiện phát triển tương đồng trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Qua đó, những nét riêng, lợi thế cũng như hạn chế của nguồn nhân lực Bình Phước được nhận diện rõ hơn, đồng thời rút ra các bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo.
Cuối cùng, phương pháp phân tích bối cảnh (Contextual Analysis): Được áp dụng để xem xét tác động của các yếu tố bối cảnh vĩ mô và trung mô đến bài toán phát triển nguồn nhân lực của tỉnh. Cụ thể, nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, quá trình thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như EVFTA, CPTPP, cũng như chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính dẫn đến việc sáp nhập tỉnh, từ đó làm rõ những thay đổi về nhu cầu lao động, yêu cầu kỹ năng và thách thức trong công tác quản lý, phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn mới.
Kết quả và thảo luận
Chất lượng nguồn nhân lực tại Bình Phước (2019-2024)
Cơ cấu nguồn nhân lực: Cơ cấu nguồn nhân lực hiện tại của Bình Phước chịu ảnh hưởng sâu sắc từ lịch sử hình thành vùng đất. Sau năm 1975, Bình Phước trở thành điểm đến của các chương trình khai hoang, xây dựng kinh tế mới và định cư cho đồng bào các dân tộc từ nhiều vùng miền. Điều này lý giải phần nào cho cơ cấu lao động nông thôn (71%) áp đảo so với thành thị (29%) vào năm 2022 (Cục thống kê Bình Phước, 2025, tr.95-96), với lực lượng lao động đông đảo gắn bó với nông, lâm nghiệp – những ngành nghề truyền thống từ buổi đầu lập nghiệp.
Sự phân bố lao động trong doanh nghiệp không đồng đều giữa các huyện cũng phản ánh lịch sử phát triển không gian kinh tế. Các địa bàn có lợi thế về hạ tầng và vị trí địa lý như Chơn Thành, Đồng Xoài sớm trở thành trung tâm công nghiệp, trong khi các huyện biên giới, vùng sâu như Bù Gia Mập, Bù Đốp gặp nhiều khó khăn lịch sử về kết nối và phát triển, dẫn đến tỷ lệ lao động trong doanh nghiệp rất thấp.
Xu hướng tích cực là sự gia tăng vai trò của khu vực FDI (chiếm 50.89% lao động doanh nghiệp năm 2022) và khu vực ngoài Nhà nước (36,77%) (Cục thống kê Bình Phước, 2024, tr.220-221), đánh dấu bước chuyển mình từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường và hội nhập. Ngành Công nghiệp & Xây dựng chiếm ưu thế (70%) trong cơ cấu lao động doanh nghiệp (Cục thống kê Bình Phước, 2024, tr.222-223) cho thấy định hướng công nghiệp hóa đã bước đầu hình thành.
Biểu. Số lao động trong các doanh nghiệp đang hoạt động theo loại hình doanh nghiệp Bình Phước, 2019-2022

Trình độ nguồn nhân lực: Trình độ học vấn và chuyên môn của nguồn nhân lực Bình Phước là hạn chế lớn. Số liệu năm 2024 cho thấy tới 81.7% dân số có trình độ cao nhất chỉ từ THPT trở xuống; chỉ 7.2% có trình độ đại học trở lên (Tổng cục thống kê, 2024, tr.144-148). Tình trạng này bắt nguồn từ nhiều yếu tố lịch sử: xuất phát điểm dân trí thấp ở vùng đất mới, hệ thống giáo dục – đào tạo địa phương được hình thành và phát triển trong điều kiện còn nhiều khó khăn, chưa theo kịp tốc độ chuyển dịch kinh tế. Lao động tập trung chủ yếu ở nhóm “Nghề giản đơn” và “Nông, lâm, ngư nghiệp” (chiếm hơn nửa tổng số lao động) là hệ quả tất yếu (Cục thống kê Bình Phước, 2024, tr.103).
Tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh (20.1%) thấp hơn hẳn so với cả nước (26.4%) và vùng Đông Nam Bộ (28.2%) (Cục thống kê, 2025, tr.183-184), với khoảng cách lớn giữa thành thị (33.11%) và nông thôn (14.60%) (Cục thống kê Bình Phước, 2024, tr.104). Điều này cho thấy sự bất bình đẳng trong tiếp cận cơ hội đào tạo, phản ánh sự chênh lệch về phát triển giữa các tiểu vùng trong tỉnh – một di sản từ lịch sử phát triển không đồng đều.
Bảng. Tỷ lệ lao động qua đào tạo Bình Phước so với vùng Đông Nam Bộ và cả nước (2019-2023)

Các yếu tố ảnh hưởng trong bối cảnh đa chiều (2019-2024)
Tác động kép của Đại dịch COVID-19 và Hội nhập quốc tế. Giai đoạn 2019-2024 chứng kiến tác động kép chưa từng có. Đại dịch COVID-19 làm gián đoạn nghiêm trọng các hoạt động đào tạo, gây đứt gãy chuỗi cung ứng lao động, đồng thời thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số và yêu cầu về kỹ năng mới (làm việc từ xa, kỹ năng số). Song song đó, các hiệp định như EVFTA, CPTPP đặt ra yêu cầu khắt khe hơn về chất lượng lao động, tiêu chuẩn sản xuất, kỹ năng ngoại ngữ và quản lý trong các ngành xuất khẩu chủ lực của tỉnh (cao su, điều, gỗ) (Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Phước, 2025). Khoảng cách giữa yêu cầu mới này và thực trạng nguồn nhân lực càng trở nên rõ rệt.
Hệ thống giáo dục – đào tạo chưa theo kịp chuyển dịch kinh tế. Hệ thống đào tạo nghề và giáo dục đại học tại chỗ vẫn chưa thực sự gắn kết chặt chẽ với nhu cầu thực tế của các khu công nghiệp và doanh nghiệp FDI. Chương trình đào tạo còn nặng về lý thuyết, thiếu cơ sở vật chất thực hành hiện đại (Sở Nội vụ tỉnh Bình Phước, 2025). Điều này tạo nên nghịch lý: thừa lao động phổ thông, thiếu trầm trọng lao động có kỹ năng kỹ thuật trung và cao cấp.
Thách thức về cơ sở hạ tầng xã hội và điều kiện giữ chân nhân tài. Mặc dù đã được cải thiện, cơ sở hạ tầng y tế, giáo dục, văn hóa và dịch vụ đô thị tại Bình Phước vẫn chưa đủ sức hút để giữ chân người lao động có trình độ cao. Tình trạng “chảy máu chất xám” ngấm ngầm vẫn diễn ra, khi lao động trẻ sau khi được đào tạo có xu hướng tìm kiếm cơ hội tại TP.HCM, Đồng Nai hay Bình Dương, những nơi có môi trường sống và làm việc được đánh giá tốt hơn (Sở Nội vụ tỉnh Bình Phước, 2025).
Những vấn đề đặt ra
Ngày 12/6/2025, Quốc Hội ban hành Nghị quyết 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. Do đó, sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bình Phước và tỉnh Đồng Nai thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Đồng Nai. Sau khi sắp xếp, tỉnh Đồng Nai có diện tích tự nhiên là 12.737,18 km2, quy mô dân số là 4.491.408 người. Việc sáp nhập Bình Phước vào Đồng Nai không đơn thuần là thay đổi về địa giới, mà là một bước ngoặt chiến lược đối với bài toán phát triển nguồn nhân lực, đặt ra những vấn đề then chốt. Trên cơ sở phân tích thực trạng và các yếu tố tác động, có thể tổng kết ba vấn đề cốt lõi đặt ra cho Bình Phước trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời đề xuất những định hướng giải quyết chính.
Thứ nhất, vấn đề chuyển đổi lực lượng lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp – dịch vụ. Hiện vẫn tồn tại mâu thuẫn giữa cơ cấu lao động nông nghiệp truyền thống, trình độ thấp (chiếm tỷ trọng lớn) với yêu cầu ngày càng cao về lao động có kỹ năng cho các ngành công nghiệp chế biến và dịch vụ hiện đại. Tốc độ chuyển dịch kinh tế nhanh hơn tốc độ nâng cấp kỹ năng của người lao động. Vì vậy, cần đẩy mạnh các chương trình đào tạo, đào tạo lại nghề có trọng tâm. Tập trung vào các nhóm nghề mà các khu công nghiệp và doanh nghiệp FDI tại địa bàn có nhu cầu cao. Ưu tiên đào tạo ngắn hạn, linh hoạt, kết hợp lý thuyết với thực hành tại doanh nghiệp.
Phát triển mô hình liên kết “3 nhà” (Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp). Doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình, cung cấp chuyên gia hướng dẫn và cam kết tiếp nhận lao động sau đào tạo. Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ tài chính và cơ chế phối hợp.
Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp có hệ thống. Có chính sách hỗ trợ đào tạo, tư vấn việc làm và di chuyển lao động từ nông thôn ra khu vực công nghiệp, kèm theo các chế độ an sinh xã hội cần thiết trong giai đoạn chuyển tiếp.
Thứ hai, vấn đề thu hẹp khoảng cách kỹ năng và trình độ đáp ứng hội nhập. Trình độ học vấn và chuyên môn của nguồn nhân lực thấp, tỷ lệ qua đào tạo thấp hơn mặt bằng chung, đặc biệt thiếu hụt lao động có kỹ năng kỹ thuật trung và cao cấp, kỹ năng mềm, ngoại ngữ và kỹ năng số. Điều này cản trở khả năng cạnh tranh và thích ứng với các hiệp định thương mại quốc tế.
Do đó, cần cải cách và nâng cấp hệ thống giáo dục nghề nghiệp tại chỗ. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại; đổi mới chương trình đào tạo theo hướng ứng dụng, tích hợp kỹ năng số và ngoại ngữ cơ bản.
Khuyến khích và tạo điều kiện cho giáo dục đại học và sau đại học. Thiết lập cơ chế hợp tác với các trường đại học lớn trong vùng để mở các chương trình đào tạo từ xa, tại chỗ hoặc liên kết đào tạo các ngành then chốt.
Phát triển các chương trình bồi dưỡng kỹ năng mềm và kỹ năng thích ứng. Tổ chức các khóa đào tạo về giao tiếp, làm việc nhóm, tư duy phản biện, khả năng thích ứng với công nghệ mới cho người lao động.
Thứ ba, vấn đề thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao. Môi trường sống, cơ sở hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục, văn hóa) và cơ hội thăng tiến nghề nghiệp tại Bình Phước chưa đủ sức cạnh tranh, dẫn đến tình trạng “chảy máu chất xám” tiềm ẩn.
Xây dựng gói chính sách thu hút nhân tài toàn diện. Không chỉ tập trung vào lương, mà còn chú trọng các chế độ hỗ trợ nhà ở, phúc lợi gia đình (chăm sóc y tế, giáo dục cho con cái), môi trường làm việc chuyên nghiệp và cơ hội nghiên cứu, phát triển.
Đầu tư nâng cấp chất lượng dịch vụ đô thị và hạ tầng xã hội. Cải thiện rõ rệt các dịch vụ y tế, giáo dục, không gian văn hóa – giải trí để nâng cao chất lượng sống, từ đó tăng sức hấp dẫn lâu dài.
Tạo dựng hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. Khuyến khích và hỗ trợ các dự án khởi nghiệp, tạo điều kiện để lao động trẻ, có trình độ được cống hiến và gắn bó lâu dài với địa phương.
Thứ tư, vấn đề phát triển nguồn nhân lực cho vùng khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số. Tồn tại sự chênh lệch lớn về cơ hội đào tạo và việc làm giữa các tiểu vùng, đặc biệt là ở các huyện vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi có nhiều rào cản về ngôn ngữ, văn hóa và tiếp cận thông tin.
Cần triển khai các chương trình đào tạo nghề đặc thù, linh hoạt. Thiết kế chương trình ngắn hạn, phù hợp với điều kiện và tập quán địa phương, có thể kết hợp đào tạo tại chỗ. Ưu tiên các nghề gắn với phát triển nông-lâm nghiệp công nghệ cao, thủ công mỹ nghệ hoặc du lịch cộng đồng.
Cử cán bộ, giáo viên dạy nghề am hiểu văn hóa địa phương. Đảm bảo công tác đào tạo được tiếp cận một cách hiệu quả và tôn trọng bản sắc.
Hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội đi kèm. Kết hợp đào tạo nghề với các chính sách hỗ trợ vốn, tiêu thụ sản phẩm và xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, tạo ra môi trường để người lao động có thể ứng dụng và phát huy kỹ năng ngay tại địa phương.
Những định hướng giải pháp này cần được triển khai một cách đồng bộ, linh hoạt và có lộ trình cụ thể, với sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và cộng đồng người lao động.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Bình Phước, nay có thể trong khuôn khổ một tỉnh Đồng Nai mở rộng, là một nhiệm vụ phức tạp, đòi hỏi tư duy chiến lược sâu sắc và sự linh hoạt trước những biến đổi. Giải pháp không thể chỉ là những điều chỉnh cục bộ trong giáo dục – đào tạo, mà phải là một hệ thống giải pháp đồng bộ có tính đến: Các chương trình đào tạo, tái đào tạo cần được thiết kế phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của các nhóm lao động khác nhau, đặc biệt là lao động nông thôn và đồng bào dân tộc. Đẩy mạnh đào tạo kỹ năng số, ngoại ngữ và kỹ năng nghề nghiệp đáp ứng cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và các hiệp định thương mại. Xây dựng và vận hành hiệu quả mô hình hợp tác ba bên “Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp”, trong đó doanh nghiệp tham gia sâu vào xây dựng chương trình, cung cấp giảng viên kiêm nhiệm và tiếp nhận thực tập. Tập trung vào xây dựng môi trường sống và làm việc chất lượng cao, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, cùng các chế độ đãi ngộ vượt trội. Cần nhanh chóng xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực vùng với tư duy mở, tận dụng lợi thế của Đồng Nai để nâng cấp hệ thống đào tạo, đồng thời có cơ chế đặc thù để bảo tồn và phát triển nguồn nhân lực tại chỗ cho Bình Phước, tránh nguy cơ trở thành “vùng trũng” về nhân lực trong tương lai.
Việc cải thiện chất lượng nguồn nhân lực lúc này không chỉ là chìa khóa cho tăng trưởng kinh tế, mà còn là yếu tố quyết định vị thế và sự phát triển của vùng đất Bình Phước trong cấu trúc kinh tế – xã hội mới.
Nguyễn Thị Hương/ NCS. Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia TP.HCM
Tài liệu tham khảo
1.Cục thống kê tỉnh Bình Phước. (2024). Niên giám thống kê Bình Phước năm 2023. Nxb. Thống kê.
2.Cục thống kê tỉnh Bình Phước. (2025). Niên giám thống kê Bình Phước năm 2024. Nxb. Thống kê.
3.Cục thống kê. (2025). Niên giám thống kê năm 2024. Nxb. Thống kê.
4.Quốc Hội. (2025). Nghị quyết 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. Hà Nội.
5.Sở Nội vụ tỉnh Bình Phước. (2025). Báo cáo 31/BC-SNV về Kết quả “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển và sử dụng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Tài liệu lưu trữ.
6.Tổng cục thống kê. (2024). Kết quả chủ yếu Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 0 giờ 01/4/2024. Nxb. Thống kê.
7.Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Phước. (2025). Báo cáo 57/BC-UBND về Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển và sử dụng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao giai đoạn 2021 – 2024. Tài liệu lưu trữ.


