Thứ Sáu, Tháng 3 13, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Chia để trị: Từ chính sách thuộc địa đến những cuộc khẩu chiến online



ĐNA -

Một bình luận nhỏ dưới bài viết về Palestine hôm qua lại gợi ra một vấn đề không hề nhỏ. Người viết nhắc đến “chiêu bài vỡ lòng” của chủ nghĩa thực dân: chia để trị. Nghe qua tưởng như chuyện đã nằm yên trong sách giáo khoa lịch sử. Nhưng nhìn vào những chia rẽ và nghi kỵ trong thế giới hôm nay, ta có thể tự hỏi: liệu cái vòi bạch tuộc của chiến lược ấy đã thật sự biến mất, hay chỉ đổi cách để bây giờ len lỏi vào đời sống xã hội?

Tòa đốc lý hay Tòa thị chính Hà Nội trên một bưu thiếp.

“Chia để trị”: Công thức thuộc địa đằng sau những đường ranh hành chính
Khi thực dân Pháp đặt chân đến Việt Nam vào giữa thế kỷ XIX, thứ chúng mang theo không chỉ là súng đạn, tàu chiến hay những đạo luật áp đặt từ Paris. Nguy hiểm hơn, đó là cả một bộ “công cụ phẫu thuật chính trị” nhằm mổ xẻ và chia cắt xã hội bản địa để dễ bề cai trị.

Sau khi hoàn tất quá trình xâm lược quân sự, chính quyền thuộc địa nhanh chóng chia lãnh thổ Việt Nam thành ba thực thể: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Thoạt nhìn, đó chỉ có vẻ là một sự sắp xếp hành chính nhằm thuận tiện cho quản lý. Nhưng thực chất, đây là một thiết kế chính trị có tính toán kỹ lưỡng. Ba vùng đất ấy không chỉ khác nhau về tên gọi, mà còn bị đặt dưới ba chế độ cai trị khác nhau, với ba hệ thống pháp luật và cơ cấu hành chính khác nhau.

Nam Kỳ bị biến thành thuộc địa trực tiếp của Pháp (colonie) từ năm 1867, đặt dưới sự điều hành của Toàn quyền Đông Dương và luật pháp Pháp được áp dụng gần như toàn bộ. Bắc Kỳ trở thành xứ bảo hộ (protectorat), trên danh nghĩa vẫn thuộc triều đình nhà Nguyễn nhưng thực quyền nằm trong tay viên Thống sứ Pháp. Còn Trung Kỳ được duy trì triều đình Huế như một bộ máy tượng trưng, với vị vua và triều thần vẫn tồn tại, nhưng quyền lực thực tế bị khống chế bởi Khâm sứ Pháp.

Bề ngoài, đó là một hệ thống quản trị phức tạp. Nhưng về bản chất, nó phục vụ cho một mục tiêu duy nhất: chia nhỏ một quốc gia thống nhất thành nhiều không gian chính trị khác nhau, khiến mỗi vùng đất dần hình thành những đặc điểm pháp lý, kinh tế và xã hội riêng biệt.

Theo thời gian, những khác biệt ấy bắt đầu len lỏi vào đời sống xã hội. Người dân sống trong những hệ thống hành chính khác nhau, chịu những quy định khác nhau, tiếp xúc với những chính sách giáo dục và kinh tế khác nhau. Từ đó, những định kiến vùng miền, vốn trước đây không quá sâu sắc dần được nuôi dưỡng và củng cố trong tâm lý xã hội. Khi một dân tộc bắt đầu nhìn nhau trước hết như người của vùng này hay vùng kia, thay vì cùng thuộc về một cộng đồng quốc gia, thì chiến lược “chia để trị” của thực dân đã thành công được một nửa mà gần như không cần thêm một viên đạn nào.

Tuy nhiên, chiến lược ấy không chỉ dừng lại ở việc chia cắt lãnh thổ. Thực dân Pháp còn chủ động can thiệp sâu vào cấu trúc quyền lực của các cộng đồng dân tộc thiểu số, tạo ra những “vùng đệm chính trị” phục vụ cho lợi ích của chính quyền thuộc địa.

Một ví dụ điển hình là vùng cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang) đầu thế kỷ XX. Tại đây, chính quyền Pháp nâng đỡ dòng họ Vương, một gia tộc người H’Mông có ảnh hưởng lớn trong khu vực và phong cho Vương Chính Đức danh xưng mà người Pháp gọi là “Vua Mèo”. Với sự hậu thuẫn của chính quyền bảo hộ, vùng Đồng Văn gần như trở thành một khu vực bán tự trị, nơi quyền lực của dòng họ Vương được củng cố để đổi lấy sự trung thành với chính quyền thuộc địa.

Ở Tây Nguyên, người Pháp cũng từng nuôi dưỡng ý tưởng tách khu vực này thành một không gian hành chính riêng biệt, thường được gọi trong các tài liệu thuộc địa là “Pays Montagnards”, xứ người Thượng, nhằm tách biệt vùng cao nguyên với người Kinh ở đồng bằng. Mục tiêu là tạo ra một tầng đệm chiến lược: nếu phong trào chống Pháp bùng lên ở đồng bằng, khu vực cao nguyên vẫn có thể được kiểm soát bằng một hệ thống quyền lực khác.

Công thức của họ thực ra rất đơn giản nhưng cực kỳ hiệu quả: chia nhỏ lãnh thổ, nuôi dưỡng sự khác biệt, rồi biến những khác biệt ấy thành ranh giới chính trị. Tách ra, chia nhỏ, rồi đứng giữa làm “trọng tài”. Chính họ tạo ra mâu thuẫn, sau đó lại xuất hiện với vai trò người “giữ trật tự”.

Đó không phải là sáng kiến riêng của Pháp ở Việt Nam, mà là một quy luật cai trị cổ điển của các đế quốc. Khi một xã hội ổn định và đoàn kết, chế độ thực dân hầu như không có chỗ đứng. Nhưng khi xã hội bắt đầu rạn nứt và bất ổn, chúng lập tức có thể xuất hiện với đủ danh nghĩa: bảo vệ hòa bình, trung gian hòa giải, thậm chí là “khai hóa văn minh”. Nói cách khác, sự chia rẽ không chỉ là công cụ cai trị, mà còn trở thành lý do tồn tại của chúng.

Sau này, khi Mỹ can dự vào Việt Nam, họ cũng gần như bê nguyên công thức ấy. Washington tìm cách khai thác các mâu thuẫn tôn giáo, kích động khác biệt sắc tộc, và từng nuôi tham vọng dựng nên những vùng tự trị ở Tây Nguyên thông qua các lực lượng như FULRO. Chỉ cần đất nước này bị chia rẽ, việc kiểm soát sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Bởi với các cường quốc, một quốc gia yếu vì chia rẽ luôn dễ xử lý hơn nhiều so với một dân tộc đoàn kết.

Nếu nhìn rộng ra thế giới, ta sẽ thấy trò này không hề xa lạ. Kịch bản “bán một căn nhà cho ba người mua” ở Palestine là một ví dụ điển hình. Một vùng đất được hứa hẹn cho nhiều bên khác nhau, để rồi khi các bên bắt đầu tranh chấp vì “căn nhà” ấy, người bán đứng ngoài vừa đóng vai trọng tài… vừa bán thêm vũ khí. Khi một dân tộc bị chia rẽ về ý chí, họ khó có thể đứng vững trước sức ép từ bên ngoài.

Nhưng cả Pháp lẫn Mỹ đều đã tính sai một điều ở dải đất hình chữ S này. Đó là người Việt Nam có một “mã gen” rất đặc biệt: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một.” Ý thức ấy, qua nhiều thế hệ, đã trở thành sợi dây thép gắn kết cộng đồng, bóp nghẹt mọi toan tính chia cắt. Sự kiện đất nước thống nhất năm 1975 không chỉ khép lại một cuộc chiến tranh kéo dài, mà còn là lời khẳng định rằng những âm mưu chia rẽ dân tộc trong suốt hơn một thế kỷ đã thất bại.

Phủ Khâm sứ Pháp ở Trung Kỳ. Ảnh sưu tầm.

Thế nhưng đôi khi nhìn vào thực tế hiện nay, lại thấy có chút vừa nực cười vừa xót xa. Những kẻ thực dân ngày xưa đã phải tốn biết bao công sức, tiền bạc và mưu kế để chia rẽ dân tộc này mà vẫn không thành. Vậy mà ngày nay, khi đất nước đã hòa bình nhiều thập kỷ, trên mạng xã hội thỉnh thoảng vẫn xuất hiện những cuộc khẩu chiến vùng miền không hồi kết. Người ta chê bai giọng nói, mỉa mai quê quán, thậm chí miệt thị lẫn nhau chỉ vì khác nhau một giọng địa phương.

Nhìn cảnh ấy, nếu mấy kẻ thực dân, đế quốc ngày xưa sống lại, có lẽ chúng phải cười khoái chí. Bởi điều mà súng đạn, nhà tù và đủ thứ chính sách chia để trị của chúng từng cố gắng làm mà không thành, thì nay đôi khi lại đang được một bộ phận chúng ta tự làm giúp chỉ bằng vài dòng bình luận trên màn hình.

Nghĩ cũng mỉa mai: giá như ngày xưa chúng không cần nổ súng, mà chỉ phát cho mỗi người một chiếc smartphone, có lẽ nhiều người đã tự chia rẽ nhau trên mạng rồi. Khi ấy, họ thậm chí còn chẳng cần tốn công cai trị. Lịch sử đã chứng minh một điều rất rõ: mỗi khi dân tộc này đoàn kết, không thế lực nào có thể khuất phục được. Nhưng nếu chính chúng ta tự dựng lên những bức tường định kiến trong lòng mình, thì chẳng cần kẻ thù nào cả, chúng ta cũng đã tự làm yếu mình đi rồi.

Đừng để những định kiến vùng miền tầm thường biến chúng ta thành những “di sản” còn sót lại của thời thực dân. Bởi điều mà súng đạn, nhà tù và cả một bộ máy cai trị từng cố gắng áp đặt suốt hàng thế kỷ mà không thành, sẽ trở nên vô cùng trớ trêu nếu ngày nay lại bị tái hiện chỉ bằng vài dòng bình luận vô nghĩa trên mạng xã hội.

Phức hợp ngôi nhà gỗ dùng làm Dinh Thống đốc Nam kỳ đầu tiên.

Đế quốc từng thất bại khi cố gắng chia cắt đất nước này bằng vũ lực. Từ những ranh giới Bắc Kỳ – Trung Kỳ – Nam Kỳ thời thuộc địa, đến vĩ tuyến 17 sau Hiệp định Genève năm 1954, lịch sử đã nhiều lần chứng kiến những nỗ lực chia tách Việt Nam thành những không gian chính trị khác nhau. Nhưng cuối cùng, mọi đường ranh ấy đều không tồn tại lâu dài trước một ý thức dân tộc đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử.

Chính vì thế, điều đáng suy ngẫm nhất không phải là những âm mưu chia rẽ từ bên ngoài, mà là cách một xã hội phản ứng với chúng. Trong suốt thế kỷ XX, dù trải qua chiến tranh, chia cắt và vô số khác biệt về thể chế, người Việt Nam cuối cùng vẫn tìm được điểm chung để đi đến thống nhất. Điều đó cho thấy sức mạnh thật sự của một quốc gia không nằm ở việc mọi người giống nhau, mà nằm ở khả năng vượt qua khác biệt để vẫn nhận ra mình thuộc về cùng một cộng đồng.

Bởi rốt cuộc, một dân tộc chỉ thật sự thất bại khi họ quên mất rằng mình vốn dĩ là một. Và điều mà súng đạn của các đế quốc từng không làm được trong hàng thế kỷ, đừng để nó xảy ra chỉ vì những định kiến nhỏ nhoi hay vài dòng bình luận vô trách nhiệm trên mạng xã hội.

Nếu lịch sử có một bài học lớn, thì có lẽ đó là bài học này: đất nước này chỉ yếu đi khi người Việt quay lưng với nhau và chỉ mạnh lên khi họ nhớ rằng mình đứng cùng một phía.

Thủy Phạm