Từ năm 2014, mô hình “chính phủ kiến tạo phát triển” trở thành định hướng trọng tâm trong quản trị công ở Việt Nam và tiếp tục được khẳng định tại Văn kiện Đại hội XIV (2026) với mục tiêu xây dựng nhà nước tinh gọn, liêm chính, hiệu quả, góp phần hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045. Trong bối cảnh đó, dù Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam sau ngày 01/7/2025 đóng góp hơn 40% GDP và trên 45% thu ngân sách quốc gia, khu vực này vẫn tồn tại nhiều hạn chế về quản trị công. Bài viết phân tích tác động của mô hình chính phủ kiến tạo phát triển đối với hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương của vùng trên các phương diện thể chế, tổ chức bộ máy, đội ngũ nhân sự và cơ chế đặc thù.

Khái niệm “nhà nước kiến tạo phát triển” (developmental state) được Chalmers A. Johnson đề xuất khi nghiên cứu sự phát triển của Nhật Bản, nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong việc định hướng chính sách, tạo môi trường thuận lợi để các chủ thể kinh tế phát huy tiềm năng, đồng thời duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Mô hình này sau đó được nhiều nền kinh tế Đông Á như Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore vận dụng thành công.
Tại Việt Nam, “Chính phủ kiến tạo phát triển” chính thức được xác lập từ năm 2014 và trở thành định hướng xuyên suốt trong cải cách hành chính, được thể chế hóa qua các nghị quyết của Chính phủ và tiếp tục khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII, XIV với yêu cầu xây dựng nhà nước liêm chính, hành động, phục vụ Nhân dân, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.
Từ các cách tiếp cận lý luận và thực tiễn, nội hàm cốt lõi của Chính phủ kiến tạo phát triển ở Việt Nam có thể khái quát trên bảy phương diện chủ yếu:
Thứ nhất, chủ động hoạch định và dẫn dắt phát triển. Chính phủ giữ vai trò kiến tạo thông qua việc xây dựng chiến lược, định hướng và ban hành chính sách nhằm thúc đẩy thực hiện các mục tiêu phát triển quốc gia, không can thiệp làm thay thị trường nhưng tạo điều kiện để thị trường vận hành hiệu quả.
Thứ hai, không ngừng đổi mới bộ máy và nâng cao hiệu quả quản trị. Hiệu quả thực thi công vụ cùng mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp là thước đo hoạt động của Chính phủ; bộ máy hành chính phải tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, liêm chính và sử dụng nhân sự dựa trên năng lực, phẩm chất.
Thứ ba, kiến tạo môi trường phát huy mọi nguồn lực xã hội. Nhà nước hoàn thiện thể chế pháp quyền và chính sách công để tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, tổ chức và công dân khai thác tối đa tiềm năng, đóng góp vào tăng trưởng và đổi mới sáng tạo.
Thứ tư, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Chính phủ chuyển từ tư duy quản lý sang phục vụ, đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường hợp tác công – tư, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trước Nhân dân.
Thứ năm, bảo đảm kỷ cương và thượng tôn pháp luật. Một hệ thống pháp luật đầy đủ, thống nhất và tiệm cận các chuẩn mực khu vực, quốc tế là nền tảng để duy trì môi trường quản trị ổn định, minh bạch và hiệu quả.
Thứ sáu, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và trọng dụng nhân tài. Nhà nước tạo lập cơ chế cạnh tranh công bằng, kiểm soát độc quyền, khuyến khích cải cách doanh nghiệp, đồng thời xây dựng cơ chế tuyển dụng, sử dụng và quy trách nhiệm rõ ràng nhằm thu hút, phát huy người có năng lực.
Thứ bảy, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực. Chính phủ xây dựng cơ chế điều hành thống nhất nhưng linh hoạt giữa Trung ương và địa phương, mở rộng quyền tự chủ đi đôi với giám sát, đồng thời áp dụng các cơ chế đặc thù phù hợp với điều kiện và lợi thế phát triển của từng vùng.
Sự tác động của Chính phủ kiến tạo phát triển đến quản trị địa phương Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam gồm 8 tỉnh, thành phố, chiếm khoảng 8% diện tích và 17% dân số cả nước nhưng đóng góp hơn 40% GDP, trên 45% thu ngân sách quốc gia và thu hút hơn một nửa tổng vốn FDI. Với vai trò là đầu tàu tăng trưởng, việc vận dụng mô hình Chính phủ kiến tạo phát triển có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương, thể hiện trên các phương diện sau:
Thứ nhất, nâng cao khả năng thích ứng và đổi mới của bộ máy quản trị. Mặc dù có lợi thế vượt trội về công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hiện đại và hội nhập quốc tế, Vùng vẫn đối mặt với nhiều thách thức như biến đổi khí hậu, ngập úng đô thị và áp lực phát triển hạ tầng. Tinh thần Chính phủ kiến tạo góp phần thúc đẩy tư duy quản trị linh hoạt, xây dựng đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, qua đó tận dụng hiệu quả các cơ hội từ chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu, phát triển công nghiệp bán dẫn và kinh tế số.
Thứ hai, tạo động lực xây dựng nền hành chính liêm chính, hành động và phục vụ phát triển. Mô hình Chính phủ kiến tạo đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị công. Các quy định pháp luật mới, cùng những cơ chế, chính sách đặc thù dành cho các địa phương trọng điểm, đặc biệt là TP. Hồ Chí Minh, đã mở rộng không gian thể chế để đẩy mạnh phân cấp, cải cách hành chính và phát huy vai trò đầu tàu phát triển của Vùng.
Chính phủ kiến tạo phát triển đòi hỏi chuyển đổi tư duy từ “quản lý” sang “quản trị” và “kiến tạo phát triển”, lấy phục vụ người dân và doanh nghiệp làm trung tâm thay cho cách tiếp cận thiên về kiểm soát hành chính. Hiệu quả quản trị cần được đánh giá thông qua mức độ hài lòng của người dân và cộng đồng doanh nghiệp, phản ánh qua các chỉ số như PAPI, PCI và PAR INDEX. Thực tế, kết quả PAPI năm 2023 cho thấy nhiều địa phương phía Nam còn hạn chế về công khai, minh bạch và sự tham gia của người dân, đặt ra yêu cầu đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công và tăng cường trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương.
Bên cạnh đó, mô hình Chính phủ kiến tạo nhấn mạnh yêu cầu đổi mới cơ chế thu hút, sử dụng và giữ chân nhân tài. Trong bối cảnh nhiều địa phương của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam gặp khó khăn trong cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao với khu vực tư nhân, việc hoàn thiện chính sách đãi ngộ, tạo môi trường làm việc thuận lợi và khuyến khích cán bộ dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm trở thành điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực quản trị và thúc đẩy phát triển bền vững.
Thứ ba, tạo điều kiện hiện thực hóa các cơ chế đặc thù và tăng cường liên kết vùng. Tinh thần Chính phủ kiến tạo phát triển thúc đẩy mạnh mẽ phân cấp, phân quyền và thiết kế các cơ chế đặc thù phù hợp với yêu cầu phát triển địa phương. Những chính sách dành cho TP. Hồ Chí Minh về tổ chức chính quyền đô thị, tài chính – ngân sách và khoa học – công nghệ đã mở rộng quyền tự chủ, nâng cao hiệu quả quản trị và tạo động lực đổi mới. Đồng thời, quy hoạch vùng và các định hướng phát triển liên kết là cơ sở quan trọng để phối hợp đầu tư hạ tầng chiến lược, tăng cường kết nối không gian kinh tế và phát huy lợi thế so sánh của toàn Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Thứ tư, củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp đối với chính quyền địa phương. Mục tiêu cốt lõi của Chính phủ kiến tạo phát triển là nâng cao chất lượng phục vụ và gia tăng sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi các địa phương trong Vùng tiếp tục cải thiện chất lượng dịch vụ công, đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, việc phát triển chính quyền điện tử, chính quyền số và đô thị thông minh không chỉ nâng cao hiệu quả quản trị mà còn góp phần củng cố niềm tin xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển là định hướng chiến lược nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045. Điều này cho thấy mô hình kiến tạo không chỉ là một triết lý quản trị hiện đại mà còn là yêu cầu tất yếu trong quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý và điều hành quốc gia. Giá trị cốt lõi của mô hình nằm ở việc chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy phục vụ và kiến tạo, lấy người dân, doanh nghiệp và hiệu quả phát triển làm trung tâm của mọi quyết sách.
Đối với Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đầu tàu tăng trưởng của cả nước, việc hiện thực hóa tinh thần Chính phủ kiến tạo phát triển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao chất lượng quản trị địa phương, tăng cường năng lực cạnh tranh và khai thác hiệu quả các động lực phát triển mới. Những cải cách về tổ chức chính quyền đô thị, cơ chế đặc thù, quy hoạch tích hợp và thúc đẩy chuyển đổi số thời gian qua cho thấy tư duy kiến tạo đã từng bước được thể chế hóa và triển khai trong thực tiễn, góp phần tạo không gian phát triển linh hoạt hơn cho các địa phương trong Vùng.
Tuy nhiên, để mô hình này thực sự trở thành động lực nội sinh cho phát triển bền vững, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng minh bạch, ổn định và phù hợp với yêu cầu hội nhập; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình; xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, bản lĩnh và tinh thần đổi mới sáng tạo; thúc đẩy chuyển đổi số gắn với phát triển chính quyền số; đồng thời tăng cường liên kết vùng, phát huy lợi thế so sánh và tính bổ trợ giữa các địa phương.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt và yêu cầu phát triển nhanh nhưng bền vững, thành công của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam sẽ không chỉ phụ thuộc vào nguồn lực hay vị trí địa kinh tế, mà còn phụ thuộc vào chất lượng thể chế và năng lực kiến tạo của chính quyền các cấp. Một nền quản trị hiện đại, liêm chính, hành động và lấy phục vụ làm trọng tâm sẽ là tiền đề để Vùng tiếp tục giữ vai trò đầu tàu tăng trưởng, lan tỏa động lực phát triển và đóng góp quan trọng vào quá trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
TS.Bùi Nghĩa/Học viện Chính trị khu vực II
Tài liệu tham khảo
1. Chalmers Johnson (1982), MITI and the Japanese Miracle, Stanford University Press, CA.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2017), Nghị quyết số 18-NQ/TW Hội nghị lần thứ 6 BCH Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
4. Bộ Chính trị (2022), Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 30/12/2022 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
5. Quốc hội (2023), Luật số 35/2023/QH15 về thực hiện một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh.
6. Thủ tướng Chính phủ (2024), Quyết định số 370/QĐ-TTg ngày 04/4/2024 phê duyệt Quy hoạch vùng Đông Nam Bộ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
7. CECODES, VFF-CRT & UNDP (2024), Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) 2023, Hà Nội.
8. Ngô Đức Huy & Nguyễn Thị Thanh Dung (2015), Nhà nước kiến tạo phát triển – Khái niệm và những yếu tố thành công, Thông tin Khoa học xã hội, số 11/2015.
9. Daron Acemoglu & James A. Robinson (2012), Nguồn gốc của quyền lực, thịnh vượng và nghèo đói, Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
10. Ha-Joon Chang (2003), Globalisation, Economic Development and the Role of the State, Zed Books, London.


