Bắt đầu từ công cuộc đổi mới năm 1986, chính sách giao, khoán rừng từng bước được định hình rõ nét qua Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (1991), Luật Đất đai (1993) và Nghị định 02/CP ngày 15/1/1994 của Chính phủ về giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. Từ nền tảng đó, chính sách giao, khoán rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục được phát triển qua các văn bản pháp lý kế tiếp, thể hiện sự quan tâm ngày càng sâu sắc của Nhà nước đối với vai trò của cộng đồng dân tộc thiểu số trong công tác bảo vệ rừng.

Giao rừng và khoán rừng (khoán bảo vệ rừng), tuy khác nhau về bản chất pháp lý, nhưng đều là những chính sách quan trọng, cùng hướng đến mục tiêu gắn bó lâu dài đồng bào dân tộc thiểu số với đại ngàn. Nếu “giao rừng” trao cho đồng bào quyền làm chủ, tạo động lực để họ coi rừng như tài sản của chính mình mà vun trồng, gìn giữ, thì “khoán rừng” là giải pháp linh hoạt, kịp thời huy động sức dân tham gia bảo vệ những cánh rừng do Nhà nước quản lý, nhất là ở những nơi chưa đủ điều kiện giao rừng.
Một chính sách mang tính dài hạn, một giải pháp đáp ứng yêu cầu trước mắt, nhưng “giao” và “khoán” bổ trợ cho nhau, góp phần tạo nên thế trận toàn dân giữ rừng, để không một cánh rừng nào bị bỏ ngỏ, không một người dân nào đứng ngoài cuộc.
Để những cánh rừng già mãi xanh, để đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ là người bảo vệ mà thực sự trở thành người làm chủ đại ngàn, câu chuyện “giao” và “khoán” chính là bước đệm căn cơ. Khi mỗi thân cây được trồng lên, mỗi quả đồi được phủ xanh, cũng là lúc biên cương đất nước được bồi đắp bằng sự sống, sự no ấm và tình yêu của những con người coi rừng già là máu thịt, coi núi cao là bệ đỡ cho cuộc đời mình. Từ đó thắp lên một niềm tin mãnh liệt: rừng xanh, dân giàu, biên cương vững bền.
Sự hiện hữu của những cánh rừng di sản nơi vùng biên cương phía Tây Đà Nẵng cũng là kết quả của một tầm nhìn chiến lược, khi cấp ủy, chính quyền địa phương biết khơi nguồn, tôn trọng và nâng tầm “sức mạnh nội sinh” của tri thức bản địa, đưa nguồn lực ấy vào hệ thống quản lý nhà nước.
Khi “luật tục” hòa quyện cùng “quốc pháp” bảo vệ chủ quyền.
Ông Bh’riu Liếc, nguyên Bí thư Huyện ủy Tây Giang, người được đồng bào suy tôn là người con Cơ Tu đi bộ băng rừng nhiều nhất nước đã đúc kết một triết lý quản trị sắc bén, trở thành châm ngôn của cả vùng: “Còn rừng thì còn Tây Giang, mất rừng thì mất người dân!”. Quan điểm ấy cũng thống nhất với tư tưởng của Đảng và Nhà nước trong bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới. Bởi chủ quyền quốc gia không chỉ được xác lập bằng những cột mốc biên giới, mà còn được gìn giữ bởi những cánh rừng đầu nguồn giữ mạch nước, bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế thiên tai và, trên hết, bởi những bản làng ấm no, quần tụ, tạo thành những “cột mốc sống” vững vàng nơi “phên dậu” Tổ quốc.
Từ thực tiễn Tây Giang, ông Bh’riu Liếc từng chia sẻ kinh nghiệm: “Huyện Tây Giang bàn giao hết cây, rừng, núi cho người dân quản lý. Người quản lý ở đây là già làng, trưởng thôn, bí thư chi bộ… Cây nào, rừng nào bị tàn phá, xâm hại thì những người đó phải chịu trách nhiệm đầu tiên. Khi gắn trách nhiệm rồi, họ thực hiện rất nghiêm túc, xem rừng như của mình để bảo vệ. Chúng tôi tôn trọng, lắng nghe dân nói và cho dân làm”.
Để hiện thực hóa cách làm ấy, chính quyền đã mạnh dạn lồng ghép luật tục Cơ Tu vào chính sách giao đất, giao rừng, từng bước hóa giải bài toán “cha chung không ai khóc” trong quản lý, bảo vệ rừng. Khi Nhà nước công nhận, trao quyền làm chủ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời kết hợp sức mạnh của pháp luật với tính thiêng liêng và sự ràng buộc đạo đức của luật tục, một “lá chắn” bảo vệ rừng được hình thành từ chính cộng đồng. Từ nền tảng ấy, lễ hội Tạ ơn rừng được chính quyền hỗ trợ tổ chức với quy mô lớn, thu hút cộng đồng và khách thập phương cùng tham gia.
Đặt đồng bào vào vị trí trung tâm.
Tinh thần trao quyền và phát huy vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số trong bảo vệ rừng tiếp tục được cụ thể hóa bằng các chính sách của Trung ương và địa phương. Theo khoản 1 Điều 19 Nghị định số 58/2024/NĐ-CP của Chính phủ, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc nhóm đối tượng được ưu tiên trong chính sách khoán bảo vệ rừng, đồng thời được thụ hưởng các chính sách hỗ trợ khi được giao rừng. Khi được Nhà nước giao rừng và trở thành chủ rừng, đồng bào tiếp tục là đối tượng được ưu tiên tiếp cận các nguồn đầu tư từ ngân sách theo quy định.
Tại Đà Nẵng, Nghị quyết số 12-NQ/TU của Thành ủy xác định đồng bào dân tộc thiểu số miền núi là “chủ thể trung tâm” trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Như vậy, từ chính sách của Trung ương đến chủ trương của địa phương đều nhất quán đặt đồng bào dân tộc thiểu số vào vị trí ưu tiên trong giao rừng, khoán bảo vệ rừng và hỗ trợ sinh kế lâm nghiệp.
Với Đà Nẵng, chính sách giao, khoán rừng đang từng bước gắn với đời sống của đồng bào nơi đại ngàn. Các chính sách được triển khai đồng bộ, từ chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) đến Đề án một tỷ cây xanh, hướng đến xây dựng “lá chắn xanh” bền vững nơi biên cương. Trong đó, sinh kế của người dân là một trọng tâm: giao, khoán rừng không chỉ nhằm bảo vệ rừng mà còn gắn trách nhiệm với quyền lợi, tạo sinh kế và mở hướng thoát nghèo dưới tán rừng.
Từ cách tiếp cận ấy, mỗi cánh rừng được gìn giữ, mỗi cây xanh được vun trồng không chỉ góp phần bảo vệ môi trường mà còn bồi đắp những “cột mốc sống” nơi biên giới. Khi lợi ích của người dân gắn chặt với lợi ích của rừng, việc giữ rừng cũng góp phần giữ làng, giữ đất và giữ vững biên cương Tổ quốc. Đó chính là bài toán kết hợp giữa bảo vệ rừng và bảo vệ chủ quyền mà Đà Nẵng đang triển khai.
Để người dân sống được nhờ giữ rừng.
Tuy nhiên, để “sức mạnh nội sinh” ấy được duy trì bền vững, việc trao trách nhiệm cần song hành với những chính sách kinh tế đủ sức bảo đảm sinh kế cho người dân.
Đối với khoán bảo vệ rừng, Nghị định số 58/2024/NĐ-CP của Chính phủ về một số chính sách đầu tư trong lâm nghiệp quy định mức hỗ trợ tiền nhận khoán là 500.000 đồng/ha/năm. Tại Đà Nẵng, Nghị quyết số 03/2026/NQ-HĐND ngày 11/2/2026 của HĐND thành phố nâng mức hỗ trợ khoán bảo vệ rừng lên 600.000 đồng/ha/năm. Cùng với đó là chính sách trợ cấp 15 kg gạo/khẩu/tháng trong thời gian người dân chưa tự túc được lương thực; hỗ trợ cây giống như sâm Ngọc Linh và các loài cây dược liệu khác, vật nuôi, cũng như đầu tư cơ sở hạ tầng vùng đệm.
Đối với giao rừng, quyền lợi kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số được mở rộng hơn khi người dân trở thành chủ rừng. Họ vẫn được hỗ trợ bảo vệ rừng với mức 600.000 đồng/ha/năm đối với rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất là rừng tự nhiên trong thời gian đóng cửa rừng. Với chính sách đặc thù hỗ trợ trồng rừng sản xuất gỗ lớn của thành phố, mức đầu tư có thể lên tới 55 triệu đồng/ha/chu kỳ, trong khi mức quy định của Trung ương bình quân là 15 triệu đồng/ha.
Bên cạnh đó, người dân còn được vay vốn ngân hàng với lãi suất ưu đãi; hỗ trợ thực hiện chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC); trợ cấp gạo nhằm bảo đảm an ninh lương thực trong giai đoạn đầu; đồng thời được hưởng sản phẩm từ rừng khi được phép khai thác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, nếu “khoán rừng” tạo nguồn thu và huy động người dân trực tiếp tham gia bảo vệ những diện tích rừng do Nhà nước quản lý, thì “giao rừng” mở rộng quyền làm chủ và cơ hội tiếp cận các nguồn lực sinh kế cho người dân. Khi quyền lợi kinh tế gắn với trách nhiệm giữ rừng, đồng bào không chỉ là người tham gia bảo vệ đại ngàn mà từng bước trở thành chủ thể sống, sản xuất và hướng tới làm giàu bền vững trên chính mảnh đất của mình.
Những “giới hạn” hiện hữu của chính sách giao, khoán rừng
Mức chi trả đã “xứng đáng” và đủ sống chưa? Dù đã có các chính sách chi trả và hỗ trợ, nhưng trên thực tế, giá trị kinh tế từ hệ sinh thái rừng mang lại cho đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn thấp. Người dân sống gần rừng vẫn còn nghèo, sinh kế phụ thuộc nhiều vào việc khai thác trực tiếp tài nguyên tự nhiên. Tại các xã miền núi, đời sống của một bộ phận người dân còn thiếu ổn định, trong khi nhu cầu về đất sản xuất và vật liệu làm nhà tại chỗ vẫn rất bức thiết.
Áp lực sinh kế vì thế trở thành một trong những nguyên nhân khiến tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, săn bắt động vật hoang dã vẫn còn xảy ra. Trong khi đó, các mô hình kinh tế dưới tán rừng dù đã được hình thành nhưng phần lớn còn manh mún, nhỏ lẻ, tự phát, chưa phát huy hết tiềm năng kinh tế của khu vực miền núi. Điều này đặt ra một nghịch lý: người dân được giao trách nhiệm giữ rừng, nhưng nguồn lợi từ rừng chưa thực sự đủ mạnh để tạo sinh kế ổn định và lâu dài.
Khó khăn về sinh kế cũng tác động trực tiếp đến hiệu quả thực thi pháp luật. Trong công tác bảo vệ rừng, việc xác định đối tượng vi phạm có trường hợp còn khó khăn; khi người vi phạm là đồng bào dân tộc thiểu số có hoàn cảnh kinh tế eo hẹp, việc thi hành các quyết định xử phạt hành chính càng trở nên nan giải. Thực tế này phần nào làm giảm tính nghiêm minh và hiệu quả răn đe của pháp luật về bảo vệ rừng.
Không chỉ vướng ở bài toán sinh kế, quá trình giao rừng còn gặp những điểm nghẽn từ chính cơ chế, thủ tục thực hiện. Hệ thống pháp luật về đất đai và lâm nghiệp hiện hành vẫn còn những điểm chưa đồng bộ, có sự chồng chéo trong quá trình triển khai. Điển hình, việc thực hiện thủ tục “giao rừng” theo quy định mới đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ với thủ tục giao đất. Quy trình này cần sự tham gia của nhiều cơ quan chuyên môn, dễ phát sinh chồng chéo về trách nhiệm, kéo dài thời gian giải quyết hồ sơ và gây khó khăn trực tiếp cho quá trình triển khai tại địa phương.
Như vậy, để chính sách “giao” và “khoán” rừng thực sự phát huy hiệu quả, bài toán đặt ra không chỉ nằm ở mức chi trả đã “xứng đáng” và đủ bảo đảm sinh kế hay chưa, mà còn ở việc tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế, thủ tục để quyền lợi, trách nhiệm và quyền làm chủ rừng của người dân thực sự đi cùng nhau.
Nhìn thẳng vào thực tế, chính sách giao, khoán rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số tại Đà Nẵng đã có những bước tiến dài, góp phần cải thiện sinh kế, thay đổi diện mạo kinh tế vùng đồng bào và bảo vệ hệ sinh thái rừng. Nhưng chặng đường phía trước vẫn còn những điểm nghẽn cần tháo gỡ. Muốn giá trị của đại ngàn thực sự trở thành nguồn lực phát triển, thành phố cần tiếp tục hoàn thiện thủ tục pháp lý, đầu tư cơ sở hạ tầng và xây dựng những chuỗi liên kết kinh tế lâm nghiệp bài bản hơn, để người dân không chỉ có trách nhiệm với rừng mà thực sự có thể sống được, sống tốt và làm giàu từ rừng.
Bởi xét đến cùng, chiều sâu của chính sách giao, khoán rừng không chỉ nằm ở số héc-ta được giao, mức tiền được chi trả hay nguồn lực hỗ trợ mỗi năm. Giá trị căn cơ hơn là trao quyền làm chủ đi cùng sinh kế và trách nhiệm, để lợi ích của người dân gắn chặt với sự tồn tại của từng cánh rừng. Khi rừng mang lại cuộc sống, người dân sẽ có thêm động lực giữ rừng; khi người dân có thể an cư, làm giàu dưới tán rừng, đại ngàn sẽ có thêm những người chủ thực sự. Đó cũng là lúc bài toán “giữ rừng” gắn với “giữ dân”, và “giữ dân” góp phần “giữ đất, giữ biên cương” trở thành một mạch thống nhất.
Đại ngàn Trường Sơn hôm nay vẫn điệp trùng xanh thẳm. Những cây Pơ mu, Lim xanh sừng sững giữa núi rừng như những “trạm gác xanh” nơi biên giới. Phía sau màu xanh ấy không chỉ là những chính sách quản lý, bảo vệ rừng, mà còn là sức mạnh được khơi dậy từ niềm tin vào dân, dựa vào dân và phát huy những giá trị văn hóa, tri thức bản địa của đồng bào dân tộc thiểu số.
Với người Cơ Tu, giữ rừng cũng là giữ lấy không gian sinh tồn, văn hóa và cội nguồn của chính mình. Và khi những cộng đồng ấy vẫn bám làng, bám đất, bám rừng, họ cũng đang ngày đêm lặng lẽ góp sức gìn giữ “phên dậu” của Tổ quốc.
Chừng nào ngọn lửa thiêng trong nhà Gươl còn cháy, tiếng cồng chiêng còn vọng giữa đại ngàn, điệu Tung tung Da dá còn hòa trong lễ tạ ơn mẹ rừng; chừng ấy, rừng vẫn còn những người con coi từng thân cây, ngọn núi là một phần máu thịt. Và ở nơi biên cương phía Tây Đà Nẵng, mỗi cánh rừng được giữ lại không chỉ nối dài màu xanh của Trường Sơn, mà còn bồi đắp một thế trận lòng dân vững chãi: rừng còn, dân no ấm, bản làng bền vững, biên cương được giữ gìn.
Nguyễn Thị Minh Hạnh – Lê Công Hùng/Trường Chính trị TP Đà Nẵng – Sở Nông nghiệp và Môi trường.


