Chủ Nhật, Tháng 6 14, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuộc đấu tranh bảo vệ tính chính danh của Nhà nước cách mạng Việt Nam



ĐNA -

Lịch sử cách mạng Việt Nam không chỉ là hành trình đấu tranh giành độc lập dân tộc mà còn là quá trình khẳng định và bảo vệ tính chính danh của Nhà nước cách mạng trước mọi âm mưu phủ nhận, xuyên tạc. Từ năm 1945 đến 1975, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, nhân dân Việt Nam đã kiên trì đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, pháp lý và tư tưởng, qua đó khẳng định Nhà nước cách mạng là đại diện hợp pháp và chính danh duy nhất của dân tộc Việt Nam.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nhà nước ra đời từ ý chí của nhân dân
Mùa Thu năm 1945 đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã chấm dứt ách thống trị của thực dân, phát xít và chế độ phong kiến kéo dài nhiều thế kỷ, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với quyền làm chủ của nhân dân. Đây là thành quả của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, của tinh thần tự lực, tự cường và khát vọng tự do, độc lập mãnh liệt của nhân dân Việt Nam.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự kiện này không chỉ khai sinh một nhà nước độc lập đầu tiên của nhân dân Việt Nam trong thời đại mới mà còn xác lập cơ sở pháp lý và chính trị cho quyền tự quyết của dân tộc. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, nhân dân Việt Nam trở thành chủ thể của quyền lực nhà nước và trực tiếp quyết định vận mệnh đất nước mình.

Giá trị cốt lõi của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ nằm ở bản Tuyên ngôn Độc lập mà còn ở nguồn gốc hình thành và tính chính danh của chính quyền cách mạng. Khác với các chính quyền do ngoại bang áp đặt hay kế thừa từ chế độ quân chủ, Nhà nước mới ra đời từ thắng lợi của cuộc cách mạng do nhân dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quyền lực nhà nước bắt nguồn từ ý chí, nguyện vọng và sự hy sinh của toàn dân, tạo nên nền tảng chính trị – xã hội vững chắc cho chế độ mới ngay từ buổi đầu thành lập.

Trên cơ sở đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định Nhà nước phải là “của dân, do dân và vì dân”. Theo Người, tính chính danh của chính quyền cách mạng không chỉ được xác lập bằng thắng lợi của cuộc cách mạng mà còn được củng cố bằng sự phụng sự nhân dân và sự tín nhiệm của nhân dân. Vì vậy, Người nhiều lần căn dặn đội ngũ cán bộ phải thực sự là công bộc của dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Chính sự đồng thuận, niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân đã trở thành nền tảng quan trọng nhất, tạo nên sức sống và sức mạnh bền vững của Nhà nước cách mạng Việt Nam.

Giành chính quyền tại Bắc Bộ phủ (Hà Nội) ngày 19/8/1945.

Tổng tuyển cử – nền tảng pháp lý của tính chính danh
Giành chính quyền chỉ là bước khởi đầu; giữ vững và khẳng định tính chính danh của chính quyền mới mới là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rõ rằng một nhà nước muốn tồn tại bền vững phải được nhân dân trao quyền thông qua các thiết chế dân chủ và hợp hiến. Vì vậy, việc sớm tổ chức Tổng tuyển cử để thành lập Quốc hội và Chính phủ chính thức không chỉ đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước mới mà còn tạo cơ sở pháp lý, chính trị vững chắc, bác bỏ mọi luận điệu phủ nhận hay xuyên tạc tính hợp pháp của chính quyền cách mạng.

Trong bối cảnh đất nước vừa giành độc lập nhưng phải đối mặt với muôn vàn thử thách, từ nạn đói, nạn dốt đến sự chống phá của các thế lực trong và ngoài nước, Chính phủ vẫn quyết định tổ chức cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên vào ngày 6/1/1946. Quyết định này thể hiện tầm nhìn chiến lược và tư duy nhà nước hiện đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời khẳng định quyết tâm xây dựng một chính quyền dựa trên ý chí và quyền làm chủ của nhân dân, bất chấp mọi âm mưu can thiệp và lật đổ.

Lần đầu tiên trong lịch sử, mọi công dân Việt Nam đủ điều kiện đều được thực hiện quyền bầu cử mà không phân biệt giới tính, thành phần xã hội, dân tộc hay tín ngưỡng. Tỷ lệ hơn 89% cử tri tham gia bỏ phiếu cho thấy sự hưởng ứng rộng rãi và niềm tin mạnh mẽ của nhân dân đối với chế độ mới. Từ nông thôn đến thành thị, từ vùng tự do đến những nơi còn nhiều khó khăn, lá phiếu của người dân đã trở thành biểu tượng sinh động của quyền làm chủ và sự đồng thuận chính trị đối với Nhà nước cách mạng.

Thành công của cuộc Tổng tuyển cử đã tạo nền tảng pháp lý và chính trị cho việc thành lập Quốc hội khóa I, kiện toàn Chính phủ chính thức và xây dựng Hiến pháp năm 1946, bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam mới. Từ đây, chính quyền cách mạng không chỉ là thành quả của thắng lợi cách mạng mà còn được xác lập bằng sự lựa chọn và ủy quyền của nhân dân thông qua một tiến trình dân chủ. Điều đó góp phần củng cố tính chính danh của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cả trên phương diện đối nội lẫn đối ngoại, đồng thời khẳng định mạnh mẽ chủ quyền, độc lập và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam trước cộng đồng quốc tế.

Bác Hồ đi bầu cử Quốc hội 6/1/1946 tại ngôi nhà số 10, phố Hàng Vôi, Hà Nội. Ảnh tư liệu

Thực dân Pháp và âm mưu dựng nên một “Việt Nam khác”
Khi không thể làm suy yếu Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng biện pháp quân sự, thực dân Pháp chuyển sang chiến lược chính trị nhằm tạo dựng một thực thể đối trọng để cạnh tranh về tính chính danh với chính quyền cách mạng. Mục tiêu của họ là xây dựng một chính quyền thay thế có thể đại diện cho Việt Nam trên danh nghĩa, qua đó làm giảm uy tín của Nhà nước cách mạng và tạo cơ sở biện minh cho sự tiếp tục hiện diện của Pháp tại Đông Dương.

Chiến lược này được cụ thể hóa bằng việc thành lập “Quốc gia Việt Nam” do Bảo Đại đứng đầu vào năm 1949. Mặc dù được tuyên truyền là một quốc gia độc lập, thực thể này trên thực tế vẫn chịu sự chi phối đáng kể của Pháp về quân sự, đối ngoại và nhiều lĩnh vực quan trọng khác. Việc thiết lập chính quyền này nhằm tạo ra một đối trọng chính trị với Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của một bộ phận lực lượng trong nước và quốc tế đối với chính sách của Pháp.

Sâu xa hơn, việc dựng lên một chính quyền song song phản ánh nỗ lực tạo ra hình ảnh tồn tại của hai thực thể chính trị đại diện cho Việt Nam, từ đó làm phức tạp vấn đề đại diện quốc gia trên trường quốc tế và tác động đến khối đoàn kết dân tộc. Đây cũng là một biểu hiện của chiến lược chia rẽ lực lượng kháng chiến và tìm kiếm lợi thế trong cuộc xung đột đang diễn ra.

Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên định khẳng định rằng tính chính danh của một nhà nước phải bắt nguồn từ ý chí, sự lựa chọn và sự ủy quyền của nhân dân. Trên cơ sở thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, cuộc Tổng tuyển cử năm 1946 và hệ thống thiết chế dân chủ được xây dựng sau đó, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục củng cố vị thế là đại diện hợp pháp của nhân dân Việt Nam. Quan điểm nhất quán này góp phần giữ vững niềm tin của nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc và tạo nền tảng chính trị quan trọng cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Trách nhiệm của giáo dục và câu hỏi về chuẩn mực của người đứng trên bục giảng

Từ Quốc gia Việt Nam đến ngụy quyền Sài Gòn
Sau thất bại của thực dân Pháp tại Điện Biên Phủ năm 1954, Mỹ từng bước thay thế Pháp can dự vào miền Nam Việt Nam và triển khai chiến lược ngăn chặn sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh đó, sự ra đời của ngụy quyền Việt Nam Cộng hòa gắn với mục tiêu xây dựng một thực thể chính trị đối trọng với Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời củng cố sự chia cắt đất nước sau Hiệp định Genève và đưa miền Nam vào quỹ đạo chiến lược của Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

Với sự hỗ trợ lớn về quân sự, kinh tế và chính trị từ Mỹ, ngụy quyền ở miền Nam Việt Nam được kỳ vọng trở thành nền tảng cho một mô hình phát triển riêng biệt và đủ sức cạnh tranh với chính quyền cách mạng ở miền Bắc. Tuy nhiên, trong quan điểm của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thực thể này không phản ánh nguyện vọng thống nhất dân tộc và không phải là kết quả của một cuộc cách mạng do nhân dân tiến hành, mà tồn tại trong sự phụ thuộc đáng kể vào sự hậu thuẫn từ bên ngoài. Vì vậy, vấn đề tính chính danh của chính quyền này luôn là nội dung tranh luận và đối đầu gay gắt trong suốt thời kỳ chiến tranh.

Cuộc đối đầu giữa hai chính thể không chỉ diễn ra trên chiến trường mà còn trên phương diện chính trị, ngoại giao và pháp lý. Mỹ đầu tư nguồn lực rất lớn nhằm củng cố vị thế của chính quyền ngụy Sài Gòn, song Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên trì khẳng định mình là đại diện cho khát vọng độc lập, thống nhất và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam. Trong lập luận của phía cách mạng, sự ủng hộ của đông đảo nhân dân và mục tiêu thống nhất đất nước là cơ sở cốt lõi tạo nên tính chính danh của nhà nước.

Trước mọi âm mưu duy trì sự chia cắt lâu dài, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định quan điểm nhất quán về sự thống nhất của quốc gia và dân tộc Việt Nam. Câu nói nổi tiếng: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” đã trở thành tuyên ngôn thể hiện ý chí thống nhất đất nước và bác bỏ mọi quan điểm coi Việt Nam là hai quốc gia độc lập.

Trong suốt giai đoạn này, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục củng cố vị thế thông qua quá trình xây dựng chính quyền ở miền Bắc, phát triển các thiết chế nhà nước và lãnh đạo cuộc đấu tranh hướng tới thống nhất đất nước. Nhờ kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia, cùng với sự ủng hộ của nhân dân và sự ghi nhận ngày càng rộng rãi từ nhiều quốc gia trên thế giới, vị thế và tính chính danh của Nhà nước cách mạng tiếp tục được củng cố trên cả phương diện đối nội và đối ngoại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới

Chiến thắng 30/4/1975 và sự kết thúc của mọi thực thể đối trọng
Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là mốc son khép lại cuộc kháng chiến kéo dài nhiều thập niên, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước. Thắng lợi này không chỉ mang ý nghĩa quân sự và chính trị to lớn mà còn đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ tồn tại các chính thể đối lập trên lãnh thổ Việt Nam, mở đường cho việc thống nhất tổ chức nhà nước trên phạm vi cả nước.

Nhìn lại chặng đường từ năm 1945 đến năm 1975, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từng bước củng cố vị thế thông qua quá trình lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập, bảo vệ thành quả cách mạng và hướng tới mục tiêu thống nhất quốc gia. Trong ba thập niên đầy biến động, những thành tựu trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao đã góp phần khẳng định vai trò của Nhà nước cách mạng trong đời sống chính trị của đất nước và trên trường quốc tế.

Sau ngày 30/4/1975, tiến trình thống nhất đất nước được triển khai trên cả phương diện lãnh thổ và tổ chức nhà nước. Cuộc Tổng tuyển cử chung năm 1976 và việc thành lập Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đánh dấu sự hoàn tất quá trình thống nhất về mặt nhà nước, kế thừa nền tảng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và khẳng định ý chí thống nhất của nhân dân Việt Nam sau nhiều năm chiến tranh và chia cắt.

Ngày nay, các cách nhìn và diễn giải về lịch sử giai đoạn này vẫn có thể tồn tại khác nhau trong một số cộng đồng hoặc tổ chức ở nước ngoài. Tuy nhiên, trên phương diện thực tiễn và quan hệ quốc tế hiện nay, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước đang thực hiện chủ quyền đối với lãnh thổ Việt Nam và là chủ thể đại diện của Việt Nam trong các quan hệ đối ngoại, kế thừa tiến trình thống nhất quốc gia được xác lập sau năm 1975–1976. Quá trình hình thành và phát triển của nhà nước thống nhất phản ánh kết quả của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền và thống nhất đất nước trong lịch sử hiện đại Việt Nam.

Trách nhiệm của giáo dục và câu hỏi về chuẩn mực của người đứng trên bục giảng

Chiến lược “diễn biến hòa bình” và các thủ đoạn chống phá từ bên ngoài
Mặc dù đất nước đã giành được độc lập, thống nhất và đạt nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới, các hoạt động chống phá nhằm làm suy yếu chính danh Nhà nước Việt Nam vẫn tiếp diễn với phương thức ngày càng đa dạng và tinh vi. Nếu trước đây các thế lực bên ngoài chủ yếu sử dụng sức mạnh quân sự hoặc gây sức ép chính trị, thì hiện nay trọng tâm đã chuyển sang các biện pháp phi truyền thống như chiến tranh thông tin, tác động tư tưởng, lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền và không gian mạng để can thiệp vào công việc nội bộ.

Thông qua các nền tảng truyền thông số, mạng xã hội và một số diễn đàn quốc tế, các thông tin sai lệch, xuyên tạc về lịch sử, chính trị và tình hình Việt Nam được lan truyền với mục đích tạo tâm lý hoài nghi, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và làm suy giảm niềm tin của một bộ phận người dân đối với các thiết chế nhà nước. Trong một số trường hợp, các hoạt động này còn gắn với sự hỗ trợ hoặc hậu thuẫn từ các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài đối với những hành vi kích động gây rối an ninh, trật tự hoặc lợi dụng các vấn đề nhạy cảm để tạo điểm nóng trong xã hội.

Đáng chú ý, mặt trận tư tưởng và văn hóa đang trở thành lĩnh vực được nhiều lực lượng chống đối tập trung khai thác. Một số quan điểm cố tình bóp méo lịch sử cách mạng Việt Nam, diễn giải các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc theo hướng phủ nhận tính chính nghĩa, hạ thấp vai trò của lực lượng vũ trang và phủ nhận công lao của các thế hệ lãnh đạo cách mạng trong quá trình giành độc lập, thống nhất đất nước và xây dựng Nhà nước Việt Nam hiện đại. Mục tiêu của những luận điệu này không chỉ là xét lại lịch sử mà còn từng bước làm suy yếu nền tảng tinh thần và cơ sở chính danh của Nhà nước.

Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, các hoạt động hợp tác về giáo dục, học thuật, văn hóa hay hỗ trợ phát triển cũng có thể bị một số cá nhân hoặc tổ chức lợi dụng để lồng ghép các mục tiêu chính trị hoặc truyền bá những cách tiếp cận thiếu khách quan về lịch sử và tình hình Việt Nam. Tuy nhiên, việc đánh giá từng tổ chức, chương trình hay sáng kiến cụ thể cần dựa trên chứng cứ xác thực và phân tích khách quan, tránh những kết luận khái quát hoặc đồng nhất mọi hoạt động hợp tác quốc tế với các mục đích chống phá.

Thực tiễn lịch sử cho thấy sức mạnh của Nhà nước Việt Nam được xây dựng từ ý chí độc lập dân tộc, sự đồng thuận của nhân dân và quá trình phát triển liên tục của đất nước. Trong bối cảnh mới, việc nâng cao năng lực nhận diện thông tin sai lệch, bảo vệ sự thật lịch sử và củng cố nhận thức xã hội về chủ quyền, độc lập và thống nhất quốc gia tiếp tục là những yêu cầu quan trọng nhằm giữ vững ổn định chính trị và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững.

Giữ vững hòa bình – Từ bản lĩnh lịch sử đến trách nhiệm hiện tại và tương lai

Nhìn từ lịch sử đến hiện tại: Cuộc đấu tranh bảo vệ tính chính danh của Nhà nước Việt Nam
Nhìn lại chặng đường lịch sử từ năm 1945 đến nay có thể thấy, cuộc đấu tranh bảo vệ tính chính danh của Nhà nước Việt Nam không chỉ diễn ra trên chiến trường quân sự mà còn là cuộc đấu tranh bền bỉ trên các mặt trận chính trị, pháp lý, ngoại giao và tư tưởng. Từ việc thực dân Pháp dựng lên “Quốc gia Việt Nam”, đến sự tồn tại của chính quyền ngụy Sài Gòn trong thời kỳ chiến tranh, rồi những nỗ lực xuyên tạc lịch sử và phủ nhận thành quả cách mạng trong thời đại số, mục tiêu xuyên suốt của các thế lực chống đối vẫn là làm suy yếu cơ sở chính trị và pháp lý chính danh của Nhà nước Việt Nam, từng bước tạo dựng hoặc phục hồi một hình thái đối trọng nhằm phủ nhận thành quả của Cách mạng Tháng Tám và sự lựa chọn của nhân dân Việt Nam.

Tuy nhiên, lịch sử đã chứng minh rằng tính chính danh của một nhà nước không thể được tạo dựng bằng sự hậu thuẫn từ bên ngoài hay bằng các chiến dịch tuyên truyền, mà phải được hình thành từ ý chí của nhân dân, được kiểm chứng bằng thực tiễn lịch sử và được củng cố bằng năng lực lãnh đạo, quản trị quốc gia. Chính vì vậy, mọi mô hình chính trị được xây dựng trên cơ sở phụ thuộc vào ngoại lực nhưng không có nền tảng xã hội vững chắc đều không thể tồn tại lâu dài trước sự sàng lọc của lịch sử.

Trong bối cảnh hiện nay, khi các phương thức chống phá ngày càng tinh vi và chuyển mạnh sang không gian mạng, truyền thông và mặt trận tư tưởng, nhiệm vụ bảo vệ tính chính danh của Nhà nước Việt Nam càng trở nên cấp thiết. Điều đó không chỉ đòi hỏi việc kiên quyết đấu tranh với các thông tin sai lệch, xuyên tạc lịch sử và phủ nhận thành quả cách mạng, mà còn yêu cầu tiếp tục củng cố niềm tin của nhân dân thông qua việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Tính chính danh của Nhà nước Việt Nam được hun đúc từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, được củng cố qua các cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập và thống nhất đất nước, được xác lập bằng các thiết chế pháp lý và sự thừa nhận của nhân dân, đồng thời tiếp tục được khẳng định thông qua những thành tựu trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Bảo vệ tính chính danh ấy không chỉ là bảo vệ một thiết chế chính trị, mà còn là bảo vệ thành quả của lịch sử, bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ khát vọng độc lập, tự do và quyền làm chủ mà nhiều thế hệ người Việt Nam đã đánh đổi bằng mồ hôi, xương máu và sự hy sinh. Đó là trách nhiệm chung của toàn xã hội nhằm gìn giữ nền tảng cho sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước hôm nay và mai sau.

Thế Nguyễn – Minh Văn