Ngày 20/8/1888, tại Cù Lao Ông Hổ, tỉnh Long Xuyên, nay xã Mỹ Hòa Hưng, tỉnh An Giang, Chủ tịch Tôn Đức Thắng ra đời trong một gia đình gắn bó với lao động Nam Bộ. Từ người thợ cơ khí đến người hoạt động phong trào công nhân, chiến sĩ cách mạng và nhà lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận, hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng của Bác Tôn gắn liền với những chặng đường quan trọng của cách mạng Việt Nam. Người để lại dấu ấn sâu đậm bởi nhân cách giản dị, chân thành, kiên định, hết lòng vì nhân dân và là một trong những biểu tượng tiêu biểu của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, một giá trị xuyên suốt cuộc đời Chủ tịch Tôn Đức Thắng vẫn nguyên vẹn ý nghĩa trong đời sống đất nước hôm nay.

Từ người công nhân đến người chiến sĩ cách mạng
Trưởng thành trong môi trường lao động và sớm chứng kiến cuộc sống của người công nhân dưới chế độ thuộc địa, Tôn Đức Thắng hình thành lòng yêu nước, tình cảm với người lao động và ý thức sâu sắc về vận mệnh dân tộc. Từ một người thợ, Người từng bước tham gia các hoạt động yêu nước, hòa mình vào phong trào công nhân và tìm thấy con đường đấu tranh gắn quyền lợi của người lao động với sự nghiệp chống áp bức, giành độc lập dân tộc.
Năm 1920, Tôn Đức Thắng tham gia thành lập Công hội Đỏ ở Sài Gòn, góp phần đặt nền móng cho phong trào công nhân Việt Nam. Từ thực tiễn hoạt động, Người trở thành một cán bộ cách mạng có uy tín. Bị thực dân Pháp bắt, kết án và đày ra Côn Đảo, Tôn Đức Thắng trải qua hơn một thập niên trong lao tù. Những năm tháng khắc nghiệt không khuất phục được ý chí mà càng tôi luyện ở Người phẩm chất kiên định, tình đồng chí và lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng.
Trở về với phong trào, Tôn Đức Thắng tiếp tục cống hiến và đảm nhận nhiều trọng trách. Những thử thách trong lao tù góp phần hun đúc một con người giản dị, điềm đạm, gần gũi và giàu tình đồng chí. Chính những phẩm chất ấy trở thành nền tảng quan trọng để Người tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân.
Từ người công nhân đến nhà lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và Mặt trận, cuộc đời Bác Tôn cho thấy sức mạnh của người cán bộ cách mạng được tạo nên từ thực tiễn, lòng trung thành và sự gắn bó với nhân dân. Dù đảm nhiệm những trọng trách cao, Người vẫn giữ phong cách giản dị của người công nhân năm xưa. Đặc biệt, trong những năm hoạt động ở Mặt trận, Bác Tôn dành nhiều tâm sức tập hợp, củng cố và phát huy sức mạnh các tầng lớp nhân dân, tiếp nối một cách tự nhiên cả cuộc đời gắn bó với nhân dân.
Đại đoàn kết – Giá trị xuyên suốt cuộc đời Bác Tôn
Nếu tìm một sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động của Bác Tôn, đó chính là tinh thần đại đoàn kết. Từ phong trào công nhân đến hoạt động cách mạng, từ Mặt trận Liên Việt đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Người luôn coi trọng việc tập hợp rộng rãi các lực lượng yêu nước. Năm 1951, sau khi Việt Minh và Hội Liên Việt thống nhất thành Mặt trận Liên Việt, Tôn Đức Thắng được bầu làm Chủ tịch. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Người cùng Mặt trận góp phần tập hợp sức mạnh toàn dân, củng cố hậu phương và tạo nguồn lực chính trị, tinh thần cho cuộc kháng chiến.
Tháng 9/1955, Mặt trận Liên Việt được đổi thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tôn Đức Thắng tiếp tục được tín nhiệm làm Chủ tịch. Đất nước bước vào giai đoạn đấu tranh thống nhất Tổ quốc, công tác Mặt trận càng có ý nghĩa quan trọng. Bác Tôn cùng các đồng chí lãnh đạo Mặt trận tiếp tục tập hợp các tầng lớp nhân dân, củng cố niềm tin và phát huy sức mạnh toàn dân hướng tới mục tiêu độc lập, thống nhất đất nước.
Trong cuộc đời Bác Tôn, mối quan hệ với Chủ tịch Hồ Chí Minh là hình ảnh đẹp của tình đồng chí và sự đoàn kết. Hai người đến từ hai miền đất nước, có những chặng đường hoạt động khác nhau nhưng cùng chung lòng yêu nước, lý tưởng cách mạng và mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Sự trân trọng, tin cậy và đồng lòng giữa hai Bác không chỉ thể hiện tình đồng chí sâu sắc mà còn là biểu tượng cho sự gắn bó Bắc – Nam trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Tại kỳ họp Quốc hội tháng 7/1960, Tôn Đức Thắng được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việc một người con miền Nam đảm nhiệm cương vị lãnh đạo Nhà nước trong những năm đất nước còn chia cắt mang ý nghĩa chính trị và tình cảm sâu sắc. Qua hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bác Tôn, tinh thần đại đoàn kết càng được thể hiện rõ: dù đất nước còn cách trở về địa lý, tình cảm, ý chí và khát vọng thống nhất của dân tộc vẫn là một. Tình đồng chí giữa hai Bác vì thế trở thành một biểu tượng đẹp của đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trân trọng lịch sử – Giữ gìn những biểu tượng của dân tộc
Trân trọng lịch sử không có nghĩa là đóng khung lịch sử hay ngăn cản những cách tiếp cận mới. Ngược lại, lịch sử cần được nghiên cứu, nhìn nhận và diễn giải bằng tư liệu, phương pháp khoa học và tinh thần trách nhiệm. Sáng tạo nghệ thuật có thể giúp những nhân vật lịch sử trở nên gần gũi, sinh động hơn với công chúng hôm nay, nhưng sự sáng tạo ấy cần được đặt trên nền tảng của sự thật và sự tôn trọng những giá trị đã được các thế hệ gìn giữ.
Với những biểu tượng như Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Tôn Đức Thắng, điều đó càng có ý nghĩa đặc biệt. Phản biện không đồng nghĩa với phủ nhận, sáng tạo không đồng nghĩa với xuyên tạc, và tranh luận không thể tách rời sự tôn trọng. Khi lịch sử được tiếp cận bằng thái độ khách quan, trách nhiệm và nhân văn, những giá trị của quá khứ không chỉ được bảo tồn mà còn có thể tiếp tục truyền cảm hứng cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Hiểu đúng lịch sử là cơ sở của lòng tự hào; trân trọng lịch sử là trách nhiệm đối với ký ức và những giá trị chung của dân tộc.
Đại đoàn kết – Giá trị cần được gìn giữ hôm nay
Đại đoàn kết dân tộc hôm nay không chỉ được thể hiện trước những thử thách lớn của đất nước, mà bắt đầu từ cách mỗi người ứng xử với lịch sử, văn hóa và với những người có quan điểm khác mình. Không gian mạng mở ra cơ hội để mọi người chia sẻ thông tin, bày tỏ chính kiến và tham gia đời sống xã hội, nhưng tốc độ lan truyền cũng đòi hỏi mỗi người có trách nhiệm hơn với lời nói và nội dung mình chia sẻ. Một thông tin thiếu kiểm chứng, một cách diễn đạt thiếu cân nhắc hay nội dung kích thích đối đầu đều có thể nhanh chóng tạo ra những tranh luận gay gắt. Vì vậy, giữ gìn đoàn kết trước hết phải bắt đầu từ văn hóa ứng xử của mỗi người.
Đối với người sáng tác, làm truyền thông và tạo nội dung trên không gian mạng, trách nhiệm ấy càng rõ ràng. Quyền sáng tạo cần được tôn trọng, nhưng luôn đi cùng trách nhiệm xã hội. Khi khai thác lịch sử, đặc biệt là những nhân vật đã trở thành biểu tượng trong đời sống tinh thần dân tộc, sự chính xác của tư liệu và sự tôn trọng đối với cộng đồng cần được đặt lên hàng đầu. Với công chúng, sự tỉnh táo cũng rất cần thiết: kiểm chứng thông tin trước khi chia sẻ, phân biệt tác phẩm nghệ thuật với tư liệu lịch sử, tranh luận bằng lý lẽ và không để khác biệt trong nhận thức biến thành đối đầu giữa con người với con người.
Đại đoàn kết hôm nay đòi hỏi trách nhiệm của toàn xã hội trong việc gìn giữ những giá trị chung của đất nước: bảo vệ sự thật lịch sử, trân trọng các giá trị văn hóa, giữ gìn hình ảnh những người có đóng góp cho dân tộc và xây dựng môi trường xã hội lành mạnh. Đoàn kết không có nghĩa mọi người phải có cùng một cách nhìn, mà là biết tôn trọng những khác biệt chính đáng, đồng thời cùng hướng tới những giá trị chung của Tổ quốc và dân tộc. Khi lợi ích chung được đặt lên trên những khác biệt riêng, sức mạnh cộng đồng sẽ được củng cố.
Cuộc đời Bác Tôn để lại một bài học sâu sắc về đại đoàn kết được xây dựng từ niềm tin, sự chân thành và tôn trọng con người. Từ người công nhân đến người đứng đầu Nhà nước, từ những năm tháng tù đày đến những trọng trách của Mặt trận, Bác Tôn luôn giữ sự giản dị và gắn bó với nhân dân. Tình đồng chí giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bác Tôn cũng trở thành hình ảnh đẹp về sự tin cậy, đồng lòng và tình cảm Bắc – Nam trong sự nghiệp cách mạng.
Nhìn lại cuộc đời Bác Tôn nhân ngày sinh của Người không chỉ để tri ân một nhà lãnh đạo cách mạng mẫu mực, mà còn để nhận ra giá trị của một di sản được hun đúc từ chính cuộc đời gắn bó với nhân dân. Từ người công nhân đến người chiến sĩ cách mạng, rồi đảm nhiệm những trọng trách cao nhất của Đảng, Nhà nước và Mặt trận, ở mỗi chặng đường, Bác Tôn đều nhất quán một tinh thần: đặt lợi ích của Tổ quốc, nhân dân và sự nghiệp chung lên trên lợi ích riêng, biết quy tụ những khác biệt thành sức mạnh đồng lòng.
Di sản lớn của Bác Tôn vì thế không chỉ nằm ở những cương vị hay đóng góp trong từng giai đoạn lịch sử, mà còn ở cách Người sống, làm việc và ứng xử với đồng chí, đồng bào. Sự giản dị, chân thành, điềm đạm, kiên định và lòng tin vào sức mạnh của nhân dân đã tạo nên một phong cách lãnh đạo có sức thuyết phục bền lâu. Trong Bác Tôn, đại đoàn kết không phải một khẩu hiệu trừu tượng, mà là sự lựa chọn được thể hiện bằng cả cuộc đời: biết tôn trọng, biết lắng nghe, biết tìm điểm chung và cùng hướng về mục tiêu lớn của dân tộc.
Ngày nay, khi xã hội không ngừng đổi thay và những khác biệt trong nhận thức, lợi ích, hoàn cảnh là điều khó tránh khỏi, bài học từ cuộc đời Bác Tôn càng có ý nghĩa. Gìn giữ đại đoàn kết không có nghĩa là xóa bỏ mọi khác biệt, mà là biết vượt lên những khác biệt để tìm tiếng nói chung, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân làm điểm quy tụ. Đó cũng là cách thiết thực để mỗi người tiếp nối di sản mà Bác Tôn Đức Thắng đã dành trọn cuộc đời vun đắp: đoàn kết bằng sự chân thành, bằng trách nhiệm và bằng niềm tin vào sức mạnh của nhân dân.
Thế Nguyễn – Minh Văn


