Cách đây 20 năm, trong một lần gặp gỡ ông Chu Văn Pù (Lạng Sơn), người từng cùng chiến đấu với Bế Văn Đàn tại dốc Mường Pồn trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi mới được nghe kể rõ về hoàn cảnh hy sinh đặc biệt và đầy bi tráng của người anh hùng lấy thân mình làm giá súng cho đồng đội chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.

Ông Chu Văn Pù kể, quê ông ở huyện Tràng Định (nay là xã Thất Khê, tỉnh Lạng Sơn), là Trung úy, sĩ quan quân đội đã nghỉ hưu tại khối Đinh Tiên Hoàng, phường Chi Lăng (nay là phường Lương Văn Tri, tỉnh Lạng Sơn). Ông Chu Văn Pù nguyên là tiểu đội trưởng thuộc Trung đoàn 174, Đại đoàn 316, người trực tiếp cùng Bế Văn Đàn chiến đấu tại khu vực Mường Pồn trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Ông Pù bồi hồi xúc động kể lại về đồng đội của mình: Bế Văn Đàn là người dân tộc Tày, quê ở xã Quang Vinh, huyện Phục Hòa (nay là xã Quang Hán, tỉnh Cao Bằng), là chiến sĩ liên lạc của đại đội, được cấp trên bổ sung tăng cường cho tiểu đội. Bế Văn Đàn có dáng người nhỏ nhắn, nước da trắng, đôi mắt to và sáng, rất thông minh, nhanh nhẹn và luôn được đồng đội tin yêu.
Ngày 12/2/1953, đơn vị ông được cấp trên giao nhiệm vụ, bằng mọi giá phải ngăn chặn và tiêu diệt quân địch tại khu vực Mường Pồn, không cho chúng rút về Tuần Giáo (Lai Châu). Tiểu đội của ông được phân công chặn đánh quân địch tại một con suối cạn ngay chân dốc Mường Pồn. Đội hình tiểu đội gồm có ông và các chiến sĩ: Vĩnh, Chiến, Thanh, Thàng, Pẩu… cùng Bế Văn Đàn, tất cả đều trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Khi tiểu đội của ông Chu Văn Pù vừa chiếm lĩnh xong trận địa vào lúc tờ mờ sáng, bất ngờ mặt đất rung chuyển dữ dội, bầu trời như bị xé toạc bởi những loạt đại bác của địch bắn cấp tập xuống khu vực Mường Pồn, hòa lẫn tiếng gầm rít của những chiếc máy bay “bà già” quần thảo trên đầu. Ngay sau loạt đạn đầu tiên, trong làn khói súng mịt mù, ông Pù nhìn thấy Bế Văn Đàn bị thương ở đầu do mảnh đạn moóc-chi-ê, máu chảy ướt đẫm vai áo. Ông vội lao tới đỡ đồng đội dậy, rồi cởi chiếc áo lót của mình để băng bó vết thương cho Đàn. Trong đợt pháo kích ác liệt ấy, bốn chiến sĩ Chiến, Thanh, Thàng, Pẩu đã anh dũng hy sinh. Thời điểm đó vào khoảng 7 giờ sáng.
Sau nhiều đợt oanh kích dữ dội, đúng 8 giờ, tiếng súng bỗng im bặt. Ngay sau đó là tiếng la ó vang dậy từ trên đỉnh dốc. Quan sát, ông Pù thấy rõ từng tốp lính địch, cả lính Âu lẫn lính Phi đang hò hét, xô đẩy nhau tràn xuống. Khoảng cách nhanh chóng bị rút ngắn: hai trăm mét… một trăm năm mươi mét… rồi một trăm mét… Ông Pù lập tức nâng khẩu trung liên Vĩnh Cát lên, xiết cò. Đạn nổ giòn nhưng chỉ cắm xuống phía trước, cách đầu nòng súng từ 5 đến 7 mét, đất đá và khói bụi bắn tung mù mịt. Ở vị trí dưới chân dốc, với góc bắn “tà dương”, hỏa lực của ta rơi vào thế bất lợi, trong khi quân địch từ trên cao tràn xuống ngày càng đông.
Ông Pù cố gắng nâng cao khẩu súng để điều chỉnh góc bắn nhưng hai cánh tay bỗng trở nên cứng đờ, tê dại. Đúng lúc đang loay hoay tìm địa hình, địa vật để kê súng, thì Bế Văn Đàn bất ngờ lao tới, hai tay nắm chặt lấy hai càng súng, dốc toàn bộ sức lực nâng khẩu trung liên lên cao, hướng thẳng về phía quân thù…
Ông Pù không khỏi ái ngại khi nhìn thấy vết thương trên đầu Bế Văn Đàn vẫn rỉ máu. Giữa làn khói súng và hiểm nguy cận kề, Bế Văn Đàn dồn hết sức lực hô lớn: “Pù! Bắn đi, còn chần chừ gì nữa, hãy tiêu diệt hết lũ giặc Tây gian ác để trả thù cho Chiến, Thanh, Thàng, Pẩu. Bắn đi! Bắn đi… Pù!”
Tiếng hô ấy như một mệnh lệnh phát ra từ trái tim người chiến sĩ. Trước sự thôi thúc quyết liệt của đồng đội, ông Chu Văn Pù nghiến răng bóp cò. Khẩu trung liên Vĩnh Cát rung lên dữ dội, từng loạt đạn xé gió lao thẳng vào đội hình địch. Những tên lính đang tràn xuống dốc bị quật ngã, lăn lông lốc như những khúc gỗ lìa rừng.
Cuộc chiến đấu diễn ra giằng co, quyết liệt giữa ta và địch, kéo dài trong nhiều giờ liền. Dưới làn đạn dày đặc, với sự phối hợp kiên cường, dũng cảm của ông Pù và Bế Văn Đàn, từng đợt xung phong của quân địch lần lượt bị chặn đứng. Đến khoảng 12 giờ trưa, đợt tấn công cuối cùng của địch đã hoàn toàn bị bẻ gãy, xác giặc nằm ngổn ngang dưới chân dốc Mường Pồn.
Trong niềm vui vỡ òa của chiến thắng, ông Chu Văn Pù reo lên: “Thắng rồi! Quân ta thắng rồi! Đàn ơi, nhìn kìa, quân địch chết nhiều quá, vui quá Đàn ơi!”
Chu Văn Pù định cúi xuống đỡ Bế Văn Đàn dậy thì anh đã gục đầu, trút hơi thở cuối cùng, nhưng hai bàn tay vẫn nắm chặt lấy hai càng súng. Nhẹ nhàng gỡ tay người đồng đội thân yêu, ông ôm Đàn vào lòng. Máu từ vết thương cũ trên đầu và hai bờ vai, nơi làm điểm tựa cho khẩu trung liên vẫn rỉ ra, nhuộm đỏ những cánh hoa ban còn vương trên áo. Trong giây phút nghẹn ngào ấy, Chu Văn Pù nấc lên từng tiếng: “Đà…n! Đàn ơi! Mày đừng chết! Mày phải sống để còn đưa tao về Cao Bằng, quê mày chứ…!”
Kể đến đây, ông Chu Văn Pù gạt hai hàng nước mắt, chậm rãi nói như một lời tâm sự; suốt mấy chục năm qua, cho đến tận bây giờ, ông vẫn không thể nào lý giải hết được sức chịu đựng phi thường của người đồng đội nhỏ bé ấy. Một con người mảnh mai như Bế Văn Đàn, trong suốt 6 giờ đồng hồ đã phải gồng mình chịu đựng vết thương nặng trên đầu, vậy mà trong 4 giờ tiếp theo, cho đến hơi thở cuối cùng, anh vẫn lấy chính thân mình làm giá súng cho đồng đội chiến đấu, góp phần đánh lui 5 đợt tấn công của địch, giữ vững trận địa cho đến khi giành thắng lợi hoàn toàn.
Tấm gương hy sinh oanh liệt của Bế Văn Đàn đã trở thành biểu tượng sáng ngời cho ý chí quyết chiến, quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam, sống mãi trong lòng các thế hệ như lời ca: “Bế Văn Đàn ơi! Anh vẫn còn sống mãi!”. Hình ảnh người chiến sĩ lấy thân mình làm giá súng không chỉ khắc sâu trong ký ức của những người trực tiếp tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ, mà còn trở thành bài học lớn về lòng dũng cảm, tinh thần hy sinh và trách nhiệm đối với Tổ quốc cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Người đồng đội năm xưa, ông Chu Văn Pù nay cũng đã đi xa hơn 10 năm, nhưng những câu chuyện ông kể vẫn còn nguyên giá trị, như một chứng nhân sống động của lịch sử. Bài viết này xin được coi như một nén tâm nhang thành kính tưởng nhớ tới ông, cùng các anh hùng liệt sĩ trong Chiến dịch Điện Biên Phủ đã anh dũng hy sinh, hiến trọn đời mình cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc và hạnh phúc của Nhân dân, những con người đã làm nên dáng hình đất nước và để lại cho hôm nay một di sản tinh thần vô giá./.
Ngô Văn Học


