“Giá như đêm ấy được ôm chặt em vào lòng…”, lời day dứt của CCB Nguyễn Tân Chính, anh trai liệt sĩ Nguyễn Văn Nhuận, không chỉ là nỗi nhớ riêng của một người anh, mà còn là khúc trầm xúc động về tình thân bị chiến tranh chia cắt. Những ký ức tuổi thơ chưa kịp sẻ chia, những câu chuyện chiến trường còn dang dở… tất cả hóa thành nỗi tiếc nuối theo suốt một đời người, gợi nhắc về những mất mát lặng thầm nhưng dai dẳng sau chiến tranh.

Gia đình tôi có bảy anh chị em, ba trai, bốn gái, một mái nhà đông đúc nhưng cũng sớm in hằn những mất mát của chiến tranh. Anh cả, Nguyễn Văn Nuôi, lên đường nhập ngũ từ năm 1947, rồi hy sinh trong kháng chiến chống Pháp năm 1952. Đến nay, hài cốt của anh vẫn còn nằm lại đâu đó nơi chiến trường Điện Biên Phủ xa xôi, chưa một lần trở về với đất mẹ. Em trai tôi, liệt sĩ Nguyễn Văn Nhuận cũng ngã xuống trong chiến dịch “Quế Sơn – Hiệp Đức” trên mặt trận Quảng Nam khốc liệt. Còn tôi, Nguyễn Tân Chính, hai lần khoác áo lính trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đi qua chiến tranh với biết bao ký ức không thể nào quên.
Ba anh em, ba số phận gắn liền với chiến trường, người trở về, người mãi mãi nằm lại. Vì thế, nỗi nhớ về em, về những người thân đã khuất, chưa một ngày nào vơi cạn, đó không chỉ là ký ức, mà là nỗi đau âm ỉ theo suốt cuộc đời.

Chuyện “con đom đóm”…
Tháng 6 năm 1967, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, Nguyễn Văn Nhuận cùng bao trai làng hăng hái lên đường nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện, em tôi được cấp trên cử đi học lớp quân y. Ra trường, em được điều về Trung đoàn 1, Sư đoàn 304B – Quân khu Việt Bắc, nhận nhiệm vụ vào Nam chiến đấu. Nhận được tin, tôi vội sắp xếp thời gian đến đơn vị thăm em. Nhưng thật không may, hai anh em không gặp nhau vì đơn vị của Nhuận đang trên đường hành quân dã ngoại. Chỉ vài tuần sau, tôi cũng nhận được lệnh tái ngũ.
Bẵng đi gần ba năm mất liên lạc, đến tháng 11 năm 1970, tình cờ đơn vị tôi hành quân vào B2 (Nam Bộ). Khi đi qua đất bạn Lào, gặp nhiều đơn vị, hỏi ra mới biết đó là quân của Sư đoàn 2 (Quân khu V), mà em tôi cũng là lính Trung đoàn 31 thuộc sư đoàn này. Những thông tin ít ỏi từ đồng đội cũ của em vẫn khiến tôi nuôi hy vọng. Nhưng niềm hy vọng ấy dần “tắt lịm”, bởi suốt chặng đường hành quân qua 18 trạm giao liên của hai tỉnh Xa-va-na-khẹt và Xa-ra-van (Hạ Lào), tôi luôn tìm cách hỏi thăm mà vẫn bặt vô âm tín. “Có phải ông trời muốn thử thách lòng kiên nhẫn của người lính như tôi?”
Chiều hôm ấy, đơn vị tôi hành quân về Bãi Khách của Trạm giao liên T62 nằm trên đỉnh núi. Để đến được đó, phải đi qua một đơn vị khác ở dưới chân đồi. Vừa mỏi mệt, vừa buồn vì thất vọng, tôi không ngờ rằng đơn vị dưới chân đồi ấy lại chính là đơn vị của em tôi. Hai anh em chỉ cách nhau chừng một trăm mét mà bỗng trở nên “nghìn trùng xa cách”. Ngay sau đó, tình cờ tôi gặp một số chiến sĩ Sư đoàn 2 đi lấy gạo, họ đều là đồng đội của em tôi. Qua họ, biết tin em vẫn khỏe, tôi mừng lắm và ao ước, giá như có đôi cánh, tôi sẽ bay trở lại để thăm em, dù chỉ một lần.
Đã mấy chục năm trôi qua, mỗi khi nhớ lại chuyện này, tôi vẫn thấy vô cùng nuối tiếc, xót xa và tự trách mình đã thiếu kiên nhẫn để cơ hội vuột khỏi tầm tay.
Tôi vào B2. Nửa năm sau, đơn vị của em rút sang Lào nghỉ ngơi, củng cố lực lượng, rồi trở về miền Nam trong giai đoạn 1971–1972, trực tiếp tham gia các chiến dịch: Nông Sơn, Trung Phước, Quế Sơn, Hiệp Đức… (mặt trận Quảng Nam).
Tháng 3 năm 1972, tôi ra Bắc nhận nhiệm vụ mới. Tại đây, bố mẹ và gia đình trao lại cho tôi lá thư em gửi từ chiến trường. Trong thư, em nói đã nhận được lá thư tôi viết vội, gửi qua người đồng đội (cùng đơn vị với em) mà tôi gặp trên đường đi lấy gạo ở cao nguyên Bô-lô-ven hơn một năm trước. Đọc thư em, lòng tôi trào dâng xúc động xen lẫn nuối tiếc; nỗi nhớ em càng tăng lên gấp bội.
Cuối năm 1973, tôi được đơn vị cho phục viên. Sau năm tháng rời quân ngũ trở về địa phương (xã Tiên Dược, nay là xã Sóc Sơn), tại Đại hội Đảng bộ, tôi được tín nhiệm bầu vào Ban Thường vụ Đảng ủy xã, sau đó về thị trấn công tác. Từ đây, tôi bước vào một “mặt trận” mới, mặt trận không tiếng súng, với bao lo toan, khó khăn, vất vả nhưng cũng không kém phần gay go, phức tạp. Đó là trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền địa phương, trong đó có tôi. Trước bộn bề công việc cần giải quyết, cần tập trung cao độ cho việc chung, tôi tạm gác lại việc riêng tư để lo phát triển kinh tế – xã hội địa phương, chăm lo an sinh, cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao dân trí… cho đến khi nghỉ hưu (tháng 10 năm 2001).
Cũng trong thời gian này, tôi nghe phong thanh qua những thông tin chắp nối rằng: “Nhuận đã hy sinh”. Dù còn bán tín, bán nghi, tôi chỉ biết âm thầm giữ kín trong lòng, không dám thổ lộ cùng ai, nhất là với bố mẹ già.
Có một điều ám ảnh tôi suốt bấy lâu. Vào tháng 6 năm 1973, khi hoàn thành nhiệm vụ “trao trả nhân viên quân sự” từ Quảng Trị trở về, tôi được mẹ kể lại rằng: vào tháng Giêng năm Quý Sửu (1973), bà đã “báo mộng” và linh cảm nếu gặp lại lần nữa thì sẽ có chuyện chẳng lành. Tôi đã phá lên cười, vì mẹ vốn là người nhát và rất sợ “ma”.
Theo lời mẹ kể, hôm đó bà thấy một con đom đóm rất to (to bằng bóng đèn), có màu đỏ chứ không xanh như đom đóm thường, bay từ ngoài sân vào nhà, lượn qua lượn lại trước bàn thờ tổ tiên, rồi bay ra đậu ở cây đào trước sân. Chỉ trong chớp mắt, nó biến mất không rõ đi đâu. Tôi nói vui với mẹ: “Con ở Trường Sơn, đom đóm như sao sa bên suối, cũng to như bóng đèn đấy mẹ ạ!”. Nghe vậy, mẹ tôi bực mình, không nói thêm gì nữa.
Câu chuyện tưởng như rơi vào quên lãng, ai ngờ đúng một năm sau, vào tháng 6 năm 1974, gia đình nhận được giấy báo tử của em tôi. Theo giấy báo tử, em hy sinh ngày 31-12-1972. Đối chiếu thời điểm em hy sinh với chuyện con đom đóm mẹ kể, chỉ cách nhau hơn một tháng, đúng vào tuần tứ cửu (49–50 ngày) của em. Cây đào trước sân nhà sau đó cũng héo dần (có thể do già hoặc bị sâu), nên bố tôi đã chặt đi để mẹ không còn bị ám ảnh nữa.
Là một người lính, từng được rèn luyện và chứng kiến nhiều đồng đội hy sinh, nhưng khi cầm tờ giấy báo tử của em, tôi vẫn không khỏi bàng hoàng, đau đớn đến tột cùng. Với cha mẹ tôi, nỗi đau ấy còn tăng lên gấp bội khi lần lượt mất đi hai khúc ruột của mình. Cú sốc quá lớn, cùng nỗi mất mát không gì bù đắp nổi, khiến mẹ tôi ngày một kiệt sức, không sao gượng dậy; đôi mắt dần mờ đi vì những tháng ngày khóc thương, nhớ con…
Sau khi mẹ qua đời vào tháng 4 năm 1985, tôi càng nung nấu ước nguyện đi đón em về để thỏa lòng mong mỏi của bố mẹ. Ý định ấy ngày càng thôi thúc, nhưng thông tin về em lại rất ít ỏi: chỉ biết em thuộc Trung đoàn 31, Sư đoàn 2, Quân khu V, và thời điểm hy sinh theo giấy báo tử trùng với chiến dịch “Quế Sơn – Hiệp Đức” (Quảng Nam). Tôi phán đoán rằng rất có thể em đã hy sinh trong chiến dịch đó. Nhưng bắt đầu từ đâu thì vẫn là câu hỏi chưa có lời giải.
Đang lúc loay hoay tìm hướng, “vận may” bất ngờ đến. Tôi có một người anh họ, cũng là bộ đội chống Mỹ, từng công tác tại cơ quan Binh vận của tỉnh Quảng Đà. Sau ngày giải phóng, anh chuyển sang ngành Thương binh – Xã hội của tỉnh (nay là Sở LĐTB-XH TP. Đà Nẵng).
Giữa năm 1997, anh về thăm quê, tình cờ biết được chuyện hy sinh của Nhuận và nguyện vọng gia đình tôi muốn tìm hài cốt để đón em về. Khoảng hai tháng sau, tôi nhận được tin anh báo: đã có manh mối về phần mộ liệt sĩ Nguyễn Văn Nhuận tại nghĩa trang liệt sĩ xã Quế Long, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
Niềm vui đến thật bất ngờ, nhanh chóng lan tỏa khắp anh em họ hàng, làng xóm. Không khí khi ấy náo nức như ngày xưa dân làng lưu luyến tiễn thanh niên lên đường nhập ngũ, và vỡ òa hân hoan khi đón họ hoàn thành nghĩa vụ trở về. Sau mấy chục năm xa cha mẹ, xa quê hương, cầm súng chiến đấu rồi hy sinh nơi chiến trường xa, từng ấy năm chất chứa biết bao nỗi đau, thương xót và mong mỏi đến tột cùng, có lúc tưởng như vô vọng thì giờ đây, niềm vui vỡ òa như tìm lại được một báu vật. Khi đã có được thông tin chính xác, kế hoạch đi đón em về dần hình thành trong tôi. Dù vào thời điểm đó, việc đưa hài cốt liệt sĩ về quê vẫn còn nhiều khó khăn, chưa thuận lợi như bây giờ.

Đêm Đông Hà
Đầu tháng 3 năm 1998, vào buổi tối trước ngày lên đường, anh em họ hàng, làng xóm đến chơi chật nhà, động viên, thăm hỏi và chúc chuyến đi gặp nhiều may mắn. Sau khi tiễn khách ra về, tôi thắp cho em nén hương rồi định đi nghỉ sớm để hôm sau lên đường.
Bỗng nhiên, một con đom đóm bay từ ngoài sân vào trong nhà, lượn qua lượn lại trước bàn thờ tổ tiên, rồi bay ra ngoài hiên, chập chờn ngay trước mặt vợ tôi. Vốn không phải người mê tín, tôi cũng không để ý, lên giường nghỉ. Sau này, nghe vợ kể lại, tôi mới biết chuyện đã xảy ra lúc đó.
Sau này nghe vợ kể lại, tôi mới biết chuyện xảy ra: lúc ấy vợ tôi đang lẩm bẩm khấn: “Nếu đúng là em Nhuận, hãy đậu vào vai trái của chị. Ngày mai anh và cháu đi đón em về nhà, hãy phù hộ cho anh, chị, các cháu cùng toàn thể gia đình.” Lạ thay, vừa dứt lời, con đom đóm liền sà xuống đậu đúng vào vai trái của vợ tôi, rồi vụt bay đi trong chớp mắt.
Theo lộ trình, 5 giờ sáng hôm sau xe xuất phát. Ngày đi, đêm nghỉ, đến trưa hôm sau chúng tôi đã tới thành phố Đà Nẵng. Buổi chiều, anh họ dẫn tôi sang Bộ Tư lệnh Quân khu V (nhà anh chỉ cách đó vài trăm mét). Khi được xem lại toàn bộ hồ sơ liệt sĩ, tôi phần nào hiểu rõ hơn về thời điểm, hoàn cảnh và sự hy sinh của em mình.
Đó là trận đánh trong chiến dịch “Quế Sơn – Hiệp Đức” vào cuối tháng 12 năm 1972, diễn ra vô cùng ác liệt giữa ta và địch tại xóm 9, xã Quế Phong, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Đơn vị của em tôi đã giành chiến thắng, làm chủ hoàn toàn trận địa. Trong trận chiến đấu ấy, em tôi bị thương, được đồng đội đưa về tuyến sau cấp cứu, nhưng do vết thương quá nặng, em đã hy sinh tại Viện 20E (quân y tiền phương).
Tôi chăm chú đọc những dòng chữ ghi rất rõ thành tích của em tôi trong hồ sơ liệt sỹ: “Sau hơn bốn năm chiến đấu, trải qua nhiều chiến dịch ác liệt, liệt sỹ Nguyễn Văn Nhuận luôn kiên cường, dũng cảm, không chùn bước trước mọi hiểm nguy, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của người chiến sỹ được cấp trên tin tưởng, đồng đội yêu mến tôn vinh là chiến sĩ thi đua của Trung đoàn, được tặng thưởng Huân chương chiến công Giải phóng hạng Ba quý và vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng”. Nỗi đau xót, xen lẫn niềm tự hào, kiêu hãnh có một người em xứng đáng với truyền thống gia đình, quê hương, đất nước cứ trào dâng trong tôi.
Sáng sớm hôm sau, rời thành phố Đà Nẵng, tôi cùng người anh họ lên đường về Quế Long, Quế Sơn, nơi em đang yên nghỉ tại nghĩa trang của xã. Nhờ sự giúp đỡ tận tình, chu đáo của cấp ủy, chính quyền, nhân dân địa phương và những đồng đội cũ của em, việc cất bốc, đưa em về quê diễn ra nhanh chóng, thuận lợi.
Xong công việc, xe rời Quế Sơn, ra Quốc lộ 1, hướng về phía Bắc. Chiều muộn, xe đến thị xã Đông Hà (Quảng Trị, nay là thành phố Đông Hà), tôi quyết định dừng chân nghỉ qua đêm tại “khách sạn Công viên”. Thực ra, đó chỉ là hai dãy nhà cấp 4 đơn sơ, giống như nhà ở quê. Hài cốt của em được đặt bên cạnh, song song với giường tôi nằm.
Tôi trằn trọc, lo âu, chỉ sợ kẻ gian nhầm tưởng trong hòm là tiền bạc mà lấy trộm. Nếu điều đó xảy ra, chẳng khác nào tôi để mất em lần thứ hai và sẽ là mất em vĩnh viễn. Đêm Đông Hà yên tĩnh, bởi thị xã khi ấy mới thành lập, hạ tầng còn nhiều thiếu thốn.
Dưới ánh sáng vàng vọt, yếu ớt của bóng đèn, khi mọi người đã ngủ say sau những ngày đi đường mệt nhọc, tôi vẫn thao thức, chập chờn trong dòng suy nghĩ miên man. Bao kỷ niệm xa xưa ùa về. Bao thăng trầm từ thuở ấu thơ đến lúc trưởng thành, những nhọc nhằn, vất vả… tất cả lại dẫn tôi về với hình bóng của em.
Cùng cả một thế hệ lên đường đánh giặc, cũng như bao bạn bè cùng trang lứa, em ra đi khi chưa từng biết đến tình yêu, chưa một lần nhận nụ hôn của người con gái, chưa kịp cảm nhận hạnh phúc gia đình… Nghĩ đến đó, nước mắt tôi cứ lặng lẽ tuôn rơi, ướt đẫm gối. Trong khoảnh khắc ấy, tôi chỉ mong được nghe em gọi một tiếng “Anh”, nhưng đáp lại vẫn là khoảng lặng mênh mông…
Nỗi nhớ thương em, nghĩa tình huynh đệ thôi thúc, tôi vội lấy giấy bút, viết mấy vần thơ như lời tâm sự, hòa vào làn khói hương nghi ngút đang quấn quýt quanh hài cốt của em: “Đón em về với quê nhà/ Dừng chân nghỉ lại Đông Hà qua đêm/ Trong phòng “Khách sạn Công Viên”/ Đã lâu có dịp anh, em “ngủ cùng”/ Âm dương cách biệt muôn trùng/ Gần em mà chẳng nói cùng được chi/ Chỉ nghe tiếng gió thầm thì/ Như hồn em cũng bay về đâu đây/ Thương em nước mắt rơi đầy/ Bồi hồi nhớ lại những ngày xa xưa…”
Tiếng gà gáy dồn dập báo hiệu màn đêm đã qua. Khi trời còn đẫm sương, tôi đánh thức mọi người dậy, lên xe tiếp tục hành trình. Bởi lúc này, không chỉ tôi và các thành viên trong đoàn, mà cả những người thân nơi quê nhà đều đang ngóng đợi từng giờ để được đón em trở về với đất mẹ.
Từ Đông Hà (Quảng Trị), xe vượt chặng đường hơn 600 km. Đến 20 giờ 30 phút tối hôm đó, em đã về tới ngôi nhà thân yêu, nơi em cất tiếng khóc chào đời, và cũng là nơi em đã rời xa 31 năm trước để đi chiến đấu vì dân, vì nước. Một không khí hân hoan xen lẫn xúc động trào dâng trong tình thân thương bao la, thứ cảm xúc mà không bút nào có thể diễn tả hết được.

Về với đất mẹ
Ngày em ra đi, khi cuộc chiến giữa ta và địch đang diễn ra ác liệt, cảnh kẻ đi người ở diễn ra giản dị như một lẽ thường tình của thời chiến. Còn hôm nay, đón em trở về với đất mẹ khi đất nước đã thanh bình, đó là niềm vui trọn vẹn. Em trở về trong vòng tay yêu thương, đón đợi của anh em, họ hàng, làng xóm, bạn bè, đồng đội. Nếu có linh thiêng, chắc hẳn cha mẹ, tổ tiên nơi “chín suối” cũng được ấm lòng, mãn nguyện; và em cũng sẽ tự hào vì đã làm tròn bổn phận của người “trai thời loạn”, để hôm nay được an nghỉ nơi đất mẹ thân thương.
Lễ đón hài cốt và truy điệu em được tổ chức trang trọng tại nghĩa trang quê nhà, với sự có mặt của đại diện lãnh đạo huyện, xã, các ban, ngành, đoàn thể, cùng đông đảo bạn bè, đồng đội và nhân dân địa phương. Trong âm hưởng trầm hùng của bản nhạc “Hồn tử sĩ”, buổi lễ diễn ra trong không khí trang nghiêm, xúc động. Mọi người như lặng đi, như lạc vào một không gian thiêng liêng, nơi quá khứ và hiện tại giao hòa trong niềm tiếc thương và lòng biết ơn sâu sắc.
Hoàn thành trọn vẹn cuộc hành trình đón em về quê nhà, tôi như được cởi mở tâm hồn, thấy thanh thản và nhẹ nhõm, bởi đã thực hiện được ước nguyện của cha mẹ, gia đình và những người thân yêu. Có lúc tôi tự hỏi: điều gì đã tiếp thêm cho tôi sức mạnh để vượt qua bao khó khăn, trở ngại suốt hành trình dài, những ngày tháng căng thẳng đến mất ăn, mất ngủ mà vẫn đủ nghị lực đi đến cùng? Có lẽ, đó không chỉ là trách nhiệm của người anh, mà còn là sức mạnh của tình thân, của ký ức, của nghĩa tình không bao giờ phai nhạt. Và biết đâu, trong một cách nào đó, em vẫn luôn ở bên, dõi theo, nâng đỡ, tiếp cho tôi niềm tin và nghị lực để hoàn thành tâm nguyện thiêng liêng ấy.
Giờ đây, em đã yên nghỉ dưới hàng cây xanh mát, nơi nghĩa trang linh thiêng, ấm áp tình đồng đội. Ở đó, em không còn đơn độc, mà ở bên những người đã cùng em đi qua những năm tháng khốc liệt. Và sâu thẳm trong lòng đất mẹ, dường như vẫn vang lên khúc ru dịu dàng, khúc ru của quê hương, của mẹ đưa em vào giấc ngủ bình yên vĩnh hằng.
Hành trình ấy khép lại, nhưng cũng mở ra một sự an yên trong tâm khảm, nơi nỗi đau được xoa dịu, ký ức được gìn giữ, và tình thân được tiếp nối như một phần không thể tách rời của cuộc đời.
Văn Học/Ghi theo lời kể của CCB Nguyễn Tân Chính


