Thứ Tư, Tháng 7 8, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

“Chuyện với thanh”: những người còn lại liệu có thể xem mình là vô can?



ĐNA -

Ngày 7/7/2026, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP. Hà Nội đã khởi tố bị can, bắt tạm giam Nguyễn Thành Nam cùng đồng phạm theo Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quyết định này không xuất phát từ những tranh cãi ngắn hạn trên mạng xã hội, mà là kết quả của quá trình điều tra, thu thập chứng cứ, giám định và đánh giá toàn diện theo đúng quy định tố tụng. Việc khởi tố, bắt tạm giam Nguyễn Thành Nam cùng đồng phạm cũng cho thấy vụ việc đã vượt khỏi phạm vi các tranh luận về văn học, nghệ thuật hay sáng tạo để trở thành một vụ án hình sự đặc biệt nguy hiểm thuộc Chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia.

Tại Cơ quan Điều tra, Nguyễn Thành Nam  không còn thái độ lấc cấc, phát biểu ngang ngược trên mạng xã hội

Về bản chất pháp lý, tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Điều 117 Bộ luật Hình sự không chỉ xâm phạm trật tự quản lý nhà nước về thông tin mà còn được xếp vào nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia. Khách thể mà tội danh này hướng tới là sự ổn định của chế độ, an ninh chính trị, nền tảng tư tưởng và lợi ích quốc gia.

Trong bối cảnh không gian mạng trở thành mặt trận của cạnh tranh chiến lược và chiến tranh thông tin, các sản phẩm truyền thông, xuất bản hoặc nội dung số bị xác định có mục đích chống Nhà nước có thể được nhìn nhận như công cụ tác động nhận thức. Nếu được tổ chức sản xuất, phát tán và khuếch đại có chủ đích, những nội dung này có khả năng gieo rắc hoài nghi, bóp méo lịch sử, hạ thấp các giá trị cách mạng, làm xói mòn niềm tin của một bộ phận quần chúng đối với Đảng, Nhà nước và các thiết chế chính trị, từ đó tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn về tư tưởng và xã hội.

Việc Cơ quan An ninh điều tra khởi tố, bắt tạm giam Nguyễn Thành Nam cùng đồng phạm mới chỉ là bước khởi đầu của quá trình tố tụng. Trách nhiệm hình sự của từng cá nhân sẽ tiếp tục được làm rõ trên cơ sở chứng cứ, vai trò và mức độ tham gia theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, diễn biến này cũng đặt ra một vấn đề rộng hơn, vượt ra ngoài phạm vi của một bị can hay một tác phẩm cụ thể: những cá nhân đã tham gia vào quá trình hình thành, biên tập, xuất bản, quảng bá, phát hành, tài trợ hoặc tích cực khuếch tán các nội dung liên quan sẽ được xem xét như thế nào nếu có căn cứ xác định họ biết rõ mục đích, tính chất của hành vi nhưng vẫn cố ý tham gia hoặc giúp sức?

Đó không chỉ là câu hỏi của dư luận mà còn là vấn đề cần được giải đáp dưới góc độ pháp lý. Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự, đồng phạm là trường hợp từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Đồng phạm không chỉ bao gồm người trực tiếp thực hiện hành vi mà còn có thể bao gồm người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức. Trường hợp có sự câu kết chặt chẽ, phân công vai trò và phối hợp thực hiện thì có thể được xem xét dưới hình thức phạm tội có tổ chức, một dạng đồng phạm có mức độ nguy hiểm cao hơn.

Đối với vụ án này, pháp luật luôn có ranh giới rõ ràng và chỉ phán xét trên cơ sở chứng cứ. Việc một cá nhân có hay không có dấu hiệu đồng phạm, giúp sức hoặc phạm tội có tổ chức hoàn toàn thuộc thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng và phải được chứng minh theo đúng quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự. Không phải bất kỳ ai từng đọc, giới thiệu, bình luận hay phê bình cuốn sách trên mạng xã hội đều mặc nhiên phải chịu trách nhiệm hình sự. Chỉ khi có đủ căn cứ chứng minh sự cố ý, sự thống nhất về ý chí và hành vi giúp sức cho việc thực hiện tội phạm thì mới có thể xem xét trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, khi pháp luật xác định ranh giới của trách nhiệm hình sự, xã hội lại đặt ra một chuẩn mực khác: trách nhiệm công dân, đạo đức nghề nghiệp và lương tri của người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, xuất bản và truyền thông. Hai giới hạn ấy không phải lúc nào cũng trùng khít. Có những hành vi không cấu thành tội phạm nhưng vẫn để lại hệ quả xã hội đáng suy ngẫm; có những sự im lặng, cổ súy hoặc thiếu thận trọng tuy không bị xử lý bằng chế tài hình sự nhưng vẫn phải được nhìn nhận dưới góc độ trách nhiệm xã hội.

Bởi vậy, sau quyết định khởi tố và bắt tạm giam của cơ quan điều tra, điều còn lại không chỉ là câu chuyện của một vụ án, mà còn là phép thử đối với trách nhiệm của cả hệ sinh thái văn hóa, xuất bản và truyền thông. Những tổ chức, cá nhân từng tham gia biên tập, xuất bản, quảng bá, giới thiệu hoặc góp phần lan tỏa các nội dung liên quan có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu không có căn cứ pháp luật. Nhưng trước lịch sử, trước lợi ích quốc gia và trước trách nhiệm gìn giữ môi trường văn hóa lành mạnh, liệu họ có thể khẳng định mình hoàn toàn vô can? Đó không phải là câu hỏi dành cho cơ quan tố tụng, mà là câu hỏi mỗi cá nhân phải tự trả lời bằng nhận thức, trách nhiệm và lương tâm của chính mình.

Những người còn lại liệu có thể xem mình là vô can?
Nếu trách nhiệm hình sự của các bị can sẽ được cơ quan tiến hành tố tụng làm rõ bằng chứng cứ, thì trách nhiệm quản lý lại là vấn đề mà dư luận có quyền đặt ra. Một tác phẩm chỉ có thể đến tay công chúng sau khi đi qua nhiều khâu: tác giả, biên tập, hội đồng thẩm định, lãnh đạo nhà xuất bản, cấp phép phát hành và các chủ thể tham gia phổ biến. Mỗi mắt xích đều được thiết kế để bảo đảm chất lượng chuyên môn, đồng thời tuân thủ các quy định của pháp luật về xuất bản.

Bởi vậy, câu hỏi không chỉ dừng ở người viết. Dư luận có quyền chờ đợi lời giải đáp về trách nhiệm của những “người gác cổng” trong toàn bộ quy trình xuất bản. Công tác thẩm định nội dung đã được thực hiện như thế nào? Các ý kiến phản biện chuyên môn có được xem xét đầy đủ hay không? Việc đánh giá tác động của tác phẩm đối với đời sống chính trị, xã hội có được tiến hành đúng quy trình? Nếu có sai sót, trách nhiệm quản lý thuộc về cá nhân, bộ phận hay cấp lãnh đạo nào sẽ cần được các cơ quan có thẩm quyền xem xét, kết luận theo đúng quy định.

Chưa dừng lại tại đó, như một sự thách thức, đối đầu dư luận. Với tư cách là Giám đốc Nhà xuất bản Hội nhà văn Việt Nam, bà Nguyễn Thúy Hằng đã chịu trách nhiệm xuất bản cuốn sách “Chuyện với Thanh”. Một sự liều lĩnh của Hằng đến Nguyễn Quang Thiều trong lời phát biểu tại lễ ra mắt cuốn sách cũng phải thốt lên “Nếu tôi còn làm giám đốc Nhà xuất bản, chắc gì tôi đã dám cho xuất bản cuốn sách này”. Qua đó mới thể hiện tính cách liều lĩnh, ngổ ngáo của Hằng đã dám cho ra đời một ấn phẩm độc hại. Theo Nguyễn Thành Nam, chưa ai biết sẽ thế nào nhưng có lẽ có một bộ phận không thể nào quyên Hằng, đó là Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Hà Nội.

Hãy xem xét quan điểm chính trị và trách nhiệm công vụ của Ông Nguyễn Quang Thiều từ vai trò Giám đốc, Tổng biên tập Nhà Xuất bản Hội Nhà Văn đến Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam.

Với vai trò Chủ tịch Hội Nhà Văn, Ông Nguyễn Quang Thiều phải chịu trách nhiệm để Nhà Xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản, phát hành cuốn sách “Chuyện với Thanh” của Nguyễn Thành Nam có nội dung “vi phạm rất nghiêm trọng” Luật Xuất bản buộc Cục Xuất bản, in ấn, phát hành phải xử phạt hành chính, thu hồi ấn phẩm. Cuốn sách “Chuyện với Thanh” không những vi phạm Luật xuất bản mà còn có nội dung cực kỳ phản động xuyên tạc lịch sử, hạ bệ Chủ tịch Hồ Chí Minh, tấn công tư tưởng Hồ Chí Minh khiến tác giả đối diện bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Với cương vị Giám đốc, kiêm Tổng Biên tập Nhà Xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam. Đây cũng không phải là lần đầu hoạt động xuất bản của Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam gây tranh luận trong dư luận. Trước đó, trong thời gian giữ cương vị Giám đốc kiêm Tổng Biên tập Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam, ông Nguyễn Quang Thiều đã chịu trách nhiệm xuất bản và phát hành tập thơ Thành phố dịu dàng của nhà thơ Trần Nhuận Minh.

Sau khi được xuất bản, tập thơ này tiếp tục được trao Giải Nhất Giải thưởng Văn nghệ Hạ Long lần thứ VIII do UBND tỉnh Quảng Ninh tổ chức. Tuy nhiên, kết quả trao giải đã tạo nên nhiều ý kiến trái chiều. Một số ý kiến cho rằng một số bài thơ trong tập sách có cách nhìn, cách thể hiện lịch sử và giáo dục chưa phù hợp, làm dấy lên tranh luận trong giới chuyên môn cũng như dư luận.

Trước những phản ứng đó, nhà thơ Trần Nhuận Minh đã có đơn đề nghị Ban Tổ chức rút tác phẩm khỏi danh sách được trao Giải thưởng Văn nghệ Hạ Long lần thứ VIII. Đồng thời, Cục Xuất bản, In và Phát hành cũng có văn bản yêu cầu Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam đình chỉ phát hành tập thơ để xem xét, xử lý theo quy định.

Diễn biến này cho thấy những tranh luận liên quan đến công tác thẩm định nội dung và trách nhiệm của đơn vị xuất bản không phải là vấn đề mới. Bởi vậy, khi một vụ án hình sự liên quan đến hoạt động xuất bản được khởi tố, dư luận có cơ sở đặt ra yêu cầu nhìn nhận toàn diện hơn về hiệu quả của cơ chế biên tập, thẩm định và trách nhiệm quản lý trong lĩnh vực xuất bản, thay vì chỉ tập trung vào trách nhiệm của riêng tác giả.

Với cương vị Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam. Những tranh luận xung quanh hoạt động xuất bản và trao giải của Hội Nhà văn Việt Nam không phải chỉ xuất hiện trong thời gian gần đây. Trước đó, tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh từng tạo ra nhiều ý kiến trái chiều trong giới nghiên cứu, phê bình và dư luận xã hội. Trong nhiều năm, tác phẩm được đánh giá khác nhau, từ góc độ giá trị văn học đến cách tiếp cận lịch sử và chiến tranh, phản ánh sự đa dạng trong quan điểm tiếp nhận.

Đến giai đoạn 2025–2026, việc tác phẩm được đưa vào danh sách tôn vinh của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng tiếp tục làm dấy lên nhiều tranh luận trong xã hội. Sau đó, Bộ đã có quyết định điều chỉnh danh sách theo thông tin công khai. Diễn biến này cho thấy các quyết định trong lĩnh vực văn hóa, đặc biệt đối với những tác phẩm có nhiều cách nhìn nhận khác nhau, luôn thu hút sự quan tâm và phản biện của công chúng.

Từ những vụ việc như vậy, dư luận tiếp tục đặt ra yêu cầu phải nâng cao trách nhiệm của các thiết chế văn hóa, xuất bản và hội đồng chuyên môn trong công tác thẩm định, đánh giá và tôn vinh các tác phẩm. Cùng với đó là trách nhiệm nghề nghiệp của truyền thông, giới phê bình và những người có ảnh hưởng trong việc giới thiệu, bình luận các tác phẩm đến công chúng. Mỗi chủ thể đều có quyền bày tỏ quan điểm học thuật, nhưng đồng thời cũng cần bảo đảm sự tôn trọng đối với sự thật lịch sử, quy định của pháp luật và chuẩn mực nghề nghiệp; tránh quy chụp, công kích cá nhân hoặc làm gia tăng đối đầu trong không gian công cộng.

Vụ án đối với Nguyễn Thành Nam sẽ tiếp tục được các cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, truy tố và xét xử theo đúng quy định của pháp luật. Trách nhiệm hình sự của từng cá nhân sẽ được xác định trên cơ sở chứng cứ, bảo đảm nguyên tắc khách quan, công bằng và thượng tôn pháp luật. Nhưng giá trị cảnh tỉnh mà vụ việc đặt ra không chỉ nằm trong phạm vi của một bản án. Điều đáng suy ngẫm hơn là trách nhiệm của cả hệ sinh thái văn hóa, xuất bản và truyền thông đối với mỗi tác phẩm được đưa đến công chúng. Một lời giới thiệu thiếu thận trọng, một quyết định biên tập dễ dãi, một sự cổ súy thiếu kiểm chứng hay sự im lặng trước những dấu hiệu lệch chuẩn có thể không đồng nghĩa với trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, những hành động ấy vẫn có thể góp phần tạo điều kiện để các nội dung gây tranh cãi lan tỏa, làm suy giảm niềm tin xã hội và đặt ra những câu hỏi nghiêm túc về trách nhiệm nghề nghiệp, trách nhiệm công dân.

Người làm văn hóa, người cầm bút và người hoạt động trong lĩnh vực xuất bản không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật, mà còn chịu sự đánh giá của lương tri, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm đối với cộng đồng. Mỗi trang viết, mỗi quyết định xuất bản, mỗi hành động truyền thông đều có thể tác động đến nhận thức xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Bởi vậy, tri thức chỉ thực sự có giá trị khi đi cùng bản lĩnh, trách nhiệm và sự trung thực với sự thật lịch sử.

Một vụ án rồi sẽ khép lại bằng phán quyết của tòa án. Nhưng bài học về trách nhiệm của những “người gác cổng” văn hóa, xuất bản và truyền thông sẽ còn ở lại. Pháp luật có giới hạn trong phạm vi điều chỉnh các hành vi vi phạm, còn trách nhiệm gìn giữ những giá trị nền tảng của quốc gia, bảo vệ môi trường văn hóa lành mạnh và sử dụng tự do sáng tạo một cách có trách nhiệm là yêu cầu đặt ra đối với mọi cá nhân và tổ chức. Đó cũng là thước đo bản lĩnh, trách nhiệm và đạo đức của những người làm văn hóa trước Tổ quốc, trước nhân dân và trước lịch sử.

Thủy Phạm