Thứ Ba, Tháng Năm 21, 2024
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Công cuộc phục hưng di sản văn hóa cố đô Huế

ĐNA -

Năm 1945, cuộc cách mạng Tháng Tám thành công đã chấm dứt hơn 1000 năm tồn tại của chế độ quân chủ ở Việt Nam, đó cũng là thời điểm đánh dấu sự thay đổi vai trò lịch sử của Huế: từ kinh đô trở thành cố đô. Suốt 30 năm sau đó, trải qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cố đô Huế, nơi tập trung với mật độ rất cao những di sản văn hóa vật chất và tinh thần của dân tộc đã bị tàn phá nặng nề. Năm 1975, Huế cùng toàn bộ miền Nam được giải phóng, bên cạnh nhiệm vụ phục hồi và xây dựng nền kinh tế mới, xã hội mới sau chiến tranh, thì việc bảo tồn và phục hưng những di sản văn hóa quý giá cũng là nhiệm vụ hết sức to lớn, nặng nề.

Thập niên 1980, hoàng cung Huế còn tiêu điều đổ nát do chiến tranh và các biến động lịch sử.

Trong 49 năm qua (1975-2024), công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Huế đã đạt được những thành tựu to lớn. Huế là địa phương đầu tiên của Việt Nam có hai di sản thế giới được UNESCO công nhận và ghi danh, và đến nay vẫn là địa phương sở hữu nhiều di sản mang tầm quốc tế nhất . Di sản văn hóa không chỉ là phương tiện đưa Huế hội nhập sớm với thế giới mà đã thực sự trở thành nền tảng cho phát triển kinh tế xã hội. Huế đã trở thành Thành phố fesstival đặc trưng của Việt Nam, là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước tại khu vực miền Trung…

Trong các cố đô của Việt Nam, Huế là Cố đô duy nhất còn bảo lưu được khá nguyên vẹn tổng thể kiến trúc nghệ thuật Cung đình, với hệ thống Thành quách, Cung điện, Miếu đường, Đền đài, Lăng tẩm. Di sản văn hoá Huế là những kiệt tác nghệ thuật của nhân dân lao động trải qua bao thế hệ và đỉnh cao, của những tài năng của những người thợ thủ công khéo tay nhất nước thời bấy giờ.

Thành phố Huế là sự mẫu mực kết hợp hài hoà giữa các yếu tố con người, kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên, là điển hình của loại hình kiến trúc cảnh vật hoá- một loại hình kiến trúc đậm đà bản sắc dân tộc và giàu tính nhân văn. Đặc điểm này đặt ra một yêu cầu rất nghiêm ngặt là vừa phải bảo vệ tổng thể di tích bao gồm bảo vệ các công trình kiến trúc gắn liền với bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, bảo vệ di sản văn hoá vật chất đi đôi với bảo vệ và phát huy những giá trị văn hoá tinh thần.

Sau rất nhiều nỗ lực bảo tồn trùng tu, hoàng cung Huế như sống lại trong ánh hào quang rực rỡ.

Về công tác bảo tồn, tôn tạo cảnh quan môi trường các khu di sản
Nằm trong lòng của “một kiệt tác về thơ kiến trúc đô thị”, phần lớn các di tích của Huế đều là những kiến trúc nghệ thuật được bố trí hài hòa với thiên nhiên trong những không gian rất rộng lớn. Cũng chính vì thế mà việc bảo tồn, tôn tạo cảnh quan môi trường các khu di tích gặp không ít khó khăn. Thêm vào đó, số lượng dân cư sống trong các khu vực bảo vệ di tích rất lớn, chiếm xấp xỉ 1/2 dân số thành phố Huế trước khi mở rộng. Vì vậy, mọi hoạt động liên quan đến bảo vệ di tích đều có ảnh hưởng nhất định đến cuộc sống của người dân và nhu cầu phát triển .

Trong những năm qua, phần lớn các di tích chính đã được đầu tư tu bổ và tôn tạo hệ thống sân vườn, cảnh quan và trồng cây bổ sung ở các khu vực đệm. Nổi bật như việc trồng lại vành đai xanh lăng vua Minh Mạng, tôn tạo phục hồi cảnh quan vườn Cơ Hạ…Trung tâm đã thành lập phòng Cảnh quan Môi trường với hơn 80 cán bộ, kỹ sư, nghệ nhân chuyên làm công tác vệ sinh môi trường, gây dựng và trồng mới cây xanh, hoa kiểng, nghiên cứu tôn tạo môi trường cảnh quan. Chính công việc đó đã làm thu hẹp không gian hoang phế, từng bước trả lại các giá trị cảnh quan vốn có của Cố đô, mang lại sinh khí cho di tích, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân, góp phần quan trọng trong việc giao lưu và hợp tác văn hóa trong nước và quốc tế.

Hàng chục công trình kiến trúc quan trọng đã được trùng tu khôi phục vẻ đẹp như xưa

Bên cạnh đó, việc nâng cấp cơ sở hạ tầng và các trục đường Thành phố Huế đã được quan tâm, nhất là các trục đường trong Kinh Thành, đường đến một số điểm di tích. Đặc biệt là việc chỉnh trang, tôn tạo 2 bên bờ sông Hương, nạo vét sông Ngự Hà và tu bổ kè Hộ Thành Hào đã tạo điều kiện để phát triển dân sinh và chỉnh trang đô thị. Việc giải tỏa gần 300 hộ dân ở khu vực Bến Me và Hộ Thành Hào, hang trăm hộ dân ở Thượng thành, Eo bầu Kinh thành, hàng chục hộ dân ở đàn Xã Tắc, Võ Miếu, hơn 100 hộ dân dọc theo Ngự Hà…với kinh phí hàng trăm tỉ đồng phần nào trả lại cảnh quan cho Kinh thành Huế và một số di tích quan trọng trong Kinh thành.

Sức hấp dẫn lớn của Huế là trải qua bao biến thiên lịch sử Huế vẫn bảo tồn được chân dung của một kinh đô, bảo tồn được “Một kiệt tác về thơ kiến trúc đô thị” với hàng trăm công trình nghệ thuật tinh vi, tuyệt mỹ, phong phú, đa dạng về phong cảnh, đậm đà bản sắc truyền thống dân tộc, hoà quyện vào cảnh quan kỳ diệu của thiên nhiên, có giá trị đặc biệt về lịch sử và về văn hoá nghệ thuật. Đó chính là nhân tố chủ yếu cấu thành đặc thù của Huế, là nền tảng để Huế trở thành trung tâm văn hoá du lịch của cả nước. Đó hiển nhiên là một thế mạnh về văn hoá và đang trở thành một thế mạnh trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Thừa Thiên Huế trên cơ sở khai thác và phát huy giá trị của hệ thống di tích một cách hợp lý.

Khoảng 175 công trình di tích lớn nhỏ cùng hạ tầng, cảnh quan khu di sản được bảo tồn, trùng tu với chất lượng cao.

Bên cạnh kho tàng di sản văn hoá vật chất đồ sộ có giá trị và tầm vóc Quốc tế. Huế còn là một tụ điểm về di sản văn hoá tinh thần phong phú, một vùng văn hoá Phú Xuân đặc sắc “ Huế đẹp và thơ” nổi tiếng. Di sản văn hoá tinh thần ở Huế bao gồm văn hoá dân gian và văn hoá Cung đình. Văn hoá Cung đình Huế với cội nguồn từ triều Lý, trải qua các triều đại Trần, Lê rồi lan toả hội tụ và kết hợp với truyền thống văn hoá vùng đất miền Trung và phía Nam của Tổ quốc đã được manh nha từ thời các Chúa Nguyễn và phát triển đến đỉnh cao và hoàn chỉnh dưới thời các vua Nguyễn, để ngày nay đã tạo nên những giá trị văn hoá phi vật thể và truyền khẩu được cả nhân loại thừa nhận.

Trong kho tàng di sản văn hoá tinh thần còn có sinh hoạt Cung đình, lễ hội Cung đình (tế giao, thiết triều, đăng quang, truyền lô, tịch điền, …) và các ngành nghề truyền thống đã được hình thành và phát triển trong quá trình xây dựng kinh đô và hiện nay cần phải được bảo tồn, phát triển để phục vụ cho công cuộc tu bổ, trùng tu, tôn tạo di tích, đó là các nghề mộc, nề, ngoã, pháp lam, sơn thếp, thêu ren, khảm chạm, … . Có thể nói, Huế là nơi hội tụ và lan toả ra cả nước những thợ lành nghề và đông đảo đội ngũ nghệ nhân có “ bàn tay vàng” đã tạo nên những tác phẩm có giá trị mỹ thuật cao trên địa bàn Thừa Thiên Huế và trên phạm vi cả nước.

Trong quá khứ vàng son, Huế đã tạo cho mình một nền văn hoá  phong phú và đặc sắc vừa kế thừa truyền thống văn hoá Thăng Long vừa tiếp thu những yếu tố mới của Miền Trung, miền Nam và bên ngoài để tạo nên một sắc thái riêng biệt của một vùng văn hóa – Văn hóa Huế. Tuy nhiên, sau 30 năm chiến tranh, kho tàng di sản đồ sộ ấy đã bị hủy hoại rất nặng nề!

Đối với quần thể di tích kiến trúc cố đô, các trận chiến ác liệt năm 1947, mùa Xuân năm 68… đã phá hủy hàng loạt công trình thuộc Kinh thành; điện Cần Chánh và hàng loạt cung điện trong Tử Cấm Thành bị thiêu rụi; Trấn Bình Đài bị quân Pháp và sau đó là quân đội Sài Gòn biến thành khu vực quân sự mà hậu quả vẫn còn đến bây giờ; khu vực Văn- Võ Miếu cũng chịu chung số phận như Trấn Bình Đài; đàn Nam Giao bị chặt trụi thông, các công trình như nhà Quan Cư, Binh Xá, Ế Sở, Thần Trù, Thần Khố, vòng tường thành ngoài cùng… đã bị triệt phá; những khu vực lăng tẩm, hoặc nằm trong khu vực tranh chấp, hoặc là rơi vào khu vực thiếu an ninh nên bị huỷ hoại hoặc lãng quên trong bom đạn. Thêm vào đó, các thiên tai tàn khốc, như trận lũ năm 1953, trận bão năm 1985, trận lụt lịch sử năm 1999… đã tiếp tục tấn công và huỷ diệt các di tích …

Hội thảo nghiên cứu phục hồi điện Cần Chánh

Về lĩnh vực hợp tác quốc tế, ứng dụng thành tựu khoa học bảo tồn và đào tạo nguồn nhân lực
Đây cũng là một trong những lĩnh vực hoạt động đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Trong những năm qua, thông qua bảo tồn di sản, cố đô Huế đã hợp tác với gần 30 tổ chức quốc tế, hàng chục các viện, trường đại học, ban ngành trong nước để tiến hành các hoạt động nghiên cứu bảo tồn di sản cả trên lĩnh vực văn hóa vật thể, phi vật thể và cảnh quan môi trường.

Với lợi thế là cố đô lịch sử, nơi đang gìn giữ các di sản thế giới của Việt Nam, Huế đã đón tiếp hàng loạt các nguyên thủ quốc gia đến thăm và làm việc, điển hình như Tổng thống Ba Lan, Thái tử Na Uy, Tổng bí thư kiêm chủ tịch nước Trung Hoa Giang Trạch Dân, Thái tử Nhật Bản Naruhito, Quốc vương Campuchia… và mới đây nhất là Nhật hoàng và hoàng hậu Nhật Bản, qua đó góp phần thúc đẩy mối quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Với các tổ chức quốc tế, Huế đã có sự hợp tác với UNESCO, Nhật Bản (Quỹ Toyota, Quỹ Japan Foundation, Trường đại học Nữ Sowa, Đại học Nihon, Đại học Waseda …), Ba Lan, Canada, Pháp, Anh, Mỹ, Cộng hòa liên bang Đức, Thái Lan, Bỉ, Hàn Quốc, Hà Lan. Hoa Kỳ… thực hiện hàng chục dự án trùng tu, nghiên cứu bảo tồn và đào tạo nguồn nhân lực hết sức có ý nghĩa. Nổi bật trong đó là dự án hợp tác nghiên cứu kiến trúc truyền thống Huế và phục hồi điện Cần Chánh (phối hợp với Đại học Waseda) đã thực hiện được hơn 20 năm qua (1994-2016), dự án hợp tác với nhóm chuyên gia Cộng hòa Liên bang Đức để phục hồi tranh tường cung An Định, khu vực lăng mộ vua Tự Đức, công trình Tả Vu điện Cần Chánh, miếu Tối Linh Từ, Cổng và bình phong điện Phụng Tiên; dự án hợp tác với Nhật Bản, Hàn Quốc và UNESCO để thực hiện Chương trình quốc gia về bảo tồn và phát huy Nhã nhạc cung đình Huế (2005-2008)…

Huế cũng đã có mối quan hệ hợp tác rộng rãi với nhiều đơn vị, bộ ngành trong nước để thực hiện các dự án quy hoạch, bảo tồn và đào tạo nhân lực; tiêu biểu như Đại học Huế, Trường đại học Kiến trúc Hà Nội, Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn, Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng, Viện Bảo tồn Di tích, Công ty Tu bổ Di tích Trung ương, Viện Âm nhạc Việt Nam, Nhạc viện Hà Nội, Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Viện Sử học…

Chính qua các dự án hợp tác nói trên, đội ngũ cán bộ, chuyên viên, nghệ sĩ của Di tích Huế đã được đào tạo, trau dồi kiến thức thường xuyên và không ngừng trưởng thành. Từ năm 1996 đến nay, Di tích Huế đã đào tạo được 01 Tiến sĩ và 5 Thạc sĩ ở nước ngoài, 6 Tiến sĩ và hơn 30 Thạc sĩ trong nước, 20 Cử nhân Đại học Nhã nhạc cùng hàng chục Cử nhân, nghệ nhân, nghệ sỹ ở nhiều chuyên ngành khác nhau. Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế cũng đã có 1 Nghệ sỹ Nhân Dân, 10 Nghệ sỹ Ưu Tú được công nhận. Trung tâm cũng đã tổ chức hàng chục lớp đào tạo nghiệp vụ hoặc cử chuyên viên tham gia các lớp đào tạo nghiệp vụ về bảo tồn trùng tu di sản, nghiên cứu văn hóa phi vật thể, bảo tàng học… Đội ngũ cán bộ, chuyên viên, nghệ sĩ đó đã trở thành lực lượng nòng cốt trong các hoạt động bảo tồn di sản trên tất cả các lĩnh vực hoạt động; nhiều người trong số đó đã trở thành cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn chủ chốt của các ban ngành.

Sau chiến tranh, toàn bộ khu vực Tử Cấm Thành gần như bị xoá sổ. Khu vực Hoàng Thành chỉ còn lại 62 công trình so với 136 công trình kiến trúc lúc nguyên thuỷ (số liệu do Nguyễn Bá Lăng thống kê trong bài Danh sách cung điện trong Đại Nội Huế) . Khu vực Kinh thành còn 97 công trình trong tình trạng hư hỏng nặng. Lăng Gia Long còn 10/15 công trình, lăng Minh Mạng còn 28/35 công trình, lăng Thiệu Trị còn 16/25 công trình, lăng Tự Đức còn 16/20 công trình, lăng Khải Định còn 16/20 công trình, khu vực Văn Miếu còn 11/15 công trình… Toàn bộ quần thể di tích cố đô Huế sau chiến tranh còn khoảng 300 công trình lớn nhỏ bao gồm: thành quách, cung điện, đền miếu, lầu gác, lăng mộ, cầu cống, đình tạ… hầu hết đều bị hư hỏng ở những mức độ khác nhau, hoặc bị dột nát, nứt vỡ bờ nóc, bờ quyết, các cấu kiện chịu lực mục ruỗng, nhiều công trình hư hỏng nghiêm trọng, có nguy cơ đổ sụp vào bất kỳ lúc nào. 42 ha tường thành bị cây cỏ xâm thực, 100.000m2 ao hồ cần được nạo vét, 33 cầu cống và 20km đường đi trong các di tích bị hư hại nặng cần phải tu sửa cấp thiết…

Các di sản phi vật thể cũng bị hủy hoại, thất tán hầu hết. Hệ thống lễ hội cung đình đã không còn tồn tại sau khi triều Nguyễn chấm dứt; các hình thức diễn xướng cung đình như Nhã nhạc, tuồng cung đình, múa cung đình… tản mát và biến tướng trong dân gian; hệ thống ngành nghề thủ công truyền thống phong phú vốn phục vụ chính cho chốn cung đình cũng thất tán, mai một; hệ thống sách vở, tư liệu đồ sộ của triều Nguyễn cũng bị hủy hoại hoặc bị di chuyển đi phần lớn.

Sau chiến tranh, dù lịch sử đất nước đã sang trang, nhưng do rất nhiều khó khăn, đồng thời do những định kiến về triều Nguyễn nên cách đối xử với các di sản của cố đô Huế vẫn chưa phù hợp. Sự thiếu quan tâm hay do cách sử dụng các di tích một cách tùy tiện đã tiếp tục làm mất mát, biến dạng một số di tích quan trọng ngay trong Hoàng cung, đàn Nam Giao, Văn- Võ Miếu…Tình trạng các di sản phi vật thể cũng không khả quan hơn.

Ngày 25.11.1981, sau chuyến thăm Huế, Tổng giám đốc UNESCO lúc bấy giờ, Ngài Amadou Mahtar M’Bow, đã ra lời kêu gọi cứu vãn Huế tại Hà Nội, nhằm phát động trên phạm vi quốc tế một cuộc vận động bảo tồn và khôi phục các giá trị của di sản văn hoá Huế. Từ thời điểm này trở đi, việc bảo quản, trùng tu tôn tạo các di tích Huế bắt đầu được vận hành đúng với quỹ đạo của nó. Có hai tác nhân có tác động quan trọng đối với tiến trình phục hưng của quần thể di tích Huế. Đó là UNESCO và chính phủ Việt Nam, bao gồm cả chính quyền sở tại thông qua bộ máy quản lý và điều hành trực tiếp là Công ty Quản lý Di tích Lịch sử Văn hoá Huế (tức Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế sau này- dưới đây gọi tắt là Trung tâm).

Cuộc vận động quốc tế do UNESCO phát động tuy không đạt được mục tiêu đề ra nhưng với những khoản viện trợ đa dạng dành cho di tích Huế trong các năm 1981-1990, cùng với những nỗ lực của chính phủ Việt Nam, đã là những thang thuốc cấp thời góp phần vào việc chạy chữa bước đầu, tránh cho di tích Huế thoát khỏi hiểm hoạ bị sụp đổ. Tại Huế, sự ra đời của Công ty Quản lý Di tích và Danh Thắng Huế (từ tháng 5/1992, đổi tên thành Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế) để quản lý, bảo tồn và khai thác toàn diện Quần thể di tích Cố đô Huế và các di sản phi vật thể liên quan là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đặc biệt, đánh dấu sự thay đổi nhận thức hoàn toàn về các giá trị của di sản văn hóa Huế. Tháng 11.1982, Nhóm công tác Huế – UNESCO (Hue – UNESCO Working group) được thành lập, trực tiếp theo dõi chỉ đạo công cuộc bảo tồn và trùng tu quần thể di tích Huế. Nhóm công tác này đã tiến hành 9 kỳ họp để triển khai các hoạt động khôi phục và phát huy giá trị của quần thể di tích Huế. Vào hạ tuần tháng 1.1985, cuộc họp lần thứ 6 của các nước xã hội chủ nghĩa về việc bảo tồn và trùng tu những di tích lịch sử văn hoá hiện tồn ở Huế với sự tham gia của ông Piere Pichard, chuyên viên của UNESCO, để tái kiểm tra kế hoạch hành động, chuẩn bị cho việc gửi những ấn phẩm và ảnh triển lãm về di tích Huế đến UNESCO vào tháng 7.1986. tháng 11.1987, Việt Nam công nhận Công ước về di sản thế giới đã khiến cho những hoạt động hướng về di tích Huế được xúc tiến mạnh mẽ hơn. Ngày 27.7.1991, đạo luật về việc Bảo vệ và sắp xếp những di tích ở Huế của UNESCO được công bố, mở ra cho Huế một tương lại khả quan hơn. Với những nỗ lực to lớn của Trung tâm, thông qua sự giúp đỡ, hướng dẫn của các chuyên gia UNESCO trong hai năm 1992-1993, bộ hồ sơ về Quần thể di tích cố đô Huế đã được hoàn tất và đệ trình lên Hội đồng Di sản Thế giới thuộc UNESCO. Kết quả là ngày 11.12.1993, trong một phiên họp tại Carthagène (Colombia), Hội đồng Di sản Thế giới đã ghi danh quần thể di tích cố đô Huế vào Danh mục Di sản Văn hoá Thế giới. Ngày 2.8.1994, ngài Daniel Janicot, Phó tổng giám đốc UNESCO đã đến Huế, trực tiếp trao cho đại diện UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tấm bằng công nhận có chữ ký của Tổng giám đốc UNESCO, ngài Fédérico Mayor Zaragoza với dòng chữ: “Ghi tên vào danh mục này là công nhận giá trị toàn cầu đặc biệt của một tài sản văn hoá hoặc thiên nhiên để được bảo vệ vì lợi ích của nhân loại”. Cuộc phục hưng di tích Huế bước sang một trang mới.

Về phía Việt Nam, để có được một bước ngoặt trọng đại trong tiến trình khôi phục quần thể di tích cố đô Huế, giới thiệu quần thể di tích này với quốc tế là kết quả của những nỗ lực to lớn của chính phủ Việt Nam, của chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế và của Trung tâm. Ngày 12.12.1996, Thủ tướng Chính phủ  ban hành Quyết định 105/QĐ-TTg chính thức phê duyệt Dự án Quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích cố đô Huế, giai đoạn 1996 – 2010, trong đó xác định những định hướng và yêu cầu cơ bản, đồng thời xác định những mục tiêu và biện pháp chủ yếu cho việc thực thi những nội dung đã nêu trong quy hoạch. Mục tiêu cơ bản và dài hạn của Dự án thể hiện trên cả hai phương diện: Bảo tồn di sản văn hoá Cố đô Huế; và, phát huy mọi giá trị quý giá của Di sản  văn hoá Cố đô Huế bao gồm giá trị di sản văn hoá vật chất, giá trị di sản văn hoá tinh thần và giá trị di sản văn hoá môi trường cảnh quan đô thị và thiên nhiên trong việc giáo dục giữ gìn truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc và nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân.

Có thể nói, Quyết định 105/QĐ-TTg là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để cố đô Huế triển khai thực hiện chiến lược bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trong suốt 15 năm đầu tiên sau khi Huế được công nhận là Di sản thế giới, và cũng là cơ sở để Chính phủ ban hành Quyết định 818/QĐ-TTg phê duyệt dự án điều chỉnh Quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị di tích cố đô Huế, 2010-2020.

Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế và Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), công cuộc bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã được triển khai và đạt kết quả to lớn. Di sản văn hoá Huế đã vượt qua giai đoạn cứu nguy  khẩn cấp và đang từng bước được hồi sinh, diện mạo ban đầu của một Cố đô lịch sử dần dần được hồi phục. Theo đánh giá của UNESCO, công cuộc bảo tồn di tích Huế hiện đang chuyển sang giai đoạn ổn định và phát triển bền vững. Đặc biệt, việc bảo tồn các giá trị di sản văn hóa đã luôn gắn chặt với quá trình khai thác, phát huy và tạo điều kiện cho việc phát triển kinh xã hội của tỉnh và khu vực miền Trung, trọng tâm là kinh tế du lịch, dịch vụ.

Những kết quả quan trọng ấy được thể hiện trên các mặt: Bảo tồn, trùng tu di tích; bảo tồn văn hóa phi vật thể; bảo tồn, tôn tạo cảnh quan môi trường các khu di sản; hợp tác quốc tế, ứng dụng thành tựu khoa học bảo tồn và đào tạo nguồn nhân lực; phát huy giá trị di sản.

Phó thủ tướng trần lưu quang rất quan tâm đến di sản cung đình Huế.

Về công tác bảo tồn, trùng tu di tích:
Đây là một trong những hoạt động cơ bản nhất của công tác bảo tồn di sản Huế trong những năm qua, cũng là lĩnh vực được đầu tư lớn nhất về kinh phí và chất xám . Những thành tựu chính trên lĩnh vực này là:

Hầu hết các di tích đều được bảo quản cấp thiết, bằng các biện pháp chống dột, chống sập, chống mối mọt, chống cây cỏ xâm thực, gia cố  và thay thế các bộ phận bị lão hóa . . . nhờ vậy mà trong điều kiện thiên tai khắc nghiệt xảy ra liên tiếp, các di tích vẫn được bảo tồn và kéo dài tuổi thọ.

Đã có khoảng 130 công trình di tích lớn nhỏ đã được đầu tư trùng tu, bảo tồn, trong đó tiêu biểu là: Ngọ Môn, Điện Thái Hòa, Hiển Lâm Các, cụm di tích Thế Miếu, cung Diên Thọ, Duyệt Thị Đường, cung Trường Sanh, hệ thống Trường lang (Tử Cấm Thành), lầu Tứ Phương Vô Sự, Đông-Tây Khuyết Đài, điện Long An (Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế), cung An Định, tổng thể đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc (khu vực đàn chính), tổng thể lăng Gia Long, Minh Lâu, Điện Sùng Ân, Hữu Tùng Tự, Bi đình, Hiển Đức Môn (lăng Minh Mạng), Điện Hòa Khiêm, Minh Khiêm Đường, Ôn Khiêm Điện, Xung Khiêm Tạ, Dũ Khiêm Tạ, Bửu thành (lăng Tự Đức), Thiên Định Cung, Bi Đình (lăng Khải định), Chùa Thiên Mụ, Cung An Định, 10 cổng Kinh Thành và Quan Tượng Đài, sông Ngự Hà… Hiện nay, lăng Gia Long, lăng Đồng Khánh, lăng Thiệu Trị và lăng Tự Đức cũng đang được triển khai trùng tu nhiều hạng mục sau khi các dự án trùng tu được phê duyệt.

Cơ sở hạ tầng các khu di tích như: Hệ thống đường, điện chiếu sáng khu vực Đại Nội, Quảng trường Ngọ Môn- Kỳ Đài, điện đường đến các lăng Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức, Khải Định, Đồng Khánh… đã được đầu tư, nâng cấp. Hệ thống sân vườn sân vườn các di tích Hưng Miếu, Thế Miếu, cung Diên Thọ, Cung Trường Sanh, vườn Cơ Hạ, vườn Thiệu Phương, cung An Định, hệ thống phòng chống hỏa, chống sét, hệ thống nhà vệ sinh trong di tích đã cơ bản được tu bổ hoàn nguyên hoặc xây dựng hoàn thiện.

Điều quan trọng là, các di tích đã được tu bổ đều đảm bảo các nguyên tắc khoa học về bảo tồn của quốc gia và thỏa mãn các điều luật của Hiến chương, Công ước quốc tế mà Chính phủ ta đã công nhận và tham gia, được các nhà khoa học trong nước và quốc tế đánh giá cao.

Cũng chính qua thực tiễn của công cuộc bảo tồn tôn tạo di tích Huế mà đội ngũ cán bộ, kỹ thuật viên của Trung tâm đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu và phong phú, đặc biệt đã nắm vững cả 2 mặt cốt yếu của phương pháp trùng tu khoa học: Đó là phương pháp luận khoa học và kỹ năng thực hiện, vì vậy các hoạt động trùng tu đã đem lại những hiệu quả tích cực.

Công tác bảo tồn, trùng tu di tích đã đem lại những hiệu quả tích cực về mặt kinh tế và xã hội: góp phần quan trọng trong việc chỉnh trang diện mạo đô thị và khu dân cư, thu hút du khách đến Huế, tăng các nguồn doanh thu du lịch và dịch vụ, tạo ra sự quan tâm đặc biệt của các tầng lớp xã hội đối với di sản văn hóa truyền thống …

Tổng giám đốc UNESCO thăm khu di tích hoàng thành năm 2013 và 2023.

Về công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể
Các di sản văn hóa phi vật thể của Huế hết sức phong phú và đa dạng. Tại Dự án Quy hoạch, Bảo tồn và Phát huy Giá trị Di tích Cố đô Huế, 1996-2010 và dự án điều chỉnh đến năm 2020, việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trên chủ yếu được xác định trong phạm vi văn hóa cung đình thời Nguyễn, gồm: Thơ văn Hán Nôm trên di tích, văn bia, thơ Ngự chế được trang trí ở các cung điện, các hoa văn họa tiết trang trí mỹ thuật gắn liền với di tích kiến trúc, lễ nhạc Cung đình, múa hát Cung đình, lễ hội Cung đình, tuồng Ngự, ca Huế …  .

Tính từ năm 1996 đến nay, trên lĩnh vực này, Trung tâm đã tổ chức hàng chục công trình nghiên cứu khoa học, tổ chức biên soạn và xuất bản nhiều công trình nghiên cứu khoa học có giá trị, tổ chức đào tạo nhân lực… Các kết quả chủ yếu bao gồm:

Tổ chức trên 20 cuộc hội thảo, hội nghị quốc gia và quốc tế về chủ đề nghiên cứu, bảo tồn các tài sản văn hóa phi vật thể, như Hội thảo bảo tồn và phát huy giá trị Tuồng cung đình Huế, Hội thảo bảo tồn và phát huy giá trị Di sản Hán Nôm Huế, Hội thảo bảo tồn âm nhạc cung đình Huế, hội thảo tổng kết dự án Bảo tồn Nhã nhạc cung đình Huế..vv.

Tổ chức nghiên cứu, biên soạn, dịch thuật và xuất bản hơn 30 công trình về Di sản văn hóa Huế và công cuộc bảo tồn, trong đó có những công trình đoạt giải thưởng cao của trung ương và địa phương, như Khoa cử và khoa bảng triều Nguyễn, Thần kinh nhị thập cảnh-Thơ vua Thiệu Trị, Kinh thành Huế, Huế-Di sản văn hóa thế giới, Âm nhạc cung đình Huế, Tuồng cung đình Huế, Khảo cổ học tại Di tích Cố đô Huế (1999-2003), Di sản văn hóa Huế-Nghiên cứu & bảo tồn (4 tập), Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế (9 tập), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên (10 tập)…

Tổ chức sưu tầm, nghiên cứu ứng dụng và bảo tồn được hàng chục tác phẩm âm nhạc cung đình quan trọng như 10 nhạc khúc trong lễ Tế Giao, 9 nhạc khúc trong Tế Liệt miếu, 5 nhạc khúc trong lễ Đoan Dương, Vạn Thọ và Tết Nguyên Đán, 37 nhạc khúc diễn tấu với dàn Tiểu nhạc, 10 nhạc khúc diễn tấu trong các đợt vua ngự, 14 nhạc khúc kèn dùng trong Đại nhạc… Sưu tầm nghiên cứu và dàn dựng thành công 15 điệu múa Cung đình tiêu biểu như Trình tường tập khánh, Tứ linh, Nữ tướng xuất quân, Bát Dật… Nghiên cứu dàn dựng nhiều vở tuồng cung đình cổ và 25 trích đoạn tuồng phục vụ cho lễ hội và giao lưu văn hóa nghệ thuật…

Chính nhờ những nỗ lực trên mà tháng 11 năm 2003, UNESCO đã chính thức công nhận Nhã nhạc Cung đình Huế là Kiệt tác Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại (từ 2008 là Di sản Văn hóa Phi vật thể Đại diện nhân loại). Đây là một sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện tầm vóc và sự phong phú, toàn diện của di sản văn hóa Huế trên cả hai lĩnh vực văn hóa vật thể và phi vật thể.

Nghiên cứu phục hồi một số lễ hội cung đình quan trọng nhất của triều Nguyễn như lễ Tế Giao, lễ tế Xã Tắc, lễ Truyền Lô- Vinh quy bái tổ (lễ vinh danh Tiến Sĩ dưới thời Nguyễn), lễ hội thi Tiến sĩ Võ; những lễ hội mang màu sắc văn hóa cung đình như Huyền thoại sông Hương, Đêm Hoàng cung, Hành trình mở cõi, Thiên hạ thái bình …

Đặc biệt là trong các dịp lễ hội Festival Huế, các loại hình nghệ thuật Cung đình, bao gồm cả lễ hội, âm nhạc, nghệ thuật thư pháp, nghệ thuật ẩm thực, trò chơi… đã thực sự đóng vai trò trung tâm trong các hoạt động của Thừa Thiên Huế, trở thành đại diện tiêu biểu của văn hóa Huế trong sự đối thoại, giao lưu với bạn bè quốc tế.

Một số lễ hội cung đình được nghiên cứu phục dựng.

Khai thác và phát huy giá trị các di sản
Khai thác và phát huy giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể Di tích Cố đô Huế là giải pháp tốt nhất để bảo tồn di tích, làm cho di tích sống, hòa vào cuộc sống của xã hội đương đại, có tác dụng giáo dục và nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế, tạo nguồn sinh lợi để bảo tồn di tích. Đặc biệt là đầu tư tu bổ để phát triển ngành công nghiệp du lịch và các loại dịch vụ, tạo cơ sở để giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Việc khai thác hợp lý làm cho di tích thoát khỏi sự lãng quên mà Luật Di sản Văn hóa đã chỉ rõ là hướng đến xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích. Phát triển du lịch là xu thế tất yếu của xứ sở giàu di sản văn hóa này.

Đây cũng là lĩnh vực thể hiện kết quả trực tiếp của công tác bảo tồn di sản. Nhờ những thành tựu của công tác bảo tồn mà Di sản văn hóa Huế đã được quảng bá hình ảnh rộng rãi trên toàn thế giới, tạo nên sức hút to lớn của Huế đối với du khách thập phương và góp phần làm cho ngành du lịch dịch vụ của Thừa Thiên Huế trong đã có những bước phát triển nhanh chóng, thực sự đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Riêng tại khu di tích Huế, doanh thu trực tiếp từ năm 1996 đến năm 2018 đã đạt hơn 2.200 tỷ đồng, doanh thu từ hoạt động dịch vụ đạt hơn 150 tỷ đồng. Chính nguồn thu này đã góp phần rất quan trọng trong việc tái đầu tư cho hoạt động bảo tồn di sản và cải thiện đời sống của những người làm công tác bảo tồn.

Tuy nhiên, để phát huy hơn nữa hiệu quả của việc phát triển hoạt động dịch vụ ngay trong địa bàn khu di sản Huế, Trung tâm đã xây dựng một đề án tổng thể về quy hoạch và phát triển hoạt động dịch vụ đến năm 2020, ngày 5/12/2012, Chủ tịch UBND tỉnh TTH đã ra quyết định phê duyệt đề án này. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng để Trung tâm đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ, đưa doanh thu của hoạt động này chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong cơ cấu doanh thu của đơn vị .

Xác định rõ di sản văn hóa là thế mạnh của vùng đất, việc bảo tồn di sản văn hóa cố đô Huế phải làm nền tảng cho kinh tế du lịch dịch vụ phát triển nên từ khi triển khai dự án Quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị di tích cố đô Huế, 1996-2010, Trung tâm đã luôn luôn chú ý tạo điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch và các hoạt động dịch vụ liên quan các cơ hội để phát triển; chủ động tham gia các diễn đàn quảng bá cho ngành du lịch, ký kết hợp tác với các đơn vị lữ hành đưa khách đến cố đô Huế, liên kết hợp tác với Hiệp hội Du lịch, Hiệp hội khách sạn của tỉnh, chủ động tổ chức các hoạt động kích cầu để thu hút du khách. Từ năm 2012 đến nay, Trung tâm đã thường xuyên tổ chức hoạt động quảng bá và kích cầu du lịch, nhằm thu hút ngày càng tăng số lượng du khách đến thăm cố đô Huế, thăm các di sản văn hóa.

Bên cạnh đó, việc khai thác và phát huy giá trị di sản cũng đã tạo điều kiện cho công tác phục hồi các ngành nghề thủ công, các nghi lễ và nghệ thuật truyền thống. Các nghề đúc đồng, sơn thếp, sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, làm diều Huế, may áo dài, thêu, chằm nón lá, làm kẹo mè xững, tôm chua, nghệ thuật ẩm thực, ca Huế… đã có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ để đáp ứng các nhu cầu của ngành du lịch. Doanh thu từ hoạt động du lịch dịch vụ luôn tăng trưởng với tốc độ rất nhanh. Từ năm 2012-2017, tổng doanh thu ngành du lịch dịch vụ của tỉnh đã đạt tỷ trọng từ 48% -55% GDP của toàn tỉnh.

Di sản văn hóa cũng trở thành hạt nhân cho các hoạt động và sự kiện văn hóa của vùng đất cố đô. Với chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển”, Festival Huế được tổ chức vào các năm chẳn, cùng với Festival Nghề truyền thống tổ chức vào các năm lẻ đã tạo nên một thương hiệu đặc biệt, có tiếng vang và sức thu hút to lớn không chỉ trong nước mà còn trên bình diện quốc tế.

Từ những thành tựu về bảo tồn và phát triển văn hóa, du lịch, tỉnh Thừa Thiên Huế đã có những sự điều chỉnh kịp thời trong cơ cấu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Từ cơ cấu Công nghiệp – Nông nghiệp – Dịch vụ chuyển thành Dịch vụ – Công nghiệp – Nông nghiệp, trong đó xác định phát triển các ngành dịch vụ có tính quyết định hàng đầu. Di sản văn hóa giai đoạn này hơn bao giờ hết đã trở thành hạt nhân và động lực cho sự phát triển.

Các hội nghị hội thảo khoa học và các diễn đàn kết nối di sản với cộng đồng được tổ chức thường xuyên.

Một số bài học kinh nghiệm
Công cuộc bảo tồn và phục hưng di sản Huế mấy chục năm qua đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, mà tiêu biểu là:

Bài học về việc huy động các nguồn lực cho công tác bảo tồn: Có thể nói đó là việc vận động sự ủng hộ về vật chất và tinh thần của các tổ chức quốc tế, nguồn lực từ trung ương và địa phương, từ các cá nhân và tổ chức phi chính phủ… đã được tiến hành thường xuyên, liên tục và thực sự đã góp phần quan trọng nhất để thực hiện thành công công tác bảo tồn, phục hưng các di sản văn hóa. Đây cũng là quá trình lôi kéo cộng đồng, dư luận tham gia và ủng hộ cho công cuộc bảo tồn các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của cố đô Huế.

Bài học về việc giải quyết mâu thuẩn giữa bảo tồn và phát triển: Di sản phong phú của cố đô Huế không chỉ tạo nên phong cách, nét đặc biệt của văn hóa Huế, con người Huế mà còn là nguồn lực cho sự phát triển. Tuy nhiên việc sử dụng nguồn lực ấy như thế nào cũng là vấn đề thường xuyên gây nên các cuộc tranh luận giữa các nhà nghiên cứu và trong cộng đồng. Các giải pháp về quy hoạch với tầm nhìn lâu dài cùng cách triển khai đồng bộ, lôi kéo sự tham gia của cộng đồng cùng chính quyền từ trung ương đến cơ sở sẽ hạn chế được nhiều xung đột hay bất cập không đáng có.

Đó còn là bài học về công tác đào tạo con người- yếu tố then chốt tạo nên mọi thành công: phải luôn quan tâm chú ý để lựa chọn, đào tạo những con người có tâm, có tầm để phục vụ cho công việc, cần không ngừng chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho những người làm công tác giữ gìn và bảo tồn di sản. Muốn làm được điều trên cần gắn chặt việc bảo tồn với phát huy giá trị di sản để tạo ra nguồn lực, sức mạnh cho sự nghiệp bảo tồn di sản.

Học sinh được miễn phí trải nghiệm tham quan học tập trong khu di sản.

Thay lời kết
49 thực hiện công cuộc bảo tồn và phục hưng di sản văn hóa Huế đã để lại nhiều kinh nghiệm và bài học quý giá. Đó là bài học về sự nhận thức vai trò đặc biệt của di sản trong đời sống hiện tại, về sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp các ngành từ trung ương đến cơ sở, là bài học về việc phát huy nội lực vốn có, về việc huy động rộng rãi sự ủng hộ giúp đỡ của cộng đồng quốc tế với vai trò nổi bật của UNESCO, về việc kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và phát triển, giữa lợi ích của nhà nước và cộng đồng các tầng lớp xã hội…

49 năm qua, đặc biệt là 31 năm kể từ khi trở thành Di sản thế giới cũng  là thời gian đánh dấu những bước trưởng thành vượt bậc của đội ngũ những người làm công tác bảo tồn cả về trình độ chuyên môn và kinh nghiệm, cũng là quá trình bồi đắp thêm nhiệt huyết tình yêu đối với di sản văn hóa. Đến nay, Huế được UNESCO đánh giá là địa phương đi đầu của Việt Nam về bảo tồn di sản, có khả năng xây dựng thành một trung tâm chuẩn mực về chuyển giao công nghệ bảo tồn tại khu vực châu Á- Thái Bình Dương.

49 năm qua thực sự là chặng đường khó khăn gian khổ với rất nhiều thử thách, nhưng cũng là chặng đường gắn liền với những thành tựu to lớn của sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa Huế. Trong chặng đường trước mắt và tương lai lâu dài, di sản văn hóa chắc chắn vẫn sẽ là nền tảng, là hạt nhân cho sự phát triển toàn diện, bền vững của cố đô Huế.

Và điều đó đã được khẳng định tại Nghị quyết số 54-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 10/12/2019 “Về xây dựng và phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2030, tầm nhìn 2045”, trong đó chỉ rõ, dựa trên nền tảng của Văn hóa, di sản, bảo vệ đặc trưng văn hóa Huế và bảo vệ môi trường tự nhiên chính là Con Đường để phát triển đúng hướng, nhanh và bền vững của Cố đô Huế.

Bài viết: TS. Phan Thanh Hải/Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Thừa Thiên huế.

Ảnh trong bài: Bảo Minh, Nguyễn Tấn Anh Phong, Lê Đình Hoàng và một số nguồn.