Thứ Ba, Tháng 4 7, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Đà Nẵng chuyển đổi mô hình phát triển: Khoa học và Công nghệ – Nền tảng, động lực để tăng trưởng bền vững



ĐNA -

(Đà Nẵng). UBND thành phố Đà Nẵng vừa có quyết định phê duyệt danh mục 23 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp thành phố năm 2026. Đây là căn cứ quan trọng để tuyển chọn, thẩm định phê duyệt kinh phí (sự nghiệp khoa học và công nghệ) để triển khai thực hiện. Quyết định phê duyệt cũng làm rõ phương án quản lý và ứng dụng kết quả của từng nhiệm vụ.

Đây là lần đầu tiên, danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp thành phố, của Đà Nẵng bao hàm các lĩnh vực và nơi triển khai trên không gian mới (Đà Nẵng, Quảng Nam). Trong đó, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng (1997-2025) ; cũng là đề tài – công trình nghiên cứu khoa học khách quan về cột mốc tái lập Đảng bộ tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng (7/2025), được phê duyệt lần này.

Đại hội đại biểu Đảng bộ Đà Nẵng lần thứ nhất (tháng 9/2025), cột mốc đánh dấu 2 Đảng bộ Đà Nẵng-Quảng Nam tái hợp nhất, sau 18 năm chia tách. Ảnh: T.Ngọc.

Công trình bắt đầu từ thời điểm Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, bắt đầu chia tách (từ 1/1/ 1997) đến thời điểm sáp nhập 2 đơn vị hành chính (2025), 2 Đảng bộ lại về chung một nhà. Cơ sở dữ liệu của công trình (phông tư liệu qua nhiều thời kỳ, hình ảnh, video…), sẽ được đầu tư làm phim tư liệu “Đảng bộ tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nằng – Dấu ấn chặng đường 1997-2025”, đề cương bản thảo tập sách “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng 1975-2025”.

Công trình đặc biệt: Dòng thơ đi sứ của Sứ thần Đất Quảng
Đề tài xác định rõ “Sứ thần Đất Quảng giai đoạn triều Nguyễn” và “Đất Quảng được “giới thuyết” trong phạm vi là thành phố Đà Nẵng sau hợp nhất từ tháng 7/2025. Dòng thơ – văn đi sứ của sứ thần Đất Quảng là đối tượng được nghiên cứu và làm rõ chuỗi giá trị lịch sử, văn hóa, tư tưởng (qua những tác phẩm sáng tác trong lúc làm nhiệm vụ đi sứ của các Cụ). Từ đó, chứng minh năng lực của Quan nhân Đất Quảng, khi thực hiện nhiệm vụ quốc gia và đối ngoại quốc tế (tài năng khoa cử quan trường, tinh thần thực tiễn, tư duy canh tân mạnh mẽ, cách ứng xử linh hoạt, nghệ thuật ngoại giao và kỹ năng giao tiếp liên văn hóa…).

Nhất là trong bối cảnh tiếp biến văn hóa Việt – Hoa – phương Tây thế kỷ XIX. Từ  thơ văn đi sứ, các Cụ cũng phản ánh và góp phần làm sáng tỏ: Quá trình hiện đại hóa của văn học và tư tưởng Việt Nam. Nghiên cứu vị thế dòng văn học chữ Hán của của sứ thần Đất Quảng vừa phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp của trí thức Đất Quảng, vừa tổng kết thành bài học kinh nghiệm. Nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, tư tưởng của các Cụ vẫn còn tính thời sự khi liên hệ với thời đại ngày nay.

Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng tổ chức đề xuất công trình, khuyến nghị xây dựng cơ sở dữ liệu trên nền tảng số hóa (bao gồm từ bản gốc chữ Hán; bản dịch tiếng Việt; phần chú thích, bình luận; hình ảnh minh họa (bản thảo, tranh ảnh liên quan) về các văn bản thơ văn đi sứ của sứ thần Đất Quảng). Sản phẩm của đề tài là chất liệu để thực hiện phim tài liệu khoa học, giới thiệu hành trình đi sứ và giá trị thơ văn đi sứ của sứ thần (phát trên sodng truyền hình địa phương hoặc nền tảng số); kết hợp xây dựng chuyên đề giáo dục địa phương về lịch sử – văn hóa.

Chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, cảnh báo sớm thiên tai , phát triển bền vững kinh tế duyên hải
Theo danh mục (đã được phê duyệt), Đà Nẵng sẽ đầu tư cho đề tài “Thiết lập mô hình dự báo sớm thiên tai trên địa bàn dựa trên công nghệ tiên tiến (AI, cảm biến thông minh, loT, LoRa…)”. Đề tài này tiến hành các bước thu thập, xử lý, dữ liệu thiên tai, tích hợp thành hệ thống cơ sở dữ liệu của thành phố (có đối chiếu cơ sở dữ liệu quốc gia về khí tượng thủy văn, kinh tế – xã hội, cơ sở hạ tầng), cơ quan chuyên môn sẽ khai thác dữ liệu, chủ động đề xuất dự báo, đưa ra các mô hình (kịch bản) cảnh báo sớm những hình thái rủi ro do thiên tai trên địa bàn.

Các bãi biển đẹp Đà Nẵng, sau mỗi trận mưa lũ, trở nên hoang tàn, ngập rác thải (ảnh chụp mùa thiên tai 2025). Ảnh: T.Ngọc.

Với hệ thống này Đà Nẵng sẽ làm giàu tài nguyên kho dữ liệu khí tượng thủy văn, thiên tai, kinh tế – xã hội, cơ sở hạ tầng; đồng thời, hoàn thiện hệ thống theo dõi, phát hiện yếu tố bất thường, đồng thời, có cơ sở để phân tích, đánh giá về ứng dụng công nghệ số và loT, đề xuất mô hình mới, đưa ra những dự báo, cảnh báo sớm các mức độ rủi ro thiên tai, hỗ trợ kịp thời và linh hoạt nhiệm vụ phòng chống và ứng phó, giảm thiểu các tác động tiêu cực. Đề tài do Viện Công nghệ quốc tế DNIIT, Đại học Đà Nẵng đề xuất.

Cùng có chung mục tiêu cảnh báo sớm, chủ động phòng-tránh các nguy cơ, tác động trên diện rộng, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đề xuất “Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát, cảnh báo và kiểm soát thủy sinh vật ngoại lai xâm hại tại các lưu vực sông góp phần phát triển bền vững thành phố Đà Nẵng”; Chi cục Biển đảo và Thủy sản đề xuất đề tài “Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học các hệ sinh thái vùng biển ven bờ, phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển thành phố Đà Nẵng”.

Trong bối cảnh không gian được mở rộng sau sáp nhập, Đà Nẵng sẽ “Nghiên cứu sử dụng nguồn nạo vét nhiễm mặn dọc sông Trường Giang đến Cửa Lở, làm cát xây dựng ; số hóa dữ liệu (nguồn nạo vét này), phục vụ công tác quản lý và khai thác tại thành phố Đà Nẵng”.

Bảo tồn di sản văn hóa – phát triển du lịch cộng đồng, du lịch khám phá, trải nghiệm
Lần đầu tiên, Làng chài Tam Thanh (trước đây là thôn Hòa Trung, xã Tam Thanh, thành phố Tam Kỳ, tinh Quảng Nam; nay là phường Quảng Phú, thành phố Đà Nằng) sẽ có Bảo tàng làng chài – Bảo tàng số; đáp ứng yêu cầu bảo tồn văn hóa và phát triển du lịch cộng đồng. Đặc biệt sẽ là một điểm đến thỏa mãn các tiêu chí giáo dục trực quan, giáo dục số, giúp thế hệ ngày nay, nhất là các em học sinh, sinh viên, du khách cùng nhân dân biết về nguồn gốc lịch sử, văn hóa địa phương. Góp phần thu hút, quảng bá hình ảnh du lịch đặc thù miền duyên hải đến du khách trong và ngoài thành phố.

Làng chài Tam Thanh còn nổi tiếng với không gian “Làng Bích họa đầu tiên của duyên hải Việt Nam”. Nguồn ảnh: danangfantasticity.com và ivivu.com

Bảo tàng làng chài có không gian trưng bày khoảng 500 m2, trong đó phần trong nhà 200m2, còn lại là phần ngoài trời, bài trí công cụ, dụng cụ, sản phẩm, vật phẩm gắn bó mật thiết và liên quan đến làng chài Tam Thanh bao đời nay. Tại không gian bảo tồn, không gian trưng bày, nghiệp vụ thuyết minh sẽ được tự động hóa (bằng công nghệ số, như số hóa không gian 3D, AR/VR, công nghệ số hóa Panorama 360 về làng chài Tam Thanh). Sử dụng công nghệ mới (thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo) đề tài tạo thêm một bản sao số (digital twin) của bảo tàng.

Thông qua thiết bị kết nối Internet, dự án còn giới thiệu Tour du lịch VR360, giúp người dùng tương tác, khám phá, tham quan các địa điểm văn hóa, lịch sử tại Làng chài Tam Thanh với các điểm đến : bãi biển Hạ Thanh (Tam Thanh, Tam Kỳ, Quảng Nam cũ), Lăng Đức ông Nam Hải, Làng Bích họa Tam Thanh, di tích vườn Miếu, làng nghề nước mắm truyền thống và các địa điểm du lịch khác (của Làng nghệ thuật cộng đồng Tam Thanh). Hệ thống tham quan ảo, góp phần giới thiệu di sản, đáp ứng nhu cầu trải nghiệm tham quan qua không gian số.

Cổng thông tin – Bảo tàng số làng chài Tam Thanh, tích hợp đầy đủ sản phẩm từ đề tài (chatbot, phim 3D, tour VR360, cảnh quan Panorama 360…) để giới thiệu và quảng bá hình ảnh Tam Thanh đến du khách trong nước và quốc tế. Cổng thông tin làng chài này được phát triển, theo hướng tích hợp dữ liệu của cả làng chài Tam Thanh, các địa phương lân cận (Bàn Thạch, Hương Trà, Tam Kỳ). Du khách cũng có thể hỏi/đáp Chatbot (sử dụng trí tuệ nhân tạo) để được thông tin thêm, giải đáp về du lịch phường Quảng Phú, các địa bàn tương cận. UBND phường Quảng Phú, cùng Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch sẽ thực hiện đề tài.

Bên trong, bảo tàng có một không gian chiếu phim 3D, (rộng khoảng 50 m2), luân phiên trình chiếu phim về lịch sử làng chài, sự gắn kết giữa người dân và biển đảo làng chài Tam Thanh, cũng như hình ảnh nối kết đồng bộ tư liệu/dữ liệu (ảnh, video, âm thanh, tư liệu lịch sử…) về văn hóa vùng biển, văn hóa làng chài (lễ hội, di tích, hiện vật, công cụ, dụng cụ làng nghề).

Cũng với định hướng bảo tồn di sản, thúc đẩy phát triển du lịch bền vững tại thành phố Đà Nẵng; TS. Nguyễn Thị Bích Vân (Giảng viên Đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh) đề xuất đề tài xây dựng sản phẩm du lịch làng văn hóa làng cổ Lộc Yên (trước đây thuộc xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam cũ). Làng cổ Lộc Yên, là 1 trong 4 làng cổ tiêu biểu của Việt Nam (đã được xếp hạng cấp Di tích quốc gia), các bậc tiền nhân-tiền hiền đến khai khần lập làng vào thế kỷ XVIII (các chúa Nguyễn bắt đầu mở rộng cõi vào phương Nam, lên vùng Tây). Tên buổi đầu là thôn Lộc An.

Di tích quốc gia (từ 2019) : Làng cổ Lộc Yên, nay là xã Thạnh Bình, thành phố Đà Nẵng. Nguồn ảnh: danangfantasticity.com và ivivu.com

Đề tài cũng đề xuất bộ giải pháp tổng thể, dựa trên giá trị văn hóa (bao hàm giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể), – lịch sử – kiến trúc truyền thống, kiến trúc (Lộc Yên nổi tiếng với 8 ngôi nhà cổ được làm bằng gỗ mít, thiết kế 3 gian và 2 chái theo kiểu nhà rường) và cảnh quan làng cổ Lộc Yên. Theo hướng du lịch xanh hiện đại, nơi đây hội đủ điều kiện phát triển mô hình du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm di sản, hòa mình vào không gian và sinh hoạt của dân bản địa.

Một nội dung quan trọng được TS. Nguyễn Thị Bích Vân đề cập, là cần nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng tổ chức, quản lý và khai thác hoạt động du lịch tại làng cổ Lộc Yên (từ tài nguyên, hạ tầng, nhân lực, đến các khâu thị trường, quản lý, khai thác, …), xác định rõ hạn chế lẫn cơ hội và nhu cầu phát triển du lịch văn hóa trong bối cảnh hiện nay. Cùng gợi ý chuỗi giải pháp về quy hoạch, hạ tầng, nhân lực, truyền thông, chính sách.. Đặc biệt chú trọng đến vai trò là chủ thể của cộng đồng cư dân tại địa phương…

Đề tài cũng sẽ thiết lập cơ sở dữ liệu số (có hàm lượng dữ liệu khoa học cao, đảm bảo khả năng lưu trữ và khai thác tốt để phục vụ du lịch, giáo dục, nghiên cứu lâu dài) cho các nhóm di sản đặc trưng của làng cổ Lộc Yên: Di sản sinh thái – cảnh quan: hệ thống cây xanh, thủy hệ, địa hình, cấu trúc không gian làng; Di sản kiến trúc nhà vườn cổ và văn hóa vật thể: kiến trúc dân gian, vật liệu, nghề truyền thống, công trình tín ngưỡng – tôn giáo; Di sản văn hóa phi vật thể: phong tục, lễ hội, nghệ thuật dân gian, tri thức bản địa và ký ức cộng đồng.

Tại khu vực trung tâm (nội đô), liên quan đến du lịch, có đề tài “Nghiên cứu thí điểm hệ thống tín hiệu mặt đường thông minh , sử dụng bê tông xuyên sáng, tăng cường an toàn giao thông và hiệu quả du lịch, tại vạch qua đường cho người bộ hành ở thành phố Đà Nẵng”.

TS.Nguyễn Thanh Hồng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Đà Nẵng (hàng trước, bên trái) và PGS.TS Lê Thành Bắc, Phó Giám đốc Đại học Đà Nẵng, ký kết hợp tác. Đà Nẵng chuyển đổi mô hình phát triển bền vững lấy khoa học – công nghệ làm động lực tăng trưởng. Ảnh: T.Ngọc.

Quốc Bảo Sâm Ngọc Linh và Tầm soát sớm an nguy sức khỏe cộng đồng
Có đến 4 đề tài, công trình về sản phẩm sâm Ngọc Linh – báu vật của Trường Sơn đại ngàn, từng được phong là Quốc bảo Việt Nam : Tạo lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận cho các sản phẩm sâm Ngọc Linh của thành phố Đà Nẵng; Nghiên cứu mở rộng phạm vi bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Ngọc Linh” cho sản phẩm sâm củ, trên địa bàn thành phố Đà Nang; Nghiên cứu phát triển các  sản phẩm thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, từ tinh chất chiết xuất của sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv) ; Nghiên cứu phát triển và sản xuất bộ sản phẩm dược mỹ phẩm từ sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv).

Đặc biệt, theo đề xuất từ Trường Đại học Y Hà Nội, lần đầu tiên, Đà Nẵng triển khai một đề tài thuộc lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực Y: “Can thiệp và đánh giá hiệu quả  đào tạo, chuyển giao kỹ thuật nâng cao chất lượng ghi chép nguyên nhân tử vong trong cộng đồng tại thành phố Đà Nằng giai đoạn 2026-2028, phục vụ công tác phòng bệnh và nâng cao sức khỏe nhân dân trong giai đoạn tiếp theo”.

Bằng phương pháp  phân tích khoa học các báo cáo hiện trạng ghi chép về nguyên nhân tử vong (từ năm 2005 đến năm 2025, có đối chiếu nguồn sổ A6, dân số kế hoạch hóa gia đình và Tư pháp xã, phường); bao gồm cả phân tích sự thay đổi theo vùng địa lý và mức độ đô thị hóa. Phân tích mô hình và diễn biến thời gian đối với những trường hợp tử vong theo chương ICD-10 (International Classification of Diseases – 10th Revision, Phân loại thống kê quốc tế về bệnh tật và các vấn đề sức khỏe liên quan, phiên bản 10, do Tổ chức Y tế Thế giới – WHO – ban hành) , từ năm 2005 đến năm 2025 của thành phố Đà Nằng (Số lượng, tỷ lệ %, tỷ suất tử vong thô và chuẩn hóa tuổi, tỷ lệ % tử vong dưới 70 tuổi…). Qua đó, xác định những bệnh mới nổi (trong cộng đồng) và hướng kiểm soát đối với 18 nhóm bệnh; đề xuất giải pháp khắc phục tồn tại.

Sâm Ngọc Linh (cây, củ, và sản phẩm dược liệu) được giới thiệu tại nhiều sự kiện quảng bá – xúc tiến du lịch của Đà Nẵng. Năm 2026, lần đầu tiên, Đà Nẵng mở “Lễ hội Sâm Ngọc Linh và Dược liệu quốc tế”, từ 1 đến 3/8/2026 tại Phường An Hải (Công viên biển Đông), xã Trà Linh, xã Nam Trà My, khu du lịch Cổng Trời Đông Giang ; các địa điểm phối hợp tổ chức bao gồm Công viên APEC (phường Hải Châu),  xã Trà Leng, xã Trà Tập, các khu điểm du lịch khác. Ảnh: T.Ngọc.

Kịch bản tăng trưởng với động lực chính là khoa học, công nghệ, chuyển đổi s
Theo TS.Nguyễn Thanh Hồng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Đà Nẵng, ngoài 23 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp thành phố năm 2026, Sở xác định sẽ tiếp tục xây dựng các chương trình, đề án nghiên cứu khoa học mang tính đột phá, tập trung vào 11 nhóm ngành công nghệ chiến lược.

Bao gồm xây dựng các cơ sở nghiên cứu và phát triển các ngành công nghệ cao, chiến lược, công nghệ lõi, công nghệ nguồn, công nghệ số, công nghệ sinh học; từng bước tham gia sâu vào chuỗi giá trị công nghệ cao. Đẩy mạnh phát triển thị trường khoa học, công nghệ đồng bộ, hiệu quả, hiện đại, hội nhập; thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Thúc đẩy bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, phát triển và khai thác tài sản trí tuệ.

Chia sẻ về tầm nhìn của kịch bản tăng trưởng kinh tế và hoàn thành nhiệm vụ (2026), trong chuỗi các giải pháp chủ yếu, TS. Nguyễn Thanh Hồng nhấn mạnh: Sở xác định phải đổi mới căn bản về tư duy phát triển, về phương thức quản trị và phân bổ nguồn lực. Ưu tiên giải quyết hiệu quả các vấn đề trước mắt là nhằm tạo lại đà cho tăng trưởng.

Sở chú ý phát triển các thành phần kinh tế, trong đó, phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã năng động, hiệu quả; tăng cường liên kết giữa tổ chức kinh tế tập thể với các thành phần kinh tế khác. Kết hợp hài hoà, hiệu quả nguồn lực cho phát triển, tăng cường hợp tác công tư. Phát triển kinh tế, xã hội, môi trường là trung tâm, phát triển văn hóa là nền tảng. Từng bước, Sở sẽ thực hiện những cải cách chiến lược, dài hạn, chuyển đổi mô hình phát triển, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính./.

Trần Ngọc