Thứ Ba, Tháng 2 10, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Đại hội II của Đảng (1951) – Dấu mốc chiến lược trong tiến trình cách mạng Việt Nam



ĐNA -

Sau 16 năm kể từ Đại hội I (1935), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng đã diễn ra từ ngày 11 đến ngày 19/02/1951 tại căn cứ địa Việt Bắc, xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Với sự tham dự của 158 đại biểu chính thức và 53 dự khuyết, đại diện cho hơn 760.000 đảng viên, Đại hội đã đánh dấu bước ngoặt lớn khi quyết định công khai hoạt động của Đảng dưới tên gọi Đảng Lao động Việt Nam. Đại hội thông qua Chính cương, Điều lệ, Tuyên ngôn của Đảng, khẳng định đường lối kháng chiến gắn liền với kiến quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng và Tổng Bí thư Trường Chinh. Đây là bước trưởng thành quan trọng về tư tưởng, tổ chức và chiến lược của Đảng trong sự nghiệp cách mạng.

Đại hội II của Đảng (1951) – Dấu mốc chiến lược trong tiến trình cách mạng Việt Nam

Bước ngoặt lãnh đạo kháng chiến
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng diễn ra trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước sang năm thứ sáu, với biết bao hy sinh, gian khổ nhưng cũng đầy khí thế quật cường của toàn dân tộc. Những năm tháng ấy, đất nước như một chiến hào lớn, từ miền núi đến đồng bằng, từ tiền tuyến đến hậu phương đều thấm đẫm tinh thần kháng chiến toàn dân, toàn diện.

Việc công khai tên gọi Đảng Lao động Việt Nam không chỉ là bước chuyển về mặt tổ chức, mà còn là tuyên ngôn mạnh mẽ về vị thế chính trị của Đảng trước nhân dân và dư luận quốc tế. Đó là sự khẳng định chủ quyền tư tưởng, sự chính danh của lực lượng lãnh đạo cách mạng, truyền đi thông điệp rõ ràng về tầm vóc và bản lĩnh của Đảng trong thời điểm quyết định của lịch sử. Từ đây, các hoạt động tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, mở rộng mặt trận đoàn kết toàn dân được triển khai sâu rộng, tạo nền tảng chính trị vững chắc cho thắng lợi của kháng chiến.

Tại Đại hội, Báo cáo Chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày đã đúc kết một cách khoa học những bài học kinh nghiệm từ phong trào cách mạng suốt nhiều thập kỷ, đồng thời xác định rõ đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh là con đường đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế thời đại. Bên cạnh đó, Đại hội cũng đề ra những phương hướng cấp thiết: đẩy mạnh chiến tranh du kích, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, phát triển sản xuất trong vùng tự do, mở rộng công tác đối ngoại nhân dân…

Những quyết sách chiến lược tại Đại hội II đã nhanh chóng đi vào đời sống cách mạng. Phong trào thi đua yêu nước bùng nổ mạnh mẽ, từ những chiến dịch quân sự lớn đến từng xóm làng hậu phương; khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” vang lên khắp nơi, hun đúc tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Lực lượng vũ trang ngày càng lớn mạnh, thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng vững chắc, tạo nên thế và lực mới cho kháng chiến. Đặc biệt, việc xây dựng vùng tự do như một hình mẫu của chế độ mới đã tạo niềm tin mạnh mẽ trong nhân dân, khẳng định tính ưu việt của con đường cách mạng Việt Nam.

Từ góc độ lịch sử, Đại hội II chính là bước ngoặt về phương thức lãnh đạo của Đảng: từ bí mật sang công khai, từ những tổ chức rời rạc sang hệ thống chính trị thống nhất, chặt chẽ và hiệu quả. Đó là minh chứng rõ rệt cho sự trưởng thành toàn diện về bản lĩnh, trí tuệ, tư duy chiến lược và khả năng tổ chức của Đảng – yếu tố quyết định dẫn dắt dân tộc đi đến thắng lợi cuối cùng trong kháng chiến chống Pháp, và sau này là những chặng đường cách mạng đầy thử thách nhưng cũng hết sức vẻ vang.

Ý nghĩa của bước ngoặt này không chỉ dừng lại ở giai đoạn kháng chiến, mà còn đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành và phát triển của hệ thống chính trị độc lập, tự chủ, vì nhân dân, do nhân dân và phục vụ Nhân dân, một di sản mang tính chiến lược cho toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam hiện đại.

Tầm nhìn chiến lược: Kháng chiến đi đôi với kiến quốc
Một trong những điểm sáng nổi bật nhất của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II chính là tư duy chiến lược sâu sắc: kết hợp chặt chẽ giữa kháng chiến và kiến quốc. Trong khi cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp đang diễn ra ác liệt, Đảng ta đã sớm nhìn xa trông rộng, xác định rằng mục tiêu giành độc lập dân tộc không thể tách rời với việc chuẩn bị các nền tảng cho sự nghiệp xây dựng đất nước về lâu dài. Đây là bước phát triển lớn về nhận thức, vượt lên lối tư duy quân sự thuần túy, khẳng định vai trò của chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội trong cuộc cách mạng toàn diện.

Tư tưởng này là sự kế thừa và phát triển sáng tạo từ tư tưởng Hồ Chí Minh, người luôn nhấn mạnh rằng “độc lập dân tộc phải gắn với cơm no, áo ấm cho nhân dân, với sự phát triển bền vững của đất nước.” Ngay trong những ngày chiến đấu gian khổ, Người đã chỉ đạo phải xây dựng đời sống mới, tổ chức tốt sản xuất, phát triển giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân để tạo ra một hậu phương mạnh, chính là cái gốc để nuôi dưỡng kháng chiến lâu dài.

Trên thực tế, trong các vùng tự do, “pháo đài lòng dân” của cách mạng, hàng loạt phong trào đã phát triển mạnh mẽ: phong trào “Bình dân học vụ”, xây dựng trường học kháng chiến, đào tạo cán bộ; phong trào tăng gia sản xuất, xây dựng kho tàng, trạm xá, đội văn nghệ, báo chí cách mạng… tất cả đều phản ánh một xã hội vừa chiến đấu vừa kiến thiết. Nhân dân trở thành chủ thể của cả hai mặt trận: mặt trận súng đạn và mặt trận xây dựng tương lai.

Sự kết hợp hài hòa giữa chiến đấu và kiến thiết tạo nên sức mạnh tổng hợp, vừa tạo ra nguồn lực vật chất cho kháng chiến, vừa thắp lên ánh sáng về một tương lai tốt đẹp sau chiến tranh. Không chỉ củng cố niềm tin trong nước, tư duy chiến lược ấy còn nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam, một dân tộc không chỉ biết cầm súng mà còn chủ động vạch đường kiến tạo tương lai.

Đường lối kháng chiến gắn với kiến quốc cũng thể hiện rõ khát vọng phát triển bền vững và nhân văn của dân tộc. Độc lập không chỉ là “thoát ách ngoại xâm”, mà còn là “làm cho dân được ấm no, hạnh phúc”, hướng tới một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. Chính tầm nhìn đó đã tạo nên sự đồng thuận cao trong toàn xã hội, trở thành chất keo kết dính đại đoàn kết dân tộc, yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Lịch sử đã minh chứng tính đúng đắn và tầm vóc của tư duy chiến lược này. Khi tiếng súng kháng chiến kết thúc, chính những nền móng đã được chuẩn bị từ trong gian khó đã giúp đất nước nhanh chóng bước vào thời kỳ mới, ổn định chính trị, khôi phục sản xuất, mở rộng quan hệ quốc tế, xây dựng thể chế xã hội chủ nghĩa. Bài học quý báu về sự kết hợp giữa “chiến đấu” và “xây dựng” vẫn vẹn nguyên giá trị trong công cuộc phát triển và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Đại đoàn kết dân tộc và liên minh Đông Dương – Nguồn sức mạnh của thắng lợi cách mạng
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II, Đảng tiếp tục khẳng định và nâng tầm tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc như một nhân tố có tính chất sống còn đối với sự nghiệp cách mạng. Đoàn kết không chỉ là khẩu hiệu, mà được xây dựng thành chiến lược toàn diện, gắn kết mọi giai tầng xã hội: công nhân, nông dân, trí thức, tiểu thương, địa chủ yêu nước; đồng bào các dân tộc thiểu số, tôn giáo, kiều bào xa Tổ quốc… Mỗi người dân, dù ở vị trí nào, đều được xem là một phần trong khối thống nhất “ý Đảng – lòng dân”.

Chính sự kết hợp sức mạnh giữa các tầng lớp, không phân biệt địa vị, tôn giáo, dân tộc đã hình thành nên mặt trận toàn dân vững chắc. Tinh thần “mỗi người dân là một chiến sĩ”, từ đồng bằng sông Hồng đến dải rừng núi Việt Bắc, từ Nam Bộ thành đồng đến vùng ven đô Hà Nội… đã làm nên thế trận nhân dân vững chắc, đủ sức vượt qua những thử thách khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến trường kỳ.

Song hành với đại đoàn kết trong nước, Đại hội II còn thể hiện tầm nhìn chiến lược về liên minh ba dân tộc Việt Nam – Lào – Campuchia trong cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa thực dân. Trong bối cảnh Đông Dương cùng chịu sự áp bức của thực dân Pháp, việc thiết lập liên minh chiến đấu không chỉ là tất yếu lịch sử mà còn thể hiện tầm vóc quốc tế của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng “giúp bạn là giúp mình” đã định hình mối quan hệ phối hợp chặt chẽ về chính trị, quân sự, hậu cần giữa ba nước, góp phần tạo nên thế trận liên hoàn, hỗ trợ lẫn nhau hiệu quả trên toàn bán đảo Đông Dương.

Tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản mà Đảng ta kiên trì theo đuổi luôn đặt trên nền tảng tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của mỗi dân tộc. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lợi ích dân tộc và nghĩa vụ quốc tế, giữa chủ quyền thiêng liêng và tình cảm đoàn kết anh em. Nhờ đó, cách mạng Việt Nam không chỉ nhận được sự ủng hộ sâu rộng từ các nước bạn bè mà còn nâng cao uy tín trên trường quốc tế, trở thành điểm tựa tinh thần cho các phong trào giải phóng dân tộc khác trên thế giới.

Chính sách đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế được khẳng định tại Đại hội II đã chứng minh giá trị vững bền cả trong chiến tranh và hòa bình, đã tạo tiền đề vững chắc để Đảng ta xây dựng được một mặt trận toàn dân đoàn kết trong kháng chiến và sau này là mặt trận đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới, hội nhập.

Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang bước vào thời kỳ phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, bài học từ Đại hội II về việc phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết và tinh thần hợp tác quốc tế bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau vẫn còn nguyên giá trị. Đoàn kết, không chỉ là sức mạnh của chiến thắng, mà còn là chìa khóa của phát triển bền vững và hội nhập thành công.

Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tầm nhìn xây dựng Đảng vững mạnh từ gốc
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II, Đảng tiếp tục khẳng định sâu sắc vai trò lịch sử và thực tiễn to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập, rèn luyện và dẫn dắt Đảng ta từ những ngày đầu đầy gian khó đến khi trở thành lực lượng lãnh đạo tối cao của cách mạng Việt Nam. Với trí tuệ, nhân cách và tầm nhìn chiến lược hiếm có, Người không chỉ là linh hồn của phong trào cách mạng trong nước mà còn là biểu tượng quốc tế về lòng yêu nước, chủ nghĩa nhân văn và khát vọng độc lập tự do cho các dân tộc bị áp bức.

Tư tưởng “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác lập rõ ràng trong các văn kiện trình bày tại Đại hội. Đây không chỉ là quan điểm lý luận, mà là nền tảng tư tưởng nhất quán cho toàn bộ đường lối cách mạng Việt Nam. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yêu nước truyền thống và lý tưởng tiến bộ của thời đại đã giúp thống nhất nhận thức, củng cố niềm tin trong toàn Đảng, toàn dân vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn.

Đại hội II cũng dành trọng tâm lớn cho công tác xây dựng Đảng, trong đó nổi bật là tư tưởng “cán bộ là cái gốc của mọi công việc.” Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã xác định rằng: muốn kháng chiến thành công, muốn kiến quốc hiệu quả, thì trước hết Đảng phải có đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài, đủ bản lĩnh. Chính vì thế, việc đào tạo, rèn luyện cán bộ, cả về lý luận chính trị, đạo đức cách mạng lẫn năng lực thực tiễn – được xem là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài, gắn chặt với vận mệnh của Đảng và dân tộc.

Việc bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm 19 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết không chỉ thể hiện bước trưởng thành về tổ chức, mà còn là minh chứng cho sự vận hành hài hòa giữa vai trò lãnh tụ Hồ Chí Minh với cơ chế lãnh đạo tập thể, dân chủ, kỷ cương. Đây là nét đặc sắc trong mô hình lãnh đạo của Đảng, giúp giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, phát huy trí tuệ tập thể, tránh sự chuyên quyền hay lệch lạc trong chỉ đạo.

Những chủ trương đúng đắn từ Đại hội II đã góp phần quan trọng hình thành nên bản lĩnh chính trị vững vàng, tổ chức kỷ luật, năng lực tư duy độc lập và hành động nhất quán của Đảng. Trong khói lửa chiến tranh hay thử thách cam go, Đảng vẫn giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa, như kim chỉ nam đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Từ góc nhìn hiện đại, những tư tưởng về vai trò lãnh tụ, công tác cán bộ và xây dựng Đảng vững mạnh từ gốc, được khởi nguồn và định hình rõ nét tại Đại hội II vẫn còn nguyên giá trị. Đó chính là nền tảng bảo đảm cho sự lãnh đạo hiệu quả của Đảng trong công cuộc đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế hôm nay.

Giá trị lịch sử và ý nghĩa lâu dài của Đại hội II
Những quyết sách trọng đại được thông qua tại Đại hội II không chỉ củng cố vững chắc thế và lực của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến gian khổ, mà còn mở ra một thời kỳ phát triển mới về tư duy, tổ chức và đường lối cách mạng. Từ năm 1951 đến 1954, dưới sự lãnh đạo thống nhất và công khai của Đảng Lao động Việt Nam, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp phát triển mạnh mẽ, toàn diện và kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng năm châu, chấn động địa cầu ngày 07/5/1954. Thắng lợi ấy là minh chứng rực rỡ cho tầm nhìn chiến lược, sự lãnh đạo đúng đắn và sức mạnh tổng hợp được hun đúc từ Đại hội II.

Không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử, những định hướng sâu xa từ Đại hội II đã vạch ra con đường phát triển cách mạng Việt Nam trong suốt thế kỷ XX: từ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đến sự nghiệp thống nhất đất nước, công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Những bài học về đại đoàn kết dân tộc, giữ vững độc lập tự chủ, phát huy sức mạnh nhân dân, và xây dựng Đảng vững mạnh từ gốc, tất cả vẫn tiếp tục được kế thừa, vận dụng và phát triển linh hoạt trong bối cảnh mới.

Không chỉ mang giá trị thực tiễn, Đại hội II còn đóng góp quan trọng vào kho tàng lý luận cách mạng Việt Nam. Các văn kiện như Chính cương, Tuyên ngôn, Điều lệ Đảng không chỉ xác định đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội, mà còn định hình hệ giá trị tư tưởng của Đảng, kiên định lý tưởng độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, phát triển đất nước vì hạnh phúc Nhân dân.

Nhìn lại chặng đường hơn bảy thập niên, Đại hội II xứng đáng là dấu mốc chiến lược, một bước ngoặt mang tính chất nền tảng trong lịch sử Đảng và dân tộc. Những giá trị tư tưởng, lý luận và thực tiễn kết tinh từ Đại hội tiếp tục soi sáng con đường phát triển trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập sâu rộng hiện nay.

Đại hội II không chỉ là một sự kiện lịch sử, mà là một biểu tượng về bản lĩnh lãnh đạo, tầm nhìn xa trông rộng, và niềm tin tất thắng vào con đường cách mạng của dân tộc Việt Nam. Những giá trị ấy vẫn đang sống động, tiếp thêm sức mạnh cho toàn Đảng, toàn dân trong hành trình vươn tới một tương lai phát triển bền vững, độc lập, tự cường, phồn vinh và hạnh phúc.

Thế Nguyễn – Minh Văn