Chủ Nhật, Tháng 1 18, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Dấu mốc ngoại giao lịch sử mở đường cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam



ĐNA -

Ngày 18/1/1950 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử ngoại giao cách mạng Việt Nam. Vào ngày này, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chỉ 12 ngày sau, ngày 30/1/1950, Liên Xô (trụ cột của phe xã hội chủ nghĩa và lực lượng chi phối cục diện chính trị thế giới sau Thế chiến II) cũng tuyên bố công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Những sự kiện này không chỉ mang tính biểu tượng mà còn có ý nghĩa chiến lược sâu sắc, mở ra thời kỳ hội nhập quốc tế mạnh mẽ cho nền ngoại giao cách mạng non trẻ của Việt Nam.

Đây không chỉ là một sự kiện ngoại giao đơn thuần, mà là bước ngoặt lịch sử mang tầm vóc chiến lược, góp phần định hình lại cục diện của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong bối cảnh quốc tế đầy biến động. Dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, lần đầu tiên, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thành quả của Cách mạng Tháng Tám và khát vọng độc lập, tự do của toàn dân tộc đã vươn mình mạnh mẽ ra trường quốc tế. Việc được công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với các quốc gia xã hội chủ nghĩa hàng đầu không chỉ mang ý nghĩa chính trị to lớn mà còn tạo nên lá chắn ngoại giao vững chắc, phá vỡ thế bao vây, cô lập, tiếp thêm sức mạnh chính nghĩa cho Việt Nam trên cả mặt trận quân sự lẫn ngoại giao. Từ một chính thể cách mạng còn non trẻ, Việt Nam đã bước vào bản đồ chính trị thế giới với vị thế của một quốc gia độc lập, có chủ quyền, được bạn bè quốc tế công nhận và ủng hộ trong cuộc đấu tranh giành lại tương lai độc lập, tự do cho dân tộc.

Thủ tướng Phạm Minh Chính và Tổng thống Nga Vladimir Putin tại Kazan ngày 24/10. Ảnh: VGP.

Phá vỡ vòng vây, chấm dứt thế cô lập của cách mạng Việt Nam
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong bối cảnh ngặt nghèo chưa từng có trong lịch sử dân tộc. Trên bình diện quốc tế, chính quyền cách mạng non trẻ chưa nhận được bất kỳ sự công nhận chính thức nào từ các quốc gia khác. Trong khi đó, thực dân Pháp trở lại xâm lược, ráo riết quốc tế hóa cuộc chiến tranh ở Đông Dương nhằm lôi kéo sự hậu thuẫn chính trị, tài chính và quân sự từ Hoa Kỳ, một chiến lược khiến Việt Nam đứng trước nguy cơ bị cô lập toàn diện.

Trong giai đoạn 1946–1949, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam bước vào thời kỳ thử thách nghiệt ngã, khi phải chiến đấu trong vòng vây phong tỏa chặt chẽ từ nhiều phía. Các tuyến giao thông chiến lược bị khóa chặt, vũ khí, thuốc men khan hiếm đến mức gần như không thể bổ sung, còn tiếng nói chính nghĩa của Việt Nam thì gần như bị chặn đứng trước dư luận quốc tế. Biên giới phía Bắc lúc bấy giờ vẫn chưa được khai thông về mặt chiến lược, khiến Trung ương kháng chiến ở Việt Bắc gần như hoàn toàn bị cô lập với bên ngoài. Trong tình thế hiểm nghèo ấy, toàn bộ sức mạnh của cuộc kháng chiến chỉ còn biết dồn về một mũi: sức dân. Dưới ngọn cờ của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” trở thành lời thề thiêng liêng và kim chỉ nam cho ý chí độc lập dân tộc.

Sự kiện Trung Quốc và Liên Xô lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào tháng 1/1950 đã làm thay đổi căn bản cục diện đó. Lần đầu tiên, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được công nhận chính thức về mặt pháp lý trên trường quốc tế, một dấu mốc có ý nghĩa sinh tử đối với sự sống còn và chính danh của cách mạng Việt Nam. Lá cờ đỏ sao vàng tung bay tại Bắc Kinh và Moskva không chỉ là biểu tượng của tình đoàn kết quốc tế, mà còn là minh chứng rõ ràng cho tư cách độc lập, có chủ quyền của một quốc gia đang tiến hành cuộc kháng chiến chính nghĩa vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

5 lần đến Viẹt Nam, có 4 lần Tổng Thống Nga Vladimir Putin đến viếng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (trừ 1 lần ông đến Đà Nẵng không ghé Hà Nội). Tổng thống Nga Vladimir Putin có sự kính trọng sâu sắc đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, coi Người là một nhân vật lịch sử vĩ đại và có những lời lẽ, hành động thể hiện sự trân trọng đối với tư tưởng, sự nghiệp cách mạng và con người Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sự ủng hộ to lớn, cụ thể và hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng của Đảng
Việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc và Liên Xô không chỉ mang ý nghĩa chính trị, pháp lý, mà còn mở ra kỷ nguyên mới trong quan hệ hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và các quốc gia xã hội chủ nghĩa. Sự giúp đỡ của các nước bạn, trước hết là Trung Quốc và Liên Xô, đã nhanh chóng chuyển hóa thành những hành động hỗ trợ cụ thể, thiết thực và hiệu quả trên nhiều lĩnh vực trọng yếu, tạo nên hậu thuẫn quốc tế mạnh mẽ cho sự nghiệp cách mạng do Chủ tịch Hồ chí Minh và Đảng ta lãnh đạo.

Về chính trị ngoại giao, Việt Nam được bảo vệ và cổ vũ mạnh mẽ trên các diễn đàn quốc tế, nơi tiếng nói chính nghĩa của một dân tộc đang đấu tranh giành độc lập được khẳng định. Các phong trào hòa bình, các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới đã đồng loạt lên tiếng ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, đồng thời kịch liệt phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Qua đó, từng bước tạo ra áp lực dư luận quốc tế có lợi cho Việt Nam.

Về quân sự, từ giữa năm 1950, những chuyến hàng viện trợ đầu tiên gồm vũ khí bộ binh, đạn dược, thuốc men đã tới tay quân đội ta, một sự tiếp sức kịp thời trong bối cảnh chuẩn bị mở các chiến dịch quy mô lớn. Đặc biệt, các chuyên gia quân sự hàng đầu như Trần Canh, Vi Quốc Thanh đã trực tiếp sang Việt Nam, góp phần quan trọng trong việc huấn luyện, tổ chức, xây dựng các lực lượng chủ lực theo hướng chính quy, hiện đại. Đồng thời, hàng nghìn cán bộ quân sự, chính trị Việt Nam được cử sang Trung Quốc học tập, giúp nâng cao năng lực chỉ huy tác chiến, từ cấp chiến dịch đến chiến thuật.

Về hậu cần – kỹ thuật, việc khai thông tuyến biên giới Việt – Trung không chỉ mang ý nghĩa chiến lược về địa chính trị, mà còn mở ra tuyến vận tải huyết mạch phục vụ các chiến dịch lớn. Nhờ đó, Việt Nam có điều kiện tiếp nhận và vận chuyển hàng hóa, vũ khí, nhu yếu phẩm phục vụ kháng chiến. Theo các tài liệu lịch sử, trong giai đoạn 1950 – 1954, viện trợ quốc tế đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng các đại đoàn chủ lực như 308, 312, 316 – nền móng ban đầu của quân đội chính quy, góp phần tạo nên bước ngoặt về tương quan lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường.

Tiền đề trực tiếp của những thắng lợi quân sự mang tính quyết định
Dấu mốc thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 18/1/1950 không chỉ mang giá trị biểu tượng hay pháp lý quốc tế, mà còn tạo ra tác động sâu sắc, trực tiếp đối với cục diện chiến tranh. Tác động rõ nét nhất được thể hiện qua Chiến dịch Biên giới Thu – Đông 1950, chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên do Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam chủ động phát động và tổ chức, phản ánh bước chuyển quan trọng trong tư duy chỉ đạo chiến lược của Đảng.

Mục tiêu của chiến dịch không chỉ là tiêu diệt sinh lực địch, mà còn nhằm giải phóng tuyến biên giới Việt – Trung, phá vỡ thế bao vây phong tỏa, đồng thời mở thông con đường chiến lược để tiếp nhận viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa. Với chiến thắng vang dội, tiêu diệt và bắt sống hơn 8.000 quân địch, giải phóng hoàn toàn thị xã Cao Bằng, kiểm soát tuyến đường số 4 từ Cao Bằng đến Lạng Sơn, chiến dịch đã tạo nên bước ngoặt chiến lược cả về quân sự lẫn hậu cần, chính trị và ngoại giao.

Từ sau chiến dịch này, thế trận kháng chiến chuyển hẳn từ phòng ngự sang chủ động tiến công trên toàn tuyến. Những thắng lợi tiếp theo, từ Trung Du, Đồng Bằng, Hòa Bình, Tây Bắc cho đến đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đều có cội nguồn trực tiếp từ bước ngoặt ngoại giao và quân sự năm 1950. Đó là minh chứng cho sự đúng đắn, nhất quán và linh hoạt của đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính nhưng đồng thời biết tranh thủ và phát huy hiệu quả sự ủng hộ quốc tế.

Bản lĩnh độc lập, tự chủ và tình nghĩa quốc tế trong sáng
Điều đặc biệt cần nhấn mạnh là: sự giúp đỡ quốc tế chỉ thực sự phát huy tác dụng khi đặt trên nền tảng vững chắc của bản lĩnh độc lập, tự chủ, một giá trị xuyên suốt trong tư duy chiến lược của Đảng ta. Trong mọi hoàn cảnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng luôn kiên định nguyên tắc: quyết tự mình hoạch định con đường cách mạng Việt Nam, không sao chép mô hình, không lệ thuộc vào bất kỳ ai, càng không đánh đổi độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia lấy bất kỳ hình thức viện trợ hay hỗ trợ nào.

Quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc và Liên Xô trong giai đoạn này là hình mẫu sinh động của tinh thần quốc tế vô sản chân thành, nghĩa tình. Đó không phải là mối quan hệ một chiều, mà là mối quan hệ đồng chí, anh em, được xây dựng trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, cùng hướng tới mục tiêu cao cả: giải phóng dân tộc, bảo vệ hòa bình, tiến bộ và công bằng trên toàn thế giới. Chính mối quan hệ đó đã góp phần làm nên một thời đại rực rỡ của tình nghĩa quốc tế, trong đó độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là hai dòng chảy song hành, hòa quyện trong khát vọng chung của nhân loại tiến bộ.

Giá trị lịch sử và bài học còn nguyên vẹn đến hôm nay
Hơn bảy thập kỷ đã trôi qua, nhưng ý nghĩa lịch sử của ngày 18/1/1950 vẫn vẹn nguyên giá trị trong hành trình phát triển của đất nước. Đây không chỉ là một mốc son chói lọi trong lịch sử đối ngoại cách mạng, mà còn là bài học sâu sắc về tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh độc lập và nghệ thuật vận dụng sáng tạo sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại.

Sự kiện ấy tiếp tục khẳng định chân lý: thắng lợi của cách mạng Việt Nam bắt nguồn từ đường lối đúng đắn của Đảng dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự hy sinh bền bỉ của nhân dân, và khả năng chủ động, linh hoạt trong việc tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, trên nền tảng độc lập, tự chủ và chính nghĩa. Đó cũng là nền tảng đã và đang giúp Việt Nam bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trong thời chiến, đồng thời không ngừng nâng cao vị thế trên trường quốc tế trong thời bình.

Đặc biệt, mối quan hệ hữu nghị truyền thống Việt – Xô, (nay là quan hệ Việt – Nga) vẫn được chính phủ và nhân dân hai nước trân trọng gìn giữ, phát triển bền vững. Dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Vladimir Putin, Liên bang Nga không chỉ tiếp nối truyền thống giúp đỡ vô tư trong quá khứ, mà còn tích cực hỗ trợ Việt Nam trong chuyển giao công nghệ, hợp tác khoa học, viện trợ kinh tế và xóa nợ, góp phần tạo điều kiện để Việt Nam tăng cường năng lực nội sinh, vươn lên mạnh mẽ. Mối quan hệ hữu nghị thủy chung ấy là biểu tượng sinh động của tình đoàn kết quốc tế chân thành, lâu bền và cùng phát triển vì lợi ích chung, góp phần nâng tầm vị thế của Việt Nam không chỉ trong khu vực Đông Nam Á mà còn trên chính trường toàn cầu.

Ngày 18/1/1950 vì vậy không chỉ là dấu ấn ngoại giao lịch sử, mà còn là một biểu tượng đầy cảm hứng cho chặng đường hội nhập hôm nay. Ngoại giao tiếp tục là một trụ cột chiến lược, đồng hành cùng quốc phòng, kinh tế, văn hóa, đưa Việt Nam vững vàng tiến bước, làm bạn với tất cả các nước, vì mục tiêu chung: hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững.

Thế Nguyễn – Minh Văn