(Đà Nẵng). Chiều 29/6, trong khuôn khổ Liên hoan Phim Châu Á Đà Nẵng (DANAFF IV-2026), diễn ra hội thảo “Diện mạo Điện ảnh Việt Nam thời đổi mới”. Sự kiện nhìn lại thành tựu, giá trị và các dấu mốc của điện ảnh Việt Nam suốt 40 năm Đổi mới, một giai đoạn lịch sử đặc biệt đối với đất nước, dân tộc. Đồng thời đánh giá những hạn chế, rút ra bài học kinh nghiệm và gợi mở hướng đi cho điện ảnh đương đại.

Điện ảnh lưu giữ những dấu ấn của thời đại
Phát biểu khai mạc, TS Ngô Phương Lan nhấn mạnh năm 2026 đánh dấu 40 năm Đổi mới – giai đoạn không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội mà còn mở rộng không gian sáng tạo cho văn học, nghệ thuật, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật” trở thành động lực cho văn nghệ sĩ khám phá đời sống và khát vọng dân tộc. Theo bà, điện ảnh là một trong những cách kể sinh động nhất về hành trình này, khi luôn ghi lại những biến chuyển của xã hội, tư duy và con người qua từng thời kỳ, qua đó phản chiếu chính tiến trình Đổi mới của đất nước.
Nhà biên kịch Đoàn Minh Tuấn cho biết, trước 1990, điện ảnh Việt Nam chủ yếu khai thác đề tài chiến tranh, tập thể và lý tưởng. Từ sau 1990, trọng tâm chuyển sang số phận cá nhân, tâm lý, gia đình và các vấn đề xã hội đương đại, đánh dấu bước chuyển từ câu chuyện dân tộc sang câu chuyện con người. Cùng với đó, điện ảnh Việt bắt đầu hội nhập quốc tế, tham gia liên hoan phim, hợp tác sản xuất và dần khẳng định vị trí trên bản đồ điện ảnh thế giới.
PGS.TS Tạ Quang Đông cho biết, 40 năm Đổi mới đã tạo chuyển biến sâu sắc trên mọi lĩnh vực, trong đó điện ảnh là loại hình phản ánh sinh động những biến đổi của đất nước và con người. Từ cơ chế bao cấp sang kinh tế thị trường có quản lý, từ môi trường sáng tạo khép kín đến hội nhập quốc tế, điện ảnh Việt Nam đã đạt nhiều bước phát triển đáng ghi nhận.

Bước chuyển mạnh mẽ trong tư duy sáng tạo
PGS.TS Tạ Quang Đông, Thứ trưởng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, trong phát biểu của mình đã nhấn mạnh đến nhiều thế hệ nghệ sỹ đã không ngừng tìm tòi, đổi mới ngôn ngữ nghệ thuật, phản ánh chân thực đời sống xã hội, góp phần nuôi dưỡng các giá trị nhân văn, khơi dậy lòng yêu nước và khát vọng phát triển dân tộc. Từ những bộ phim mang hơi thở của thời kỳ đầu Đổi mới đến sự phát triển mạnh mẽ của thị trường điện ảnh, sự xuất hiện của các hãng phim tư nhân và những thành công ngày càng rõ nét tại các liên hoan phim quốc tế, điện ảnh Việt Nam đã từng bước hình thành một diện mạo đa dạng, năng động và hội nhập hơn. Những thành tựu đó cho thấy sức sống, khả năng thích ứng và tinh thần đổi mới không ngừng của nền điện ảnh nước nhà.
Theo TS Ngô Phương Lan, Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam – VFDA, nhìn lại lịch sử điện ảnh Việt Nam, có thể thấy những bộ phim xuất hiện vào những năm cuối thập niên 1980 và giữa thập niên 1990 đã tạo nên một bước chuyển mạnh mẽ trong tư duy sáng tạo.
Những tác phẩm như Bao giờ cho đến tháng Mười, Thị trấn yên tĩnh, Cô gái trên sông, Thằng Bờm, Gánh xiếc rong, Tướng về hưu, Hãy tha thứ cho em, Thung lũng hoang vắng… không chỉ ghi dấu bằng giá trị nghệ thuật mà còn mở ra những cách tiếp cận mới đối với hiện thực cuộc sống và số phận con người.
Ở đó, người xem bắt gặp những câu chuyện đời thường nhưng mang sức nặng của thời đại; những nhân vật bình dị nhưng chất chứa những day dứt, trăn trở và khát vọng rất lớn lao. Điện ảnh đã mạnh dạn đi vào những góc khuất của đời sống, đối diện với những vấn đề xã hội đang vận động và thay đổi, phản ánh những biến chuyển sâu sắc trong tâm thức con người Việt Nam thời kỳ Đổi mới. Nhiều bộ phim của giai đoạn này không chỉ là những tác phẩm nghệ thuật xuất sắc, mà còn là những “tư liệu tinh thần” quý giá về một đất nước đang chuyển mình.

Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, điện ảnh Việt Nam thời Đổi mới cũng trải qua không ít thử thách.
Khi cơ chế bao cấp được thay thế bằng cơ chế tự chủ, tự hạch toán, điện ảnh phải đối diện với những quy luật mới của thị trường. Đã có những giai đoạn khó khăn, thậm chí xuất hiện những hiện tượng lệch chuẩn trong đời sống điện ảnh. Nhưng chính trong quá trình vận động đó, điện ảnh Việt Nam đã từng bước khẳng định sức sống của mình. Có những phim như Vị đắng tình yêu, Lưới trời, Gái nhảy, Dòng máu anh hùng… vừa phản ánh được lát cắt xã hội, vừa ít nhiều đạt “tính thương mại”- điều vốn xa lạ với điện ảnh Việt Nam trước đây.
Phân tích thêm về “tính thương mại”, nhà báo Đoàn Minh Tuấn phân tích: Trước 1990, ngành điện ảnh của ta còn yếu về nhiều mặt như thiếu thiết bị, quay phim chủ yếu bằng phim nhựa, dựng thủ công, kỹ xảo rất hạn chế. Nhưng từ sau 1990, ngành điện ảnh là một trong những ngành nghệ thuật đi đầu về đổi mới, bắt kịp công nghệ làm phim quốc tế. Cụ thể là, chúng ta đã chuyển sang công nghệ số, kỹ xảo CGI, âm thanh và dựng phim hiện đại, học hỏi Hollywood, Hàn Quốc, Hong Kong…Điều này giúp nhịp phim nhanh hơn, hình ảnh đẹp hơn, cách kể chuyện gần khán giả trẻ hơn.
Trước kia, khi làm phim, các nhà làm phim đã phải nhận trach nhiệm trước các lãnh đạo ngành, rằng phim phải đề cao tính tuyên truyền và khán giả cần được giáo dục. Nhưng từ sau Đổi mới, khán giả trở thành người tiêu dùng. Và phim Việt Nam phải cạnh tranh với các cường quốc điện ảnh như Hollywood, phim Hàn, mạng xã hội…Điều này tạo áp lực cho các nhà làm phim. Các bọ phim phải giải trí hơn, dễ xem hơn, marketing mạnh hơn”.
“Từ những tác phẩm đầu tiên của thời kỳ Đổi mới đến các bộ phim được quốc tế ghi nhận sau này như Chơi vơi, Bi, đừng sợ!, Đập cánh giữa không trung, Mùa len trâu, Thời xa vắng, Cánh đồng bất tận, Đảo của dân ngụ cư, …mỗi khán giả đã có thể nhìn thấy một hành trình không ngừng tìm tòi, đổi mới và hội nhập của điện ảnh Việt Nam.
Điều đáng quý là trong suốt hành trình ấy, điện ảnh Việt Nam luôn giữ được mối quan tâm sâu sắc đối với con người Việt Nam, đời sống Việt Nam và bản sắc văn hóa Việt Nam”, TS.Ngô Phương Lan kết luận.

Điện ảnh Việt Nam sau đổi mới: Thành công với đề tài “Hoà giải sau chiến tranh”
NSND, Đạo diễn Huỳnh Hùng (Nguyên Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao, Nguyên Giám đốc Đài Phát thành-Truyền hình Đà Nẵng) đã chia sẻ tại hội thảo “đôi điều nhận xét về đề tài Hòa giải dân tộc của điện ảnh nước nhà thời gian qua”.
Ông cho biết: Sau hơn nửa thế kỉ thống nhất đất nước, chiến tranh cách mạng và người lính vẫn là một trong những đề tài lớn của điện ảnh nước ta. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vô cùng gian khổ, ác liệt và cuối cùng thắng lợi vẻ vang là một sự kiện từng làm chấn động lịch sử nước ta và thế giới, ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống xã hội, làm thay đổi biết bao số phận con người. Đề tài này chắc chắn sẽ được điện ảnh Việt Nam tiếp tục chú trọng trong tương lai.
Bên cạnh đề tài chiến tranh cách mạng và người lính, vài chục năm gần đây, điện ảnh nước ta xuất hiện một loại đề tài mới, rất đáng chú ý, là vấn đề hoà giải sau chiến tranh.
Hai bộ phim tài liệu “Tiếng vỹ cầm ở Mỹ Lai” của đạo diễn Trần Văn Thuỷ thực hiện năm 1988 và “Giai điệu của ám ảnh” của hai đạo điễn Nguyễn Anh Tuấn, Hồ Nhật Thảo thực hiện năm 2013, đã phản ánh tâm trạng và hành động của một số quân nhân Mỹ từng trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vụ thảm sát Mỹ lai, Sơn Mỹ, Quảng Ngãi năm 1968.
Đó là cựu binh Roy Mike Boehm, dù không trực tiếp tham gia vụ thảm sát nhưng ông rất tức giận với tội ác của quân đội Mỹ nên ông trở lại Việt Nam mỗi năm một lần để chơi vỹ cầm cho cư dân hiện tại và cho linh hồn những người đã khuất. Đó là cựu binh Billy Kelly cũng mỗi năm một lần trở lại Sơn Mỹ lặng lẽ dâng 504 bông hoa hồng (tượng trưng cho 504 linh hồn nạn nhân). Những nhân chứng sống như nhà báo Ronald Haeberle, người trực tiếp chụp bộ ảnh vụ thảm sát, hai cựu phi công Hugh Thompson và Larrry Colburn, những người trực tiếp cứu giúp trẻ em chưa kịp bị sát hại, cũng về đây tưởng niệm các nạn nhân xấu số.
Đề tài hoà giải sau chiến tranh, đối với người nước ngoài “có liên quan”, theo NSND, Đạo diễn Huỳnh Hùng, đã phản ảnh câu chuyện rất thật: Khá nhiều cựu binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam bị sang chấn tâm lý, lương tâm day dứt, hối hận về những tội ác mà mình và đồng đội đã gây ra cho người dân Việt Nam, rồi từ đó có những việc làm cụ thể, thiết thực nhằm xoa dịu phần nào nỗi đau của các nạn nhân cùng thân nhân họ.
Sự hoà giải còn thể hiện ở chỗ những cựu binh Mỹ tôn trọng, cảm phục tinh thần yêu nước dũng cảm, sẵn sàng xả thân chiến đấu bảo vệ tổ quốc của quân dân Việt Nam.

Bộ phim tài liệu “Còn lại với thời gian” của đạo diễn Lê Hồng Chương thực hiện năm 2005 và bộ phim truyện “Đừng đốt” của đạo diễn Đặng Nhật Minh ra mắt năm 2009 phản ảnh việc ông Frederic Whitehurst, cựu binh Mỹ, đã giữ quyển nhật ký của liệt sĩ- bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm suốt 35 năm rồi trao lại cho gia đình cô cùng với sự thấu hiểu, ngưỡng mộ, cảm phục của ông.
Thể hiện sự cảm phục của cựu binh Mỹ với người Việt Nam còn có phim tài liệu “Cuộc gặp gỡ sau 48 năm” của đạo diễn Trần Quốc Sơn thực hiện năm 2015. Nội dung phim là cuộc gặp nhau rất thú vị, nhiều cảm xúc giữa hai cựu phi công từ hai chiến tuyến là ông Charlie Plumb và ông Nguyễn Văn Bảy. Hai ông chạm trán nhau trên không phận miền Bắc ngày 27/4/1967. Trận ấy ông Plumb may mắn thoát chết trước đòn tấn công táo bạo, dũng mãnh của ông Nguyễn Văn Bảy. Chính vì nể phục ông Bảy mà năm 2015, ông Charlie Plum qua Việt Nam, lặn lội xuống tận miền Tây Nam Bộ gặp lại ông Nguyễn Văn Bảy trò chuyện vui vẻ trong niềm cảm mến, nể phục của ông.
Điện ảnh với đề tài hoà giải trong nội bộ dân tộc có hai bộ phim tài liệu tiêu biểu ở nội dung này là “Tỉnh thức hoà hoá giải” của nhóm tác Bùi Thanh Hải, Lê Thi, Trần Đăng Mậu (Điện ảnh Quân đội nhân dân) sản xuất năm 2024, và “Hành trình thống nhất” của đạo diễn Nguyễn Đức Đệ (Đài Truyền hình Việt Nam) sản xuất năm 2025.
Với chủ trương “Việt Nam hoá chiến tranh” của người Mỹ, có lúc trên chiến trường chỉ có người Việt từ hai bên đánh nhau. Đó là một thực tế nghiệt ngã của lịch sử. Hoà hợp, hoà hợp dân tộc nhằm cùng nhau hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng lại đất nước là một trong những chủ trương lớn của Đảng và nhà nước ta. Những năm gần đây, đề tài này được điện ảnh Việt Nam chú trọng và đã gặt hái được kết quả khả quan.
“Nghệ thuật điện ảnh đã và đang hướng vào những đề tài hậu chiến như: nỗi đau mất người thân, sự ám ánh của các cựu binh, nghĩa tình đồng đội, chính sách đền ơn đáp nghĩa, tìm kiếm, qui tập hài cốt liệt sĩ, chăm sóc nạn nhân chất độc da cam… Hoà giải, hoà hợp dân tộc cũng là một đề tài thời hậu chiến nhưng chỉ được điện ảnh nước ta chú trọng từ thời đất nước đổi mới, và nhiều bộ phim đã gặt hái được một số kết quả khả quan, thể hiện qua các giải thưởng quốc gia và quốc tế (các phim Tiếng vỹ cầm ở Mỹ Lai, Đừng đốt, Còn lại với thời gián, Tỉnh thức và hoá giải…)” – NSND Huỳnh Hùng, nhấn mạnh.

Hoàn thiện thể chế, tạo môi trường thuận lợi cho sáng tạo
Thứ trưởng Tạ Quang Đông nhấn mạnh thêm: Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam; Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam và các Nghị định của Chính phủ cụ thể hóa các Nghị quyết nêu trên đã có những chuyển biến mạnh mẽ trong việc tạo điều kiện thu hút đầu tư vào lĩnh vực điện ảnh thông qua các cơ chế về thuế, quảng bá phim Việt Nam ra nước ngoài; giảm thuế đối với các dự án phim nước ngoài quay tại Việt Nam, khuyến khích các tổ chức, cá nhân khai thác các phim do Nhà nước sản xuất.

Thời gian tới, Luật Điện ảnh tiếp tục được nghiên cứu, sửa đổi để thích ứng với những thay đổi trong hệ thống pháp luật, tăng cường phân cấp, đơn giản hóa thủ tục, chuyển đổi công tư trong tất cả các khâu sản xuất, phát hành, phổ biến phim. Đây là sự quan tâm một cách đồng bộ đến toàn bộ hệ sinh thái phát triển, từ môi trường sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao, công nghệ sản xuất hiện đại đến thị trường phát hành, hợp tác quốc tế và năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Từ góc độ quản lý nhà nước, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xác định nhiệm vụ không chỉ là quản lý mà còn là kiến tạo phát triển; tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo môi trường thuận lợi cho sáng tạo, thúc đẩy hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp và giới nghệ sĩ, đồng thời hỗ trợ điện ảnh Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị điện ảnh toàn cầu.
Trần Ngọc


