Thứ Hai, Tháng 8 24, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc: Từ khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến giá trị trường tồn của dân tộc

Bài viết Kỷ niệm 81 Năm Quốc khánh Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 – 2/9/2026)



ĐNA -

Kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9, khi cả dân tộc hướng về ngày khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cũng là dịp nhìn lại hành trình Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cả cuộc đời tìm đường và đấu tranh cho độc lập của dân tộc, tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Từ một đất nước mất độc lập, Người ra thế giới tìm đường cứu nước; để rồi những giá trị Độc lập – Tự do – Hạnh phúc được hiện thực hóa trên đất nước Việt Nam và lan tỏa vượt qua biên giới, gặp gỡ những khát vọng chung của nhân loại. Được hun đúc từ thực tiễn và kiểm chứng qua lịch sử, hệ giá trị ấy vẫn còn nguyên sức sống và ý nghĩa cho đến hôm nay.

Từ khát vọng cứu nước đến con đường tìm kiếm tự do
Một đất nước khi mất độc lập không chỉ mất chủ quyền quốc gia và Nhân dân cũng mất quyền làm chủ vận mệnh của mình. Việt Nam đầu thế kỷ XX ở trong hoàn cảnh ấy. Trước Nguyễn Tất Thành, nhiều thế hệ người Việt Nam yêu nước đã tìm kiếm con đường cứu nước bằng những phương thức khác nhau, nhưng chưa thể đưa dân tộc đến thắng lợi. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Tất Thành lựa chọn một hướng đi mới: ra nước ngoài để tìm hiểu những xã hội đề cao tự do, bình đẳng, quyền con người, đồng thời nhận diện bản chất của các thế lực đang áp bức, thống trị các dân tộc thuộc địa.

Bởi vậy, quyết định ra đi tìm đường cứu nước năm 1911 không đơn thuần nhằm tìm kiếm một phương pháp đấu tranh mới, mà còn mở đầu cho quá trình nhận thức sâu sắc hơn về dân tộc và thời đại. Mang theo khát vọng giải phóng đất nước, Nguyễn Tất Thành đến nhiều nơi trên thế giới để tìm lời giải cho vận mệnh dân tộc. Qua những trải nghiệm thực tiễn, Người dần nhận ra rằng vấn đề của Việt Nam không tồn tại biệt lập, mà gắn với số phận của nhiều dân tộc bị áp bức và những con người đang đấu tranh cho quyền sống, quyền tự do trên thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không nhìn thế giới bằng con mắt của một người chỉ đi tìm một “bí quyết” có sẵn để đem nguyên vẹn về áp dụng cho Việt Nam. Người quan sát, trải nghiệm, học hỏi và tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, xã hội và phong trào chính trị khác nhau. Từ phương Đông đến phương Tây, Người không chỉ chứng kiến những thành tựu của các quốc gia, mà còn nhìn thấy những bất công, áp bức và thân phận khốn khó của người lao động. Từ thực tiễn đó, Người từng bước đi đến nhận thức: “Chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc là nguồn gốc của mọi đau khổ không chỉ đối với nhân dân các nước thuộc địa mà cả giai cấp công nhân ở chính quốc”.

Những trải nghiệm ấy giúp Người nhận ra tình trạng mất nước của Việt Nam không phải là một hiện tượng biệt lập, mà nằm trong vấn đề rộng lớn của thời đại: các dân tộc bị áp bức và con người bị tước đoạt quyền sống, quyền tự do, quyền làm chủ vận mệnh. Từ đó, hành trình tìm đường cứu nước không chỉ hướng đến việc giành lại độc lập cho dân tộc, mà còn đặt ra một vấn đề sâu xa hơn: nền độc lập ấy cuối cùng phải đem lại điều gì cho nhân dân?

Một điểm nổi bật trong quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là tiếp thu nhưng không sao chép, học hỏi nhưng không rập khuôn. Người kế thừa truyền thống yêu nước, tinh thần cộng đồng, nhân nghĩa và ý chí bất khuất của dân tộc; đồng thời tiếp nhận những giá trị tiến bộ của văn hóa nhân loại và chủ nghĩa Mác – Lênin. Những nguồn tư tưởng ấy được Người chọn lọc, kết hợp và vận dụng phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Chính sự gặp gỡ giữa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với những tư tưởng cách mạng của thời đại đã góp phần hình thành một quan niệm nhất quán: giải phóng dân tộc phải gắn với giải phóng con người, độc lập quốc gia phải hướng tới tự do và quyền làm chủ của nhân dân.

Vì thế, nếu chỉ nhìn Chủ tịch Hồ Chí Minh như người đi tìm con đường giải phóng Việt Nam thì chưa thể thấy hết chiều sâu của hành trình ấy. Giành lại chủ quyền là yêu cầu cấp bách của một dân tộc mất nước, nhưng đó không phải đích đến cuối cùng. Phía sau khát vọng độc lập còn là mong muốn giải phóng con người khỏi áp bức, thân phận nô lệ, đói nghèo và dốt nát, để mỗi người được sống tự do, có phẩm giá và có điều kiện làm chủ cuộc đời mình.

Theo cách nhìn đó, ý nghĩa của độc lập chỉ thực sự đầy đủ khi thành quả của độc lập hiện diện trong đời sống của nhân dân: được làm chủ, được tự do và có điều kiện vươn tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Đây cũng là cơ sở để hiểu vì sao trong tư tưởng và thực tiễn cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Độc lập – Tự do – Hạnh phúc không phải là những giá trị tách rời. Độc lập tạo nền tảng để dân tộc và nhân dân làm chủ; tự do là giá trị con người được thụ hưởng từ quyền làm chủ ấy; còn hạnh phúc là mục tiêu cuối cùng mà độc lập và tự do hướng tới. Chính sự gắn kết đó đã đưa khát vọng cứu nước phát triển thành một quan niệm rộng lớn hơn về giải phóng dân tộc và giải phóng con người.

Độc lập để dân tộc làm chủ vận mệnh, Tự do để con người được sống
Ngày 2/9/1945, trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu bằng những tư tưởng về quyền con người được nêu trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp. Từ quyền của mỗi con người, Người phát triển thành quyền của các dân tộc: quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do, qua đó khẳng định quyền độc lập chính đáng của dân tộc Việt Nam. Cách lập luận ấy đặt nền độc lập của Việt Nam trong dòng chảy những giá trị tiến bộ của nhân loại, đồng thời phát triển vấn đề quyền con người thành quyền tự quyết của các dân tộc.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giành được độc lập không phải là điểm kết thúc. Giá trị của độc lập chỉ thực sự trọn vẹn khi chủ quyền quốc gia gắn với quyền làm chủ và cuộc sống của nhân dân. Người từng khẳng định mong muốn nước được độc lập, dân được tự do, đồng bào có cơm ăn, áo mặc và được học hành. Bởi vậy, đời sống và hạnh phúc của nhân dân không nằm ngoài mục tiêu của cách mạng, mà chính là thước đo ý nghĩa của nền độc lập. Nói cách khác, độc lập không chỉ được xác lập bằng chủ quyền quốc gia, mà còn phải được hiện thực hóa trong cuộc sống của mỗi người dân.

Từ đó, Độc lập – Tự do – Hạnh phúc cần được nhìn nhận như một hệ giá trị thống nhất. Độc lập để dân tộc làm chủ vận mệnh; tự do để con người làm chủ cuộc sống; còn hạnh phúc là mục tiêu mà độc lập và tự do hướng tới. Mối quan hệ ấy tạo nên một logic xuyên suốt: giành lại chủ quyền để nhân dân được làm chủ, bảo đảm tự do để mỗi người có điều kiện phát triển, xây dựng đất nước để đời sống nhân dân ngày càng ấm no, tốt đẹp hơn. Chính sự gắn kết giữa vận mệnh dân tộc với cuộc sống của con người tạo nên chiều sâu nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hai mươi mốt năm sau ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, khi chiến tranh bước vào giai đoạn khốc liệt, tư tưởng ấy một lần nữa được cô đọng trong lời khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Ngày 17/7/1966, trong Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc trước chiến tranh xâm lược. Trong hoàn cảnh ấy, độc lập và tự do không chỉ là những quyền đã được xác lập, mà trở thành những giá trị phải được bảo vệ bằng ý chí, sức mạnh và sự hy sinh của cả dân tộc.

Nếu năm 1945 là thời điểm Việt Nam tuyên bố trước thế giới quyền độc lập và quyền tự quyết của mình, thì năm 1966, những giá trị ấy đứng trước thử thách phải được kiên quyết bảo vệ. Hai thời điểm lịch sử, hai hoàn cảnh khác nhau nhưng cùng làm nổi bật một tư tưởng xuyên suốt: độc lập để dân tộc làm chủ vận mệnh, tự do để con người làm chủ cuộc đời và hạnh phúc là đích đến mà những giá trị ấy hướng tới.

Từ Việt Nam, một hệ giá trị vượt qua biên giới
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đưa khát vọng độc lập dân tộc trở thành hiện thực ở Việt Nam. Từ thân phận thuộc địa, dân tộc Việt Nam đứng lên giành chính quyền, tuyên bố độc lập và khẳng định quyền tự quyết trước cộng đồng quốc tế. Ý nghĩa của thắng lợi ấy không chỉ giới hạn trong phạm vi đất nước. Trong bối cảnh nhiều dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh còn chịu ách thực dân, thắng lợi của Việt Nam đã trở thành nguồn cổ vũ đối với các phong trào đấu tranh giành độc lập, cho thấy một dân tộc bị áp bức có thể đứng lên giành lại quyền làm chủ vận mệnh của mình.

Sức lan tỏa từ Việt Nam không nằm ở việc đưa một kinh nghiệm hay mô hình trở thành khuôn mẫu cho các dân tộc khác. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập luôn gắn với quyền tự quyết của mỗi dân tộc. Việt Nam đấu tranh cho tự do của mình, đồng thời ủng hộ cuộc đấu tranh chính đáng của các dân tộc khác vì độc lập, hòa bình và tiến bộ xã hội. Điều có sức lan tỏa, vì thế, chính là niềm tin rằng mỗi dân tộc, dù lớn hay nhỏ, đều có quyền lựa chọn con đường phát triển và quyết định tương lai của mình.

Từ điểm gặp gỡ ấy, khát vọng độc lập và tự do của Việt Nam tìm được sự đồng cảm trong phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam cũng được nhìn nhận trong dòng chảy rộng lớn của quá trình phi thực dân hóa. Điều đáng chú ý không chỉ là một lãnh tụ Việt Nam được biết đến trên thế giới, mà sâu xa hơn, thực tiễn Việt Nam đã góp thêm một minh chứng về sức mạnh của các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh giành quyền tự quyết, bất kể quy mô lãnh thổ, dân số hay tương quan lực lượng với các cường quốc.

Sự ghi nhận của quốc tế đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có thể được nhìn từ chiều sâu ấy. Năm 1987, Đại hội đồng UNESCO thông qua nghị quyết về việc kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người vào năm 1990. Sự ghi nhận này gắn tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh với những giá trị về độc lập dân tộc, hòa bình và tiến bộ xã hội. Ý nghĩa không chỉ nằm ở việc tôn vinh một nhân vật lịch sử của Việt Nam, mà còn cho thấy những giá trị Người theo đuổi đã vượt khỏi phạm vi quốc gia để gặp gỡ những khát vọng chung của nhân loại.

Bởi vậy, khi nói về hành trình Hồ Chí Minh “từ Việt Nam đến năm châu”, điều cần nhấn mạnh không phải là sự nổi tiếng của một cá nhân, mà là sức sống của những giá trị Người cùng dân tộc Việt Nam đã theo đuổi, đấu tranh và từng bước hiện thực hóa. Từ thực tiễn của một dân tộc từng mất nước, khát vọng về độc lập, tự do, quyền tự quyết và hòa bình đã vượt qua biên giới Việt Nam để gặp gỡ những giá trị phổ quát của nhân loại: mỗi dân tộc có quyền làm chủ vận mệnh của mình và mỗi con người có quyền được sống tự do, có phẩm giá.

Năm châu nhìn về một giá trị, Việt Nam tiếp tục làm giàu giá trị ấy
Có những giá trị được hình thành trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhưng sức sống vượt khỏi thời đại đã sinh ra chúng. Độc lập – Tự do – Hạnh phúc là những giá trị như vậy. Với Việt Nam, đó là kết tinh của hành trình đấu tranh giành và giữ độc lập, bảo vệ quyền làm chủ của dân tộc và hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhân dân. Vượt ra ngoài biên giới quốc gia, những giá trị ấy cũng gặp gỡ khát vọng chung của nhân loại về quyền tự quyết, tự do, phẩm giá và một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Chính sự gặp gỡ đó góp phần tạo nên sức sống lâu dài của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc không tách rời hòa bình, đoàn kết và hữu nghị giữa các dân tộc. Bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của đất nước mình phải đi cùng sự tôn trọng chủ quyền, quyền tự quyết và lợi ích chính đáng của các quốc gia khác. Cách nhìn ấy cho thấy độc lập không đồng nghĩa với biệt lập, mà là nền tảng để một dân tộc tự chủ, bình đẳng và cùng chung sống hòa bình với các dân tộc khác.

Từ tinh thần đó, những giá trị được hình thành trong quá trình đấu tranh giành độc lập tiếp tục gợi mở cách Việt Nam xác lập quan hệ với thế giới. Một Việt Nam yêu chuộng hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và lợi ích chính đáng của các quốc gia không chỉ là sự tiếp nối những giá trị của lịch sử, mà còn là cách những giá trị ấy được thể hiện trong điều kiện mới. Chúng cần được phản ánh qua quan hệ với các nước, sự tham gia vào đời sống quốc tế và những đóng góp đối với các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế.

Nhưng tiếp nối thôi chưa đủ. Độc lập – Tự do – Hạnh phúc sẽ chỉ thực sự có sức sống khi tiếp tục được bồi đắp bằng thành quả phát triển của đất nước. Độc lập cần được củng cố bằng nội lực, năng lực tự chủ và khả năng bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc; tự do phải gắn với quyền làm chủ và trách nhiệm của mỗi công dân; hạnh phúc cần được thể hiện bằng chất lượng cuộc sống, cơ hội phát triển và khả năng thụ hưởng thành quả phát triển của mỗi người dân.

Nếu lịch sử đặt ra yêu cầu giành và giữ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc, thì hôm nay đặt ra một nhiệm vụ khác: làm cho những giá trị ấy ngày càng hiện hữu đầy đủ hơn trong đời sống của đất nước và nhân dân. Một hệ giá trị chỉ thực sự trường tồn khi không dừng lại ở ký ức hay những lời được nhắc lại, mà được mỗi thế hệ tiếp nhận, thực hành và làm phong phú thêm bằng chính thực tiễn của thời đại mình. Đó cũng là cách Việt Nam hôm nay không chỉ gìn giữ di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, mà tiếp tục làm giàu ý nghĩa của Độc lập – Tự do – Hạnh phúc trên hành trình phát triển đất nước.

Hồ Chí Minh – Người là niềm tin tất thắng
Một trong những di sản sâu sắc Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại là niềm tin vào nhân dân. Người không coi nhân dân chỉ là đối tượng được giải phóng, mà là chủ thể làm nên cách mạng và quyết định vận mệnh của đất nước. Từ Cách mạng Tháng Tám đến những năm tháng đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, chính sức mạnh của nhân dân đã biến khát vọng độc lập thành hiện thực. Tin vào dân, dựa vào dân và phát huy sức mạnh của dân vì thế không chỉ là quan điểm nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn được kiểm chứng bằng chính hành trình lịch sử của dân tộc.

Niềm tin vào nhân dân cũng gắn liền với niềm tin vào sức mạnh của chính nghĩa và khả năng tự quyết của một dân tộc biết đoàn kết, kiên định. Giữa những năm tháng chiến tranh khốc liệt, lời khẳng định “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” không chỉ thể hiện ý chí bảo vệ Tổ quốc, mà còn kết tinh niềm tin vào sức mạnh và thắng lợi cuối cùng của dân tộc. Lịch sử thống nhất đất nước sau đó đã cho thấy sức mạnh của niềm tin khi được chuyển hóa thành ý chí và hành động của hàng triệu con người.

Sau 81 năm kể từ ngày 2/9/1945, nhìn lại hành trình của đất nước không chỉ để tự hào về một nền độc lập đã giành được, mà còn để nhận thức đầy đủ hơn giá trị và trách nhiệm đi cùng nền độc lập ấy. Độc lập không phải thành quả có thể mặc nhiên tồn tại, mà cần được gìn giữ, củng cố và bồi đắp qua từng thế hệ. Nếu thế hệ đi trước đã trả lời câu hỏi làm thế nào để giành và giữ độc lập, thì thế hệ hôm nay phải tiếp tục trả lời bằng thực tiễn phát triển: làm thế nào để đất nước có nội lực mạnh hơn, người dân có nhiều cơ hội hơn và thành quả của độc lập ngày càng hiện hữu trong một cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc.

Bởi vậy, nhớ về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong ngày Quốc khánh không chỉ là nhớ về một lãnh tụ hay những mốc son của lịch sử. Ý nghĩa sâu xa hơn nằm ở việc tiếp tục thực hành những giá trị Người đã dành cả cuộc đời theo đuổi: độc lập cho Tổ quốc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Một di sản tư tưởng chỉ thực sự có sức sống khi không dừng lại trên những trang sử hay trong những lời được nhắc lại mỗi dịp kỷ niệm, mà được các thế hệ tiếp nối bằng trách nhiệm và những thành quả cụ thể trong đời sống đất nước.

Từ một Việt Nam mất độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thế giới tìm con đường cứu nước; rồi từ chính thực tiễn đấu tranh của Việt Nam, những giá trị Người theo đuổi đã vượt qua biên giới để gặp gỡ khát vọng chung của nhân loại. Hành trình “từ Việt Nam đến năm châu” vì thế không chỉ là hành trình của một con người, mà còn là hành trình lan tỏa của một hệ giá trị được lịch sử hun đúc và kiểm chứng.

Sau 81 năm độc lập, Độc lập – Tự do – Hạnh phúc vì thế vừa là thành quả để trân trọng, vừa là giá trị phải tiếp tục được làm giàu trong hiện tại. Giữ cho độc lập ngày càng vững chắc, để tự do ngày càng có ý nghĩa và hạnh phúc ngày càng hiện hữu trong cuộc sống của mỗi người dân chính là cách những giá trị Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đuổi tiếp tục sống cùng đất nước. Và cũng từ đó, một hệ giá trị được hun đúc từ lịch sử Việt Nam có thể tiếp tục khẳng định sức sống trong tương lai và tìm thấy sự đồng cảm ở năm châu.

Thế Nguyễn – Minh Văn