Trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong năm 2026, cùng yêu cầu phát triển kinh tế tư nhân, giữ ổn định vĩ mô và mở rộng sức mua nội địa, vai trò của khu vực kinh doanh nhỏ lẻ ngày càng rõ nét. Khi kinh tế thế giới còn nhiều biến động, tạo sức ép lên giá năng lượng, vận tải và thương mại toàn cầu, các hộ kinh doanh tại Đồng bằng sông Cửu Long đang góp phần quan trọng trong việc duy trì lưu thông hàng hóa, giữ nhịp tiêu dùng và bảo đảm sinh kế cho người dân địa phương.

Nội lực của thị trường bắt đầu từ những điểm tựa nhỏ
Nghị quyết số 01 ngày 8/1/2026 của Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cả nước từ 10% trở lên, đồng thời yêu cầu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Tuy nhiên, mục tiêu này được triển khai trong bối cảnh quốc tế còn nhiều bất định. Nghị quyết số 36 ngày 6/3/2026 của Chính phủ cho thấy yêu cầu ứng phó kịp thời với xung đột đang diễn ra, nhất là về nguồn cung xăng dầu và điều hành giá. Điều đó đặt ra yêu cầu phải củng cố nội lực, trong đó có thị trường trong nước, để tạo nền cho tăng trưởng.
Khu vực kinh tế tư nhân đang được đặt vào vị trí ngày càng quan trọng. Nghị quyết số 68 ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị xác định đây là một động lực quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Trong đó, phần nền gần dân nhất chính là hộ kinh doanh.
Cả nước hiện có gần 1 triệu doanh nghiệp và khoảng 5 triệu hộ kinh doanh. Lực lượng này hiện diện rộng khắp, tự tạo việc làm, hấp thụ lao động tại chỗ, giữ lưu thông hàng hóa và dịch vụ ở cơ sở. Khi thị trường biến động, hộ kinh doanh vẫn là lực lượng bám địa bàn, giữ mối hàng, duy trì nhịp mua bán. Đó là đóng góp thầm lặng nhưng rất thực của nền kinh tế.
Nếu nhìn vào Đồng bằng sông Cửu Long, vai trò ấy hiện lên khá rõ. Với Cần Thơ, giá trị đại diện nằm ở vị thế trung tâm vùng. Thành phố đang hướng tới vai trò trung tâm logistics hiện đại, động lực phát triển của cả vùng. Nhưng phía sau câu chuyện logistics không chỉ là cảng, kho bãi hay hạ tầng lớn. Phía sau đó còn là hàng loạt hộ thu gom nông sản, cửa hàng vật tư, dịch vụ vận tải ngắn, cơ sở đóng gói, quầy hàng tại chợ đầu mối và những điểm bán lẻ bám theo trục giao thương. Họ là lớp kinh doanh giúp hàng hóa đi từ nơi sản xuất ra nơi tiêu dùng, giúp dòng tiền quay vòng trong đời sống hằng ngày. Một trung tâm vùng chỉ thật sự vận hành trơn tru khi lớp kinh doanh nhỏ ấy còn hoạt động đều, còn giữ được nhịp thị trường và còn bám được người mua.
Với Cà Mau, nét đại diện lại nằm ở thủy sản và kinh tế biển. Theo thông tin của tỉnh, kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2024 đạt 1,119 tỉ đô la Mỹ, trong đó con tôm tiếp tục là sản phẩm chủ lực. Nhưng phía sau con số xuất khẩu ấy không chỉ có doanh nghiệp chế biến hay nhà máy lớn. Đó còn là mạng lưới rộng khắp của các hộ kinh doanh vật tư nuôi trồng, điểm thu mua nhỏ, dịch vụ hậu cần, vận chuyển, cửa hàng tiêu dùng ở vùng nuôi và vùng cảng cá. Nói cách khác, một phần giá trị của con tôm Cà Mau không chỉ nằm ở kim ngạch xuất khẩu, mà còn được giữ lại trong khu vực dân cư thông qua hoạt động của các hộ kinh doanh nhỏ lẻ. Khi chi phí đầu vào biến động, khi thị trường bên ngoài lên xuống thất thường, chính lớp kinh doanh này giúp duy trì những mắt xích nhỏ của chuỗi cung ứng và sinh hoạt dân sinh địa phương.
Còn với An Giang, vai trò đại diện thể hiện ở sự kết nối giữa nông nghiệp hàng hóa, thương mại biên giới và du lịch. Theo số liệu công bố đầu tháng 3 năm 2026, năm 2025 tỉnh đón trên 24,1 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế trên 1,9 triệu lượt, tổng thu từ du lịch đạt gần 67.900 tỉ đồng. Những con số đó không chỉ tạo nguồn thu cho doanh nghiệp du lịch, mà còn nuôi sống hàng loạt hộ bán hàng, ăn uống, vận chuyển, lưu niệm và dịch vụ nhỏ quanh điểm đến, chợ biên giới, tuyến phố thương mại. Từ góc độ đó, hộ kinh doanh là lực lượng làm cho du lịch và thương mại lan được vào đời sống dân cư, biến lượng khách thành sức mua, biến sức mua thành sinh kế. Nếu chỉ nhìn tăng trưởng bằng những dự án lớn, sẽ khó thấy hết phần đóng góp âm thầm nhưng bền bỉ này.
Điều đáng chú ý là phần đóng góp của hộ kinh doanh thường rất nhỏ khi nhìn riêng từng giao dịch, từng quầy hàng, từng chuyến hàng ngắn. Nhưng khi cộng lại trên quy mô toàn vùng, đó lại là một phần đáng kể của sức sống thị trường. Hộ kinh doanh nhỏ lẻ góp vào việc làm gia đình, vào lưu thông hàng thiết yếu, vào sức mua hằng ngày và vào độ dẻo dai của nền kinh tế địa phương. Nhìn đúng vai trò đó không phải để lãng mạn hóa khu vực kinh doanh nhỏ, mà để công nhận một thực tế rằng tăng trưởng bền vững không chỉ được đỡ bởi những doanh nghiệp lớn, mà còn được giữ nhịp bởi rất nhiều chủ thể nhỏ. Trong bối cảnh cả nước đặt mục tiêu tăng trưởng cao trong năm 2026, sự công nhận đúng mức đối với phần đóng góp nhỏ ấy càng có ý nghĩa thực tiễn.

Kích cầu tiêu dùng trong nước và chuẩn hóa quản lý để đi xa hơn
Trong bối cảnh xuất nhập khẩu và thương mại thế giới còn nhiều biến động, củng cố thị trường trong nước đang là yêu cầu rõ hơn đối với tăng trưởng. Bộ Công Thương xác định thị trường trong nước tiếp tục là bệ đỡ quan trọng của sản xuất và tăng trưởng kinh tế. Quyết định số 2269 ngày 8/8/2025 về Chương trình phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng giai đoạn 2025 đến 2027 cho thấy rõ định hướng này. Cùng với mở rộng thị trường bên ngoài, việc nâng sức mua trong nước đang trở thành giải pháp quan trọng để hỗ trợ sản xuất, kinh doanh.
Nếu xuất khẩu mở ra thị trường lớn, thì tiêu dùng trong nước là điểm tựa giữ nhịp tăng trưởng khi bên ngoài biến động. Ở khâu này, hộ kinh doanh nhỏ lẻ giữ vai trò rất quan trọng. Từ cửa hàng gia đình, đại lý nhỏ, quầy tạp hóa đến điểm bán thực phẩm, vật tư, dịch vụ dân sinh, chính họ đưa hàng hóa vào khu dân cư, chợ xã, chợ huyện và vùng nông thôn. Nếu doanh nghiệp làm ra hàng hóa, thì hộ kinh doanh nhỏ lẻ là nơi biến hàng hóa thành sức mua hằng ngày, góp phần giữ nhịp thị trường và hỗ trợ tăng trưởng từ cơ sở.
Đưa hàng hóa về nông thôn thông qua các chương trình xúc tiến thương mại không chỉ là những chuyến bán hàng lưu động, mà là mở rộng mạng lưới phân phối, kết nối cung cầu và đưa hàng Việt đến gần người tiêu dùng hơn. Với Đồng bằng sông Cửu Long, đây là yêu cầu rất thực tế, vì dân cư phân bố rộng, sinh kế gắn với nông nghiệp, thủy sản, còn chợ truyền thống và cửa hàng nhỏ vẫn giữ vai trò lớn. Muốn kích cầu tiêu dùng ở khu vực này, không thể chỉ trông vào bán lẻ hiện đại, mà phải dựa vào mạng lưới hộ kinh doanh nhỏ lẻ. Chính họ là khâu cuối đưa hàng hóa đến tay người dân.
Nhìn từ Cần Thơ có thể thấy rõ vai trò lan tỏa của mạng lưới kinh doanh nhỏ. Là trung tâm vùng, Cần Thơ còn là đầu mối phân phối, trung chuyển hàng hóa cho nhiều địa phương. Ở Cà Mau, vai trò này gắn với việc đưa hàng tiêu dùng, vật tư, dịch vụ vào vùng nuôi trồng, ven biển và khu dân cư xa trung tâm. Còn tại An Giang, thương mại nông thôn, thương mại biên giới và du lịch tạo ra không gian tiêu dùng đặc thù, nơi hộ kinh doanh nhỏ giữ nhịp mua bán hằng ngày. Từ các địa phương này có thể thấy rõ, muốn thị trường nội địa mạnh thì hàng hóa phải đi tới tận cơ sở, và để làm được điều đó phải dựa vào mạng lưới hộ kinh doanh nhỏ lẻ.
Cùng với yêu cầu kích cầu tiêu dùng trong nước, khu vực hộ kinh doanh cũng bước vào giai đoạn chuẩn hóa mạnh hơn về quản lý. Nghị định số 68 năm 2026 của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 5/3/2026, quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Cùng ngày, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 18 năm 2026 quy định hồ sơ, thủ tục quản lý thuế đối với nhóm này. Các nội dung về doanh thu, kê khai, nộp thuế, địa điểm kinh doanh, tạm ngừng và chấm dứt hoạt động đều được quy định cụ thể hơn, theo hướng minh bạch hơn.
Điểm cốt lõi của thay đổi này là đưa hộ kinh doanh vào khuôn khổ quản lý rõ ràng hơn, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và minh bạch thị trường. Khi doanh thu, nghĩa vụ thuế và hồ sơ kinh doanh được chuẩn hóa, hộ kinh doanh không chỉ được quản lý chặt hơn mà còn có điều kiện thuận lợi hơn để tiếp cận tín dụng, tham gia thương mại điện tử, ký kết hợp đồng và kết nối sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Vấn đề đặt ra là chính sách phải vừa bảo đảm minh bạch, vừa giữ được động lực làm ăn chính đáng của lực lượng kinh doanh nhỏ nhưng rất đông đảo này.
Trong bối cảnh xung đột trên thế giới còn nhiều bất định, giá năng lượng và chi phí đầu vào có thể tiếp tục biến động, mục tiêu tăng trưởng cao của năm 2026 càng đòi hỏi Việt Nam phải dựa chắc hơn vào nội lực. Nội lực ấy không chỉ nằm ở các dự án lớn hay doanh nghiệp lớn, mà còn ở hàng triệu cơ sở kinh doanh nhỏ đang giữ nhịp mua bán mỗi ngày. Từ Đồng bằng sông Cửu Long, có thể thấy rõ điều đó. Muốn đi tới mục tiêu lớn, phải giữ được những mắt xích nhỏ. Muốn kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng, phải tạo điều kiện để hộ kinh doanh được nhìn nhận đúng vai trò, được hướng dẫn đúng chính sách và phát triển trong môi trường ổn định, minh bạch.
Trọng Nguyễn


