Hội nhập quốc tế mở ra cơ hội giao lưu văn hóa, tạo điều kiện để mỗi quốc gia tiếp cận tri thức, khoa học, công nghệ, nghệ thuật và những giá trị tiến bộ của nhân loại. Tuy nhiên, cùng với đó là sự lan truyền nhanh chóng của các quan niệm, chuẩn mực, thị hiếu và lối sống từ bên ngoài. Vấn đề vì thế không phải có nên hội nhập, mà là hội nhập thế nào để tiếp nhận cái mới mà vẫn giữ được bản sắc và năng lực tự xác định mình. Bởi đồng hóa văn hóa có thể diễn ra âm thầm, khi các yếu tố ngoại lai dần trở thành chuẩn mực để một cộng đồng nhìn nhận và đánh giá chính văn hóa của mình.

Sự biến đổi văn hóa trong quá trình hội nhập
Văn hóa không phải là một thực thể bất biến. Trong quá trình phát triển, mọi nền văn hóa đều không ngừng vận động, giao lưu, tiếp nhận và chuyển hóa các yếu tố mới. Lịch sử văn hóa Việt Nam cũng cho thấy khả năng tiếp thu nhiều yếu tố từ bên ngoài, sau đó chọn lọc, cải biến và dung hợp để trở thành những giá trị phù hợp với điều kiện lịch sử, xã hội và tâm thức của cộng đồng. Vì vậy, sự hiện diện của các yếu tố ngoại sinh trong đời sống văn hóa không đồng nghĩa với sự mai một hay đánh mất bản sắc. UNESCO cũng xác định đa dạng văn hóa được nuôi dưỡng thông qua trao đổi và tương tác giữa các nền văn hóa, đồng thời nhấn mạnh việc tạo điều kiện để các nền văn hóa được tự do giao lưu, tương tác trên cơ sở cùng có lợi.
Điểm khác biệt đáng chú ý của quá trình hội nhập hiện nay nằm ở tốc độ, quy mô và mức độ tác động của giao lưu văn hóa. Một bộ phim, bài hát, xu hướng thời trang, cách ứng xử hay quan niệm sống có thể vượt qua biên giới trong thời gian rất ngắn và tiếp cận hàng triệu người. Đặc biệt, sự phát triển của internet và mạng xã hội khiến quá trình lan truyền văn hóa diễn ra liên tục, ngày càng ít phụ thuộc vào khoảng cách địa lý và thời gian. Một cá nhân hôm nay có thể đồng thời tiếp xúc và sống trong nhiều không gian văn hóa khác nhau, từ văn hóa của cộng đồng nơi mình sinh sống đến những dòng chảy văn hóa mang tính khu vực và toàn cầu. Đây là cơ hội lớn để mở rộng hiểu biết, làm phong phú đời sống tinh thần và tăng khả năng đối thoại giữa các nền văn hóa. Tuy nhiên, chính tốc độ và cường độ tiếp xúc ấy cũng khiến ranh giới giữa tiếp nhận có chọn lọc và tiếp nhận thụ động trở nên khó nhận biết hơn.
Trong bối cảnh đó, năng lực của chủ thể văn hóa trở thành yếu tố có ý nghĩa quyết định. Khi một cá nhân hay cộng đồng có khả năng nhận diện, lựa chọn, phân tích và chuyển hóa những giá trị tiếp nhận từ bên ngoài, các yếu tố ngoại sinh có thể trở thành nguồn lực bổ sung, góp phần làm giàu và thúc đẩy sự phát triển của văn hóa bản địa. Ngược lại, nếu tâm lý sính ngoại, tự ti về văn hóa hoặc thói quen sao chép, bắt chước lấn át khả năng đánh giá và lựa chọn, những yếu tố bên ngoài có thể dần chuyển từ vị trí bổ sung sang vị trí chi phối. Trong định hướng phát triển văn hóa hiện nay, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 xác định văn hóa Việt Nam là nguồn lực nội sinh quan trọng, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu kế thừa, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới.
Bởi vậy, ranh giới cần quan tâm trong hội nhập không đơn thuần nằm giữa “văn hóa trong nước” và “văn hóa nước ngoài”, mà trước hết nằm trong mối quan hệ giữa chủ thể tiếp nhận và những giá trị được tiếp nhận. Khi chủ thể vẫn giữ được năng lực nhận diện và quyền lựa chọn, những yếu tố từ bên ngoài sẽ được đặt trong một quá trình sàng lọc, thích nghi và chuyển hóa trước khi trở thành một phần của đời sống văn hóa. Khi năng lực ấy suy yếu, quá trình tiếp nhận có thể dần chuyển thành phụ thuộc, từ phụ thuộc vào thị hiếu, chuẩn mực đến cách nhìn nhận và đánh giá giá trị. Khi đó, giao lưu văn hóa có nguy cơ mất đi tính cân bằng vốn cần thiết của nó.
Nhìn từ góc độ này, đồng hóa văn hóa không phải là hệ quả tất yếu của hội nhập. Đó là một nguy cơ có thể xuất hiện khi tốc độ và mức độ tiếp nhận các yếu tố bên ngoài vượt quá khả năng lựa chọn, chuyển hóa và tự điều chỉnh của chủ thể văn hóa. Vấn đề cốt lõi vì thế không phải là hạn chế giao lưu hay khép lại trước những ảnh hưởng từ bên ngoài, mà là củng cố năng lực tự chủ văn hóa để mỗi cá nhân và cộng đồng có thể chủ động tiếp nhận cái mới, làm giàu cho mình mà không đánh mất khả năng nhận diện, gìn giữ và phát triển những giá trị tạo nên bản sắc của chính mình.
Những con đường của tác động văn hóa từ bên ngoài
Tác động văn hóa từ bên ngoài không diễn ra theo một con đường duy nhất mà thâm nhập vào đời sống xã hội qua nhiều kênh khác nhau. Trong đó, giáo dục, ngôn ngữ, truyền thông, văn hóa đại chúng và môi trường số là những lĩnh vực có khả năng tạo ảnh hưởng sâu rộng, bởi chúng không chỉ chuyển tải tri thức và thông tin mà còn tham gia hình thành tư duy, thị hiếu, hệ giá trị và cách con người nhìn nhận thế giới.
Giáo dục là một trong những con đường có sức ảnh hưởng sâu và lâu dài nhất, bởi giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn góp phần hình thành phương pháp tư duy, quan niệm về giá trị và cách nhìn thế giới của mỗi cá nhân. Trong quá trình hội nhập, hợp tác quốc tế về giáo dục đã mang đến cho Việt Nam nhiều chương trình, kinh nghiệm quản lý và phương pháp giảng dạy mới. Chẳng hạn, năm 2016, Ngân hàng Thế giới công bố chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực cho hơn 600.000 giáo viên và hiệu trưởng phổ thông Việt Nam, trong đó có việc áp dụng các phương pháp sư phạm mới và hệ thống học tập trực tuyến. Trường hợp này cho thấy hợp tác quốc tế có thể tạo ra những nguồn lực đáng kể, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và thúc đẩy quá trình đổi mới.
Tuy nhiên, chính vì giáo dục có khả năng tác động lâu dài đến nhận thức và sự hình thành nhân cách nên nội dung, phương thức và mục tiêu của các hoạt động hợp tác cũng cần được xem xét một cách toàn diện. Tại hội nghị ngày 18/8/2023, Thượng tướng Lương Tam Quang, khi đó là Thứ trưởng Bộ Công an, cảnh báo về nguy cơ lợi dụng hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo để tác động đến quan điểm, tư tưởng của người học theo hướng không phù hợp với đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước; đồng thời đề cập nguy cơ lợi dụng những hạn chế trong nhận thức và tâm lý của một bộ phận thanh niên, sinh viên để tác động về tư tưởng. Cảnh báo này đề cập một nguy cơ cụ thể cần được nhận diện và phòng ngừa trong quá trình hợp tác giáo dục, chứ không đồng nghĩa với việc phủ nhận vai trò hay những lợi ích của hợp tác quốc tế. Vấn đề đặt ra vì thế là làm thế nào vừa tận dụng được tri thức, kinh nghiệm và nguồn lực từ bên ngoài, vừa duy trì được khả năng chủ động lựa chọn nội dung và định hướng giáo dục phù hợp.
Ngôn ngữ là một con đường tác động đặc biệt quan trọng khác, bởi ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là nơi lưu giữ ký ức, tri thức, kinh nghiệm và những phương thức biểu đạt đặc trưng của một cộng đồng. Trong bối cảnh hội nhập, việc nâng cao năng lực ngoại ngữ là nhu cầu thiết yếu để mở rộng khả năng tiếp cận tri thức, khoa học, công nghệ và giao lưu quốc tế. Quyết định số 2371/QĐ-TTg ngày 27/10/2025 phê duyệt Đề án đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025–2035, tầm nhìn đến năm 2045, cho thấy nâng cao năng lực sử dụng ngoại ngữ đã trở thành một định hướng chính sách [cite: 2]. Tuy nhiên, mở rộng năng lực ngoại ngữ không đồng nghĩa với thu hẹp vai trò của tiếng Việt. Yêu cầu đặt ra là phát triển khả năng sử dụng ngoại ngữ song song với việc củng cố vị thế, năng lực biểu đạt và sức sống của tiếng Việt trong giáo dục, khoa học, văn học, nghệ thuật cũng như trong đời sống xã hội. Khi một ngôn ngữ tiếp tục có khả năng diễn đạt những tri thức mới và đáp ứng nhu cầu của đời sống hiện đại, ngôn ngữ ấy mới có thể duy trì vai trò nền tảng trong đời sống văn hóa của cộng đồng.
Bên cạnh giáo dục và ngôn ngữ, truyền thông, văn hóa đại chúng và môi trường số đang trở thành những con đường tác động ngày càng mạnh mẽ. Điện ảnh, âm nhạc, quảng cáo, trò chơi điện tử, thời trang, người nổi tiếng và các nền tảng mạng xã hội có thể phổ biến một thị hiếu, cách ứng xử, quan niệm hay lối sống mà không cần thông qua bất kỳ chương trình giáo dục chính thức nào. Khác với giáo dục, những ảnh hưởng này thường không xuất hiện dưới hình thức một hệ thống kiến thức được truyền đạt trực tiếp, mà được hình thành thông qua quá trình tiếp xúc và lặp lại. Một hình ảnh được nhìn thấy nhiều lần, một cách nói được sử dụng thường xuyên hay một quan niệm xuất hiện liên tục trong các sản phẩm truyền thông có thể dần trở nên quen thuộc và được tiếp nhận như một điều bình thường.
Công nghệ số còn làm thay đổi quy mô, tốc độ và cơ chế phân phối văn hóa. Nếu trước đây việc phổ biến một sản phẩm văn hóa thường phụ thuộc vào các thiết chế xuất bản, phát thanh, truyền hình hay điện ảnh, thì ngày nay một nội dung có thể nhanh chóng tiếp cận số lượng lớn người dùng thông qua các nền tảng xuyên biên giới. Người tiếp nhận vì thế không chỉ chịu ảnh hưởng từ môi trường văn hóa trực tiếp xung quanh mình mà còn thường xuyên tiếp xúc với những hệ giá trị, thị hiếu và cách sống đến từ nhiều không gian văn hóa khác nhau. Quá trình tiếp nhận văn hóa từ bên ngoài theo đó trở nên thường xuyên hơn, khó phân định hơn và gắn chặt với đời sống hằng ngày.
Nhìn từ những con đường này, giữ gìn năng lực tự chủ văn hóa trong bối cảnh hội nhập không thể chỉ giới hạn ở sách giáo khoa, chương trình giáo dục hay các thiết chế văn hóa truyền thống. Vấn đề còn nằm ở toàn bộ môi trường thông tin và truyền thông nơi con người tiếp nhận tri thức, hình thành thị hiếu, xây dựng quan niệm về giá trị và lựa chọn cách sống. Điều quan trọng không phải là ngăn chặn các tác động văn hóa từ bên ngoài, mà là nâng cao khả năng nhận diện, lựa chọn và chuyển hóa những tác động ấy. Khi chủ thể có đủ năng lực lựa chọn, các kênh giao lưu có thể trở thành phương tiện làm giàu đời sống văn hóa; ngược lại, khi khả năng lựa chọn suy yếu, chính những con đường giao lưu ấy cũng có thể trở thành những kênh làm gia tăng sự phụ thuộc về thị hiếu, nhận thức và chuẩn mực văn hóa.
Từ tiếp biến văn hóa đến nguy cơ đồng hóa
Tiếp biến văn hóa trước hết là một quá trình tiếp nhận có lựa chọn và chuyển hóa. Một nền văn hóa không đơn thuần tiếp nhận các yếu tố từ bên ngoài rồi giữ nguyên trạng, mà có thể chọn lọc, điều chỉnh, bản địa hóa và từ đó tạo ra những giá trị mới phù hợp với điều kiện lịch sử, xã hội và tâm thức của cộng đồng. UNESCO khẳng định sự đa dạng văn hóa được thúc đẩy thông qua giao lưu và tương tác giữa các nền văn hóa; đồng thời, Công ước năm 2005 nhấn mạnh yêu cầu cởi mở với các nền văn hóa khác và bảo đảm sự cân bằng trong trao đổi văn hóa. Bởi vậy, vấn đề không nằm ở sự lựa chọn giữa đóng cửa hay mở cửa, giữa tiếp nhận hay từ chối các yếu tố bên ngoài, mà ở khả năng duy trì tính chủ động và năng lực tự chủ của chủ thể văn hóa trong chính quá trình mở cửa ấy.
Ranh giới giữa tiếp biến và nguy cơ đồng hóa bắt đầu xuất hiện khi yếu tố ngoại lai không còn chỉ là một lựa chọn, mà dần trở thành thước đo để nhìn nhận và đánh giá những giá trị bên trong. Khi cái “nước ngoài” mặc nhiên được đồng nhất với “hiện đại”, cái “phổ biến toàn cầu” được xem như đồng nghĩa với “tiến bộ” hay “phù hợp”, trong khi những giá trị truyền thống dễ dàng bị gắn với hình ảnh cũ kỹ, lạc hậu, thì quan hệ giữa tiếp nhận và lựa chọn đã có sự thay đổi. Yếu tố bên ngoài lúc này không chỉ cung cấp thêm khả năng lựa chọn, mà có thể bắt đầu chi phối chính tiêu chí lựa chọn của người tiếp nhận. Đây là điểm cần phân biệt giữa tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới với sự phụ thuộc vào các chuẩn mực được hình thành từ bên ngoài.
Tuy nhiên, sự chuyển dịch từ tiếp biến sang nguy cơ đồng hóa thường không diễn ra bằng một bước ngoặt đột ngột hay dễ nhận thấy. Nó có thể bắt đầu từ những thay đổi rất gần gũi trong đời sống hằng ngày: cách ăn mặc, ngôn ngữ giao tiếp, thị hiếu giải trí, quan niệm về thành công, cách nhìn về gia đình, cộng đồng, lịch sử hay các mối quan hệ xã hội. Xét riêng từng trường hợp, những thay đổi ấy có thể chỉ phản ánh sự vận động bình thường của đời sống văn hóa và không nhất thiết mang ý nghĩa tiêu cực. Một nền văn hóa sống luôn có khả năng thay đổi, thích nghi và tiếp nhận cái mới. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào sự xuất hiện của một lối sống, thị hiếu hay cách biểu đạt mới để kết luận rằng đang diễn ra quá trình đồng hóa.
Điều đáng quan tâm nằm ở hướng vận động và sự tích tụ của những thay đổi ấy. Khi nhiều biến đổi cùng diễn ra theo một hướng, xuất hiện trên nhiều lĩnh vực, được truyền thông và môi trường số khuếch đại, sau đó trở thành thói quen của một bộ phận ngày càng lớn trong xã hội, chúng có thể từng bước hình thành một hệ chuẩn mực mới. Khi ấy, những thay đổi vốn riêng lẻ bắt đầu liên kết và củng cố lẫn nhau: thị hiếu có thể ảnh hưởng đến ngôn ngữ, ngôn ngữ tác động đến cách biểu đạt, cách biểu đạt góp phần định hình quan niệm, còn quan niệm lâu dần có thể ảnh hưởng đến cách con người đánh giá các giá trị của cộng đồng mình. Nguy cơ đồng hóa, do đó, không nhất thiết thể hiện ở việc một yếu tố văn hóa biến mất ngay lập tức, mà có thể bắt đầu từ sự thay đổi trong hệ quy chiếu dùng để xác định điều gì là có giá trị, đáng duy trì hoặc đáng lựa chọn.
Chiều sâu đáng chú ý hơn của quá trình này nằm ở sự truyền dẫn qua các thế hệ. Một thế hệ khi tiếp nhận một chuẩn mực mới vẫn có thể nhận thức đó là một sự lựa chọn giữa nhiều khả năng khác nhau. Nhưng đối với thế hệ sinh ra và lớn lên sau khi chuẩn mực ấy đã trở nên phổ biến, điều từng là một lựa chọn có thể được tiếp nhận như một phần tự nhiên của đời sống. Khi đó, người tiếp nhận có thể không còn nhận biết rõ nguồn gốc của chuẩn mực, thậm chí không còn đặt nó trong tương quan với những giá trị từng tồn tại trước đó. Quá trình này càng trở nên sâu sắc khi cùng một chuẩn mực được truyền dẫn đồng thời qua gia đình, nhà trường, truyền thông, các sản phẩm văn hóa và môi trường xã hội.
Khi một giá trị hoặc chuẩn mực đã đi qua nhiều kênh truyền dẫn và được tái tạo từ thế hệ này sang thế hệ khác, nó có thể dần trở thành một bộ phận của đời sống văn hóa cộng đồng. Điều đó tự thân không đồng nghĩa với đồng hóa, bởi sự tiếp nhận và chuyển hóa các yếu tố mới cũng chính là một phương thức phát triển của văn hóa. Nguy cơ chỉ trở nên đáng chú ý khi quá trình tiếp nhận làm suy giảm khả năng nhận diện, lựa chọn và tái tạo những giá trị của chính cộng đồng, khiến các chuẩn mực bên ngoài từ vị trí tham khảo hoặc bổ sung dần trở thành hệ quy chiếu chi phối.
Từ góc độ đó, vấn đề cốt lõi không phải là văn hóa có thay đổi hay không, mà là chủ thể văn hóa còn giữ được vai trò chủ động trong sự thay đổi ấy hay không. Nghị quyết số 80-NQ/TW cũng đặt những biến động của công nghệ, sự cạnh tranh về giá trị, cùng những thay đổi trong chuẩn mực ứng xử và hệ giá trị văn hóa vào nhóm vấn đề cần được chủ động nhận diện trong quá trình phát triển văn hóa Việt Nam. Điều này cho thấy yêu cầu đặt ra trong hội nhập không phải là ngăn cản sự biến đổi, mà là nâng cao khả năng nhận diện và điều tiết sự biến đổi, để tiếp biến tiếp tục là quá trình làm giàu văn hóa thay vì từng bước làm suy yếu năng lực tự chủ của chủ thể văn hóa.

Những dấu hiệu nhận diện nguy cơ đồng hóa văn hóa
Nguy cơ đồng hóa văn hóa không phải lúc nào cũng biểu hiện bằng sự biến mất rõ rệt của một phong tục, ngôn ngữ hay hình thức sinh hoạt văn hóa. Trong nhiều trường hợp, những dấu hiệu ban đầu xuất hiện ở sự thay đổi trong cách con người nhìn nhận, đánh giá và lựa chọn các giá trị. Vì vậy, nhận diện nguy cơ đồng hóa không nên chỉ dựa vào mức độ hiện diện của các yếu tố ngoại lai, mà cần quan sát sâu hơn vào thái độ đối với truyền thống, vị thế của ngôn ngữ và ký ức văn hóa, sự thay đổi của hệ giá trị, cũng như khả năng tự nhận thức của cộng đồng trước quá trình biến đổi.
Một dấu hiệu có thể nhận thấy là sự thay đổi trong thái độ đối với truyền thống. Văn hóa luôn vận động, vì vậy không phải mọi giá trị truyền thống đều cần được giữ nguyên trạng và cũng không phải mọi sự thay đổi đều đồng nghĩa với mất bản sắc. Tuy nhiên, khi một bộ phận xã hội nhìn nhận những giá trị truyền thống chủ yếu bằng tâm thế tự ti, xem chúng là cũ kỹ hoặc lạc hậu chỉ vì không giống với những mô hình đang phổ biến ở bên ngoài, thì vấn đề không còn đơn thuần nằm ở nhu cầu đổi mới. Đổi mới có thể làm cho truyền thống được diễn giải, thực hành và biểu đạt bằng những hình thức phù hợp hơn với đời sống hiện đại; còn phủ nhận một giá trị chỉ vì nó thuộc về quá khứ hoặc khác với chuẩn mực bên ngoài lại phản ánh sự thay đổi trong chính hệ quy chiếu dùng để đánh giá văn hóa.
Một xã hội hiện đại không nhất thiết phải lựa chọn giữa truyền thống và hiện đại. Ký ức lịch sử, văn hóa gia đình, di sản, phong tục và những giá trị được cộng đồng tích lũy qua nhiều thế hệ vẫn có thể tồn tại, thích nghi và được tái tạo trong những điều kiện mới. Vì vậy, điều cần quan tâm không phải là truyền thống có thay đổi hay không, mà là cộng đồng còn khả năng hiểu, giải thích và quyết định giá trị nào cần kế thừa, giá trị nào cần điều chỉnh và giá trị nào không còn phù hợp. Khi quyền đánh giá ấy dần được thay thế bằng việc sử dụng một mô hình bên ngoài làm chuẩn mực mặc định, nguy cơ phụ thuộc về văn hóa bắt đầu trở nên rõ hơn.
Dấu hiệu thứ hai liên quan đến vị thế của tiếng Việt và khả năng duy trì ký ức văn hóa. Ngoại ngữ là công cụ quan trọng giúp con người tiếp cận tri thức, khoa học, công nghệ và mở rộng khả năng giao tiếp với thế giới. Tuy nhiên, tiếng mẹ đẻ không chỉ thực hiện chức năng giao tiếp mà còn là phương tiện lưu giữ kinh nghiệm lịch sử, văn học, ký ức tập thể và hệ thống biểu đạt đặc trưng của cộng đồng. UNESCO xác định đa dạng ngôn ngữ là một thành tố quan trọng của đa dạng văn hóa, đồng thời nhấn mạnh vai trò của giáo dục trong việc bảo vệ và phát huy các biểu đạt văn hóa.
Bởi vậy, việc sử dụng ngày càng nhiều ngoại ngữ tự thân không phải là dấu hiệu của đồng hóa văn hóa. Điều đáng quan tâm là liệu sự mở rộng năng lực ngoại ngữ có đi cùng với sự suy giảm khả năng sử dụng tiếng Việt để tư duy, sáng tạo, truyền đạt tri thức và biểu đạt những vấn đề phức tạp của đời sống hiện đại hay không. Nâng cao năng lực ngoại ngữ và củng cố năng lực tiếng Việt không phải là hai mục tiêu loại trừ lẫn nhau. Một môi trường hội nhập bền vững cần tạo điều kiện để con người sử dụng ngoại ngữ như một phương tiện tiếp cận thế giới, đồng thời duy trì và phát triển tiếng Việt như một không gian lưu giữ, sáng tạo và truyền dẫn văn hóa dân tộc.
Dấu hiệu thứ ba nằm ở sự thay đổi trong hệ giá trị, thước đo thành công và quan niệm về lối sống. Hội nhập tất yếu làm xuất hiện những mô hình mới về tiêu dùng, nghề nghiệp, gia đình, giao tiếp xã hội và quan niệm về thành công. Nhiều thay đổi trong số đó có thể mang lại những giá trị tích cực, mở rộng lựa chọn cá nhân và thúc đẩy xã hội phát triển. Vì vậy, không thể xem mọi thay đổi về lối sống là biểu hiện của đồng hóa, cũng như không thể mặc nhiên coi mọi giá trị ngoại sinh là tiêu cực.
Điều cần quan sát ở đây vẫn là cơ chế lựa chọn và đánh giá. Nếu một mô hình tiêu dùng, một cách tổ chức đời sống gia đình, một phong cách giao tiếp hay một quan niệm về thành công được mặc nhiên xem là tiến bộ chỉ vì nó phổ biến ở những xã hội khác, trong khi điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội và văn hóa của cộng đồng mình ít được cân nhắc, thì năng lực tự đánh giá có dấu hiệu suy giảm. Ranh giới giữa tiếp biến và nguy cơ đồng hóa vì thế không nằm ở việc một cộng đồng có tiếp nhận lối sống mới hay không, mà ở chỗ cộng đồng ấy còn chủ động đánh giá, điều chỉnh và chuyển hóa những yếu tố mới cho phù hợp với mình, hay chuyển dần sang sao chép vì mặc nhiên coi chuẩn mực bên ngoài có giá trị cao hơn.
Một dấu hiệu sâu hơn và cũng khó nhận biết hơn là sự bình thường hóa của quá trình biến đổi. Một sản phẩm, cách biểu đạt hay chuẩn mực văn hóa khi mới xuất hiện có thể được nhận biết rõ là yếu tố mới hoặc đến từ bên ngoài. Khi được tiếp xúc thường xuyên, nó dần trở nên quen thuộc; khi được truyền thông, thị trường và đời sống xã hội liên tục tái tạo, nó có thể trở thành phổ biến; và khi đã tồn tại đủ lâu, nó có thể được nhìn nhận như một phần bình thường của đời sống. Quá trình này tự thân vẫn là một cơ chế thông thường của tiếp biến văn hóa. Vấn đề xuất hiện khi sự bình thường hóa diễn ra đồng thời với việc những giá trị từng tồn tại trong cộng đồng mất dần không gian thực hành, khả năng truyền dẫn và ý nghĩa đối với các thế hệ sau.
Chiều sâu của vấn đề càng thể hiện rõ qua sự truyền dẫn giữa các thế hệ. Thế hệ đầu tiên có thể ý thức khá rõ rằng mình đang tiếp nhận một yếu tố mới và có khả năng đặt nó bên cạnh những lựa chọn khác. Nhưng những thế hệ sinh ra sau khi yếu tố ấy đã trở thành phổ biến có thể tiếp nhận nó như một điều hiển nhiên. Khi đó, ranh giới giữa yếu tố nội sinh và ngoại sinh ngày càng khó nhận diện, còn những giá trị không tiếp tục được giải thích, thực hành và truyền lại có thể dần rời khỏi đời sống của cộng đồng.
Chính vì vậy, bảo vệ bản sắc văn hóa không thể chỉ dừng ở việc bảo tồn những biểu tượng bề mặt như trang phục, lễ hội, kiến trúc hay một số hình thức sinh hoạt truyền thống. Những biểu tượng ấy có ý nghĩa, nhưng phía sau chúng còn là ký ức, ngôn ngữ, tri thức, hệ giá trị và cách cộng đồng giải thích về chính mình. Một di sản có thể vẫn tồn tại về hình thức nhưng suy giảm ý nghĩa nếu thế hệ sau không còn hiểu vì sao nó tồn tại và giá trị nào được gửi gắm trong đó.
Nhìn tổng thể, không một dấu hiệu riêng lẻ nào đủ để khẳng định một cộng đồng đang bị đồng hóa văn hóa. Điều cần theo dõi là sự kết hợp và tích tụ của nhiều biểu hiện: thái độ tự ti hoặc phủ nhận thiếu căn cứ đối với truyền thống; sự suy giảm khả năng sử dụng và sáng tạo bằng ngôn ngữ dân tộc; việc lấy chuẩn mực bên ngoài làm hệ quy chiếu mặc định; sự thu hẹp không gian thực hành và truyền dẫn các giá trị nội sinh; và cuối cùng là sự suy yếu của khả năng tự nhận biết quá trình biến đổi. Điểm chung của những biểu hiện này không phải sự hiện diện của cái mới, mà là sự suy giảm năng lực tự nhận diện, tự đánh giá, lựa chọn và tái tạo văn hóa của chính cộng đồng.
Giữ vững chủ thể văn hóa trong hội nhập
Tự chủ văn hóa không đồng nghĩa với khép kín hay từ chối những ảnh hưởng từ bên ngoài. Một nền văn hóa có năng lực tự chủ phải đủ khả năng bước ra thế giới, tiếp nhận tri thức và tinh hoa nhân loại, đồng thời giữ được quyền lựa chọn, chuyển hóa và quyết định những gì phù hợp với điều kiện, hệ giá trị và nhu cầu phát triển của mình. Công ước UNESCO năm 2005 vừa hướng tới bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa, vừa khuyến khích tương tác, đối thoại và trao đổi giữa các nền văn hóa, đồng thời ghi nhận quyền của các quốc gia trong việc duy trì những chính sách nhằm bảo vệ và phát huy đa dạng văn hóa. Cách tiếp cận đó cho thấy mở cửa và bảo vệ bản sắc không phải là hai mục tiêu đối lập, nếu quá trình giao lưu được đặt trên nền tảng chủ động, chọn lọc và cân bằng.
Nền tảng của sự tự chủ ấy trước hết nằm ở con người và năng lực lựa chọn văn hóa của mỗi cá nhân. Trong đó, gia đình và nhà trường là hai môi trường đặc biệt quan trọng đối với việc hình thành bản lĩnh văn hóa của thế hệ trẻ. Một người trẻ cần biết ngoại ngữ để giao tiếp và tiếp cận tri thức thế giới, nhưng đồng thời phải có khả năng sử dụng tốt tiếng Việt; cần hiểu những chuyển động của thế giới nhưng cũng phải hiểu lịch sử, văn hóa và những giá trị của cộng đồng mình; cần làm chủ công nghệ nhưng cũng phải có khả năng phân biệt giữa thông tin và định hướng, giữa thị hiếu nhất thời và những giá trị có ý nghĩa lâu dài. Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt việc xây dựng con người, xây dựng môi trường văn hóa và tăng cường sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội vào vị trí quan trọng trong phát triển văn hóa. Đây là nền tảng để hội nhập trở thành quá trình mở rộng năng lực và làm giàu căn tính, thay vì khiến con người xa rời những giá trị tạo nên căn tính của chính mình.
Trong không gian số, giữ gìn văn hóa còn có nghĩa là chủ động sáng tạo văn hóa, chứ không chỉ bảo vệ những gì đã có. Khi môi trường truyền thông ngày càng mang tính xuyên biên giới, khả năng hiện diện của một nền văn hóa phụ thuộc không nhỏ vào sức sáng tạo, chất lượng và năng lực lan tỏa của chính những sản phẩm mà nền văn hóa ấy tạo ra. Nếu nội dung văn hóa Việt Nam thiếu sức hấp dẫn, chậm thích ứng với công nghệ hoặc vắng mặt trên những nền tảng mới, khoảng trống về nhu cầu thông tin, giải trí và thẩm mỹ tất yếu sẽ được lấp đầy bởi những nguồn nội dung khác. Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đặt ra các nhiệm vụ liên quan đến phát triển nội dung số, số hóa di sản, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và xây dựng chủ quyền văn hóa số. Điều đó gợi mở một hướng đi quan trọng: muốn bản sắc có sức sống trong thời đại số, cần biến bản sắc thành nguồn lực cho sáng tạo, để những giá trị văn hóa Việt Nam không chỉ được lưu giữ mà còn có khả năng tạo ra những biểu đạt mới, tham gia đối thoại và khẳng định sức hấp dẫn bằng chính chất lượng của mình.
Ở chiều ngược lại, bảo vệ bản sắc cũng không nên được hiểu là cố định văn hóa trong những khuôn mẫu của quá khứ. Một nền văn hóa chỉ thực sự có sức sống khi những giá trị của nó tiếp tục được các thế hệ kế tiếp hiểu, thực hành, sáng tạo và trao cho những hình thức biểu đạt mới. Vì vậy, điều cần bảo vệ sâu xa hơn các biểu tượng hay hình thức cụ thể chính là khả năng của cộng đồng trong việc giải thích, lựa chọn, tái tạo và phát triển hệ giá trị của mình trước những điều kiện mới. Khi năng lực ấy còn được duy trì, giao lưu với thế giới không nhất thiết làm bản sắc suy yếu; trái lại, chính sự tiếp xúc với những giá trị khác biệt có thể tạo thêm động lực để một cộng đồng nhận thức rõ hơn về mình và làm giàu thêm văn hóa của mình.
Hội nhập càng sâu rộng, yêu cầu về năng lực tự chủ văn hóa càng cao. Sức mạnh của một nền văn hóa không nằm ở việc tránh khỏi mọi tác động từ bên ngoài, mà ở khả năng tiếp xúc với những tác động ấy mà vẫn giữ được quyền lựa chọn và quyền tự xác định mình. Đó là quá trình vừa mở cửa vừa chọn lọc, vừa học hỏi vừa sáng tạo, vừa tiếp thu tinh hoa nhân loại vừa làm giàu những giá trị được hình thành từ lịch sử và đời sống của chính cộng đồng.
Bởi vậy, đồng hóa văn hóa không phải là kết quả tất yếu của hội nhập. Nguy cơ xuất hiện khi chủ thể văn hóa suy giảm khả năng nhận diện và lựa chọn, khi những chuẩn mực bên ngoài từ vị trí tham khảo dần trở thành hệ quy chiếu thay thế cho khả năng tự đánh giá của cộng đồng. Giữ vững chủ thể văn hóa, xét đến cùng, không phải là dựng lên ranh giới để ngăn cái mới đi vào, mà là xây dựng đủ nội lực để biết mình là ai, biết điều gì cần tiếp nhận, điều gì cần chuyển hóa và điều gì cần tiếp tục trao truyền. Khi có được năng lực ấy, hội nhập không làm bản sắc trở nên nhỏ bé hơn, mà có thể trở thành cơ hội để văn hóa Việt Nam làm giàu chính mình và chủ động hiện diện trong dòng chảy văn hóa của thế giới.
Thế Nguyễn – Minh Văn
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
2. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 2371/QĐ-TTg ngày 27/10/2025 về Đề án đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045.
3. VietnamPlus, “Bộ Công an cảnh báo âm mưu lợi dụng phá hoại trong hợp tác giáo dục”, 19/8/2023.
4. World Bank, “Đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho 600.000 giáo viên và hiệu trưởng tại Việt Nam”, 29/6/2016.
5. UNESCO, Công ước năm 2005 về bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa.
6. UNESCO, Báo cáo thế giới về đầu tư vào đa dạng văn hóa và đối thoại liên văn hóa.


