Việt Nam có vị trí địa chiến lược quan trọng tại Đông Nam Á và châu Á – Thái Bình Dương, là khu vực năng động về kinh tế và giữ vai trò trung tâm trong cạnh tranh địa chính trị toàn cầu, đặc biệt giữa Mỹ và Trung Quốc. Với quan hệ lịch sử và hiện tại gắn bó với cả hai cường quốc, Việt Nam chịu tác động trực tiếp từ những điều chỉnh chiến lược của các nước lớn. Vì vậy, việc đánh giá và dự báo tác động dài hạn của các thay đổi này đối với chính trị, ngoại giao Việt Nam là cần thiết để chủ động thích ứng trước những biến động của tình hình thế giới.

Biểu hiện trong điều chỉnh chiến lược của Mỹ- Trung
Với Mỹ, thời gian qua từ thời kỳ của Donal Trump 1.0 đến Joe Biden và hiện tại là Donal Trump 2.0 đều có sự điều chỉnh chiến lược trong trong nhiệm kỳ cầm quyền của mình. Với Mỹ, mục tiêu bao trùm là giữ vững vị trí siêu cường số một và củng cố liên minh. Hiện nay, Mỹ có xu hướng chọn lọc hơn trong việc tham gia các định chế đa phương, ưu tiên các khuôn khổ mang lại lợi ích quốc gia trực tiếp, từng bước nhắm đến sự điều chỉnh quản trị toàn cầu.
Đối với khu vực Ấn Độ Dương- Thái Bình Dương, Mỹ vẫn tiếp tục coi đây là địa bàn trọng điểm để kiềm chế sự trỗi dậy của đối thủ cạnh tranh. Mỹ điều chỉnh theo hướng tăng cường mạng lưới liên minh “trục và nan hoa” và các cơ chế đa phương hẹp (như Cơ chế an ninh AUKUS gồm Mỹ, Australia và Anh; Bộ tứ an ninh Mỹ, Australia, Ấn Độ, Nhật Bản-QUAD). Trong các đối thủ cạnh tranh, Mỹ xác định Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh đe doạ đến vị trí siêu cường số 1 của Mỹ, chính vì vậy Mỹ tiếp tục thực hiện chính sách ngoại giao cứng rắn với Trung Quốc. Cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa đều thống nhất duy trì chính sách đối đầu toàn diện, từ thương mại đến công nghệ và an ninh để làm suy yếu hoặc kiềm chế Trung Quốc.
Với Trung Quốc, nước này tiếp tục khát vọng vươn lên. Thời gian qua, Bắc Kinh luôn thể hiện rõ quan điểm: Một mặt cần môi trường để vươn lên nhưng đồng thời cũng đòi hỏi thế giới công nhận vai trò cường quốc của họ.
Trong Đại hội XIX, XX, Đảng Cộng Sản Trung Quốc đều nhấn mạnh về việc phải khắc ghi sứ mệnh, phấn đấu không ngừng thực hiện giấc mơ Trung Quốc phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa.
Trung Quốc tuyên bố rằng trước những thay đổi nhanh chóng của tình hình quốc tế, đặc biệt là khi đối mặt với “sự hăm doạ, kiềm chế, phong tỏa và áp lực rất lớn từ bên ngoài”, lợi ích quốc gia của Trung Quốc vẫn là tối quan trọng và chính trị trong nước là ưu tiên của Đảng. Do đó Trung Quốc khẳng định, “lập trường dứt khoát” là chống lại chủ nghĩa bá quyền và kiên cường đối mặt với “tình trạng bắt nạt”; cảnh báo giới lãnh đạo Trung Quốc phải “sẵn sàng đương đầu với sóng to, gió lớn và thậm chí là cả những cơn bão nguy hiểm” .
Việc Mỹ thực hiện chiến lược Xoay trục sang châu Á (Pivot to Asia) nhiệm Kỳ của Barack Obama (2011 – 2016) tới Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở -Donald Trump 1.0 (2017 – 2021) và Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (Joe Biden (2021 – 2025) đến nay là Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở (Free and Open Indo-Pacific – FOIP) nhiệm kỳ Donald Trump 2.0 (2025 – hiện tại) với đặc điểm nước Mỹ trên hết đã thúc đẩy Trung Quốc tìm kiếm một hướng đi mới để mở rộng ảnh hưởng kinh tế và địa chính trị của mình. Nhân dân Nhật báo Trung Quốc mô tả chiến lược của Mỹ là “đặc điểm nổi bật của tình trạng đối đầu” .
Thời gian qua, Trung quốc thực hiện chính sách chủ động và kiên quyết hơn trong việc bảo vệ các “lợi ích cốt lõi” (như vấn đề Biển Đông, Đài Loan) cho đến năm 2050, đồng thời Trung Quốc tập trung thúc đẩy “Vành đai, con đường” (BRI, năm 2013), “Sáng kiến an ninh toàn cầu”(GSI, năm 2022), “Sáng kiến văn minh toàn cầu” (GCI, năm 2023), “Sáng kiến quản trị toàn cầu” (GGI, năm 2025) và nổi bật là việc Trung Quốc đưa ra chủ trương xây dựng “Cộng đồng chung vận mệnh” …nhằm xây dựng lại một trật tự thế giới mới, dần giảm thiểu đi vai trò của Mỹ tại các thiết chế đa phương và trong quyết định các vấn đề quốc tế và khu vực.
Có thể thấy, trong thế trận cạnh tranh nước lớn, sự điều chỉnh và cạnh tranh chiến lược Mỹ- Trung đã tác động sâu rộng đến cục diện thế giới đương đại. Đây là câu chuyện cọ xát giữa một cường quốc đang vươn lên và cường quốc tại vị, giữa ngôi số một và số hai. Cuộc cạnh tranh này lâu dài và là cạnh tranh chiến lược trên tất cả các mặt.
Trung Quốc hiểu rằng cuộc cạnh tranh chiến lược với Mỹ là gay gắt, phức tạp và trường kỳ. Việc đại lục củng cố nội lực, thực hiện chiến lược vòng tuần hoàn kép, tự lực về công nghệ chính là sự chuẩn bị cho việc cạnh tranh còn gia tăng và lâu dài.
Với việc đề xuất các sáng kiến toàn cầu, xây dựng các thể chế đa phương, Trung quốc từng bước đang thách thức trật tự do Mỹ dẫn dắt. Việc khuyến khích xây dựng cấu trúc quốc tế đa cực, đa trung tâm, chống lại hệ thống hiện tại do Mỹ và các nước phương Tây tạo dựng khiến cho mối quan hệ quốc tế trở nên phức tạp hơn, đòi hỏi sự cân bằng và hợp tác đa chiều, từ đó giúp Trung Quốc có nhiều “đất diễn” hơn trong các diễn đàn toàn cầu. Trung Quốc cũng đang chủ động thiết lập luật chơi, tạo sân chơi riêng do mình dẫn dắt, sẵn sàng tiến tới vị trí trung tâm của vũ đài thế giới.
Về phía Mỹ, sự điều chỉnh trong chiến lược toàn cầu (FOIP2025) khẳng định việc Mỹ tiếp tục xác định năng lực răn đe hiệu quả là nền tảng cốt lõi để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược toàn cầu, biểu hiện đó đã phản ánh sự tích luỹ quyền lực nhiều nhất có thể của Mỹ nhằm duy trì vị trí bá quyền, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc và bảo vệ lợi ích an ninh, kinh tế cốt lõi. Tuy nhiên, chính sách của Mỹ mang nặng tính giao dịch, áp đặt, thay vì ủng cố bá quyền lại đẩy cạnh tranh Mỹ- Trung lên mức căng thẳng mới, từ đó dẫn đến gia tăng bất ổn tại khu vực, thúc đẩy chạy đua vũ trang, xói mòn niềm tin, làm các nước trong khu vực lo ngại bị biến thành công cụ trong chiến lược cạnh tranh Mỹ- Trung, tạo cơ hội cho các cường quốc khác, đặc biệt là Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng.
Nhưng hai bên không có lợi ích gì khi quan hệ đổ vỡ hay xung đột đối đầu, kể cả đối đầu không mong muốn, cho nên phải tìm cách quản trị. Cạnh tranh Mỹ – Trung tiếp tục trở thành yếu tố bao trùm lên môi trường quan hệ quốc tế trong thời gian tới, sẽ tạo ra những biến đổi sâu sắc chưa từng có tiền lệ, tiềm ẩn nguy cơ xung đột cục bộ hoặc xung đột lĩnh vực rất cao.
Dự báo tác động mang tính dài hạn đến Việt Nam trên phương diện chính trị ngoại giao
Thế giới từ nay đến năm 2050 dự báo sẽ tiếp tục có những thay đổi sâu sắc, mang tính cấu trúc, dài hạn, tác động lớn, lâu dài đến hòa bình, an ninh, phát triển bền vững trên thế giới và tại các quốc gia trong đó có Việt Nam.
Trên thực tế, bản chất của hệ thống quốc tế sẽ chưa thay đổi, chẳng hạn như lợi ích quốc gia – dân tộc vẫn là nền tảng quan trọng nhất cho việc hoạch định chính sách và chiến lược, hay sẽ không có một chính phủ toàn cầu đứng lên trên các quốc gia để quản trị hệ thống, nhưng rõ ràng môi trường bên ngoài các quốc gia đã, đang và sẽ có những điểm khác căn bản, nhất là: Cạnh tranh địa chính trị gia tăng; tri thức và công nghệ thành yếu tố quyết định sức mạnh tổng hợp quốc gia; nhiều vấn đề xảy ra rất bất ngờ và khó dự báo. Các cuộc khủng hoảng xảy ra với tần suất cao hơn, theo cách thức khó lường hơn…điều đó dẫn đến chính sách của các quốc gia sẽ điều chỉnh nhanh, mạnh hơn để bảo vệ tốt được lợi ích quốc gia – dân tộc.
Với Việt Nam, dưới tác động sự điều chỉnh và cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung, trong dài hạn, ở góc độ chính trị ngoại giao, Việt Nam tiếp tục chịu sự ảnh hưởng, cụ thể:
Cạnh tranh Mỹ- Trung tiếp tục trở thành yếu tố bao trùm lên môi trường quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam trong thời gian tới. Thực tiễn quan hệ Mỹ -Trung đan xen giữa cạnh tranh ở những lĩnh vực chiến lược và hợp tác ở một số lĩnh vực cụ thể có chia sẻ lợi ích. Thời gian gần đây, mặt cạnh tranh, đối đầu có phần nổi trội hơn. Cạnh tranh trải rộng trên nhiều lĩnh vực, từ chính trị – an ninh, ngoại giao, kinh tế, khoa học – công nghệ, văn hóa, nguồn nhân lực, tiền tệ. Trong bối cảnh đó, cạnh tranh Mỹ – Trung Quốc tác động rất lớn đến cục diện thế giới và Việt Nam trong thời gian sắp tới. Sự cạnh tranh này sẽ tạo nên những thay đổi căn bản, xáo trộn lớn ở tất cả các phương diện của đời sống thế giới, ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoạch định chính sách và các quan hệ đối ngoại của Việt Nam.
Thực tế, kể cả khi hai nước Mỹ, Trung Quốc tìm cách bắt tay, hợp tác với nhau, sử dụng các kênh đối thoại để giải quyết vấn đề cũng không thể kết thúc được sự xung đột, mâu thuẫn về chiến lược. Bởi mục tiêu chiến lược hai bên theo đuổi dẫn đến mâu thuẫn lợi ích sống còn. Trong bài phát biểu về chính sách đối ngoại ngày 3-2-2021, Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken coi quan hệ với Trung Quốc là “phép thử địa chính trị lớn nhất thế kỷ XXI, Trung Quốc là thách thức nghiêm trọng về kinh tế, ngoại giao, quân sự và công nghệ”. Trung Quốc cũng thi hành chính sách quyết đoán để “phục hưng” đất nước và không ngần ngại cạnh tranh trực tiếp với Mỹ . Với việc xác định 2049 là mộc thời gian thực hiện thành công “Giấc mộng Trung Hoa”, quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ chuyển sang giai đoạn mới với những diễn biến khó lường hơn, xét về mức độ và bản chất. Cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung Quốc có thể tạo thêm khó khăn cho các nước nhỏ và vừa, trong đó có Việt Nam trong việc xử lý quan hệ với các nước lớn. Vì vậy, chúng ta sẽ khó khăn hơn trong việc thực hiện phương châm “đa phương hóa, đa dạng hóa” và “cân bằng động” giữa các nước lớn trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới.
Việt Nam luôn là đối tượng mà Mỹ- Trung muốn thiết lập ảnh hưởng chiến lược. Do có vị trí địa chính trị, địa kinh tế đặc biệt quan trọng, Việt Nam là cầu nối hai vùng kinh tế biển và kinh tế lục địa của châu Á, cửa ngõ giao thương cả trên bộ, trên biển của các quốc gia Đông Nam Á và châu Á. Có vị trí địa lý là trung tâm kinh tế thương mại trong khu vực Đông Nam Á, kết nối từ biển Hoa Đông tới vùng Viễn Đông của Nga. Đồng thời từ Việt Nam qua các nước Đông nam á, Nam á (Băng la đét) bằng đường bộ, Việt Nam trở thành điểm nối liền Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản với vùng Nam Á và xa hơn.
Bên cạnh đó, Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú, nguồn lao động chất lượng, dồi dào. Môi trường chính trị, xã hội ổn định, đảm bảo an ninh cao, hội nhập quốc tế thành công và ngày càng trở thành chủ thể có vai trò và tiếng nói quan trọng trên các diễn đàn khu vực và quốc tế. Chính vì thế, tạo được ảnh hưởng chiến lược đối với Việt Nam, các nước lớn có thể thuận lợi áp đặt được vị thế, chi phối khu vực và lôi kéo các quốc gia Đông Nam Á.
Tuy nhiên, hiện tại tổng hợp sức mạnh kinh tế, quân sự, công nghiệp dân sự, khoa học công nghệ và hạ tầng giao thông của Việt Nam còn hạn chế. Thương mại Việt Nam có nguy cơ chịu ảnh hưởng, thiệt hại rất cao khi các đối tác lớn thay đổi chính sách thương mại bởi thị trường nhập khẩu, xuất khẩu còn tập trung và chưa cân đối. Vũ khí, trang bị quân sự của Việt Nam đang có, nhất là vũ khí tầm xa, hiện đại chủ yếu có nguồn gốc từ Nga, việc mở rộng quan hệ quốc phòng với các nước lớn vẫn còn nhiều rào cản, khó khăn. Đây cũng là nhân tố phụ thuộc vào cường quốc về quân sự, quốc phòng… Đó chính là những cơ hội để Mỹ, Trung và các nước lớn thâm nhập, tiếp cận, tìm cách tạo sức ép và tạo ảnh hưởng chiến lược đối với Việt Nam. Đây là vấn đề lâu dài Việt Nam luôn phải tính đến và chủ động ứng phó để đảm bảo tính độc lập tự chủ của đất nước, giữ được môi trường chính trị ổn định để phát triển đất nước.
Cạnh tranh Mỹ- Trung sẽ tạo áp lực lớn lên Việt Nam trong việc duy trì ổn định chính trị – xã hội, bảo vệ thể chế xã hội chủ nghĩa. Trong chiến lược của Mỹ ở các nhiệm kỳ gần đây đặc biệt là sự điều chỉnh trong Chiến lược Ấn Độ Dương- Thái Bình Dương – 2025, chính quyền Mỹ đã định danh Trung Quốc là “thách thức chiến lược dài hạn” và coi các nước như Việt Nam là đối tác chiến lược trong khu vực nhằm cân bằng ảnh hưởng với Trung Quốc. Về phía Trung Quốc luôn khẳng định coi trọng cao độ quan hệ với Việt Nam, coi Việt Nam là phương hướng ưu tiên trong chính sách ngoại giao láng giềng, là mắt xích chiến lược trong Cộng đồng chia sẻ tương lai.
Khi Việt Nam được cả hai bên coi trọng và đặt ở vị trí ưu tiên trong chính sách đối với khu vực Đông Nam á- Châu Á- Thái Bình Dương, một mặt sẽ giúp Việt Nam trở thành nhân tố cả Mỹ và Trung Quốc cần tranh thủ, lôi kéo để làm đối trọng với bên còn lại, điều đó đồng nghĩa với việc Việt Nam có quyền lựa chọn và đưa ra điều kiện có lợi trong cuộc chơi. Mặt khác, khi quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, Việt Nam với Trung Quốc tốt đẹp, cũng giúp Việt Nam nâng cao giá trị của mình trong tính toán của các nước lớn còn lại và với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Tuy nhiên, sự đối đầu ngày càng quyết liệt giữa hai cường quốc tạo áp lực lớn lên Việt Nam trong việc duy trì ổn định chính trị – xã hội, bảo vệ thể chế xã hội chủ nghĩa.
Trước hết, lợi dụng tình hình thế giới có những biến động, thay đổi phức tạp, cạnh tranh Mỹ-Trung ngày càng gay gắt, các thế lực thù địch trên một số diễn đàn, báo nước ngoài và trang mạng xã hội phản động sẽ phóng đại hóa những khó khăn, phức tạp của tình hình thế giới, đánh giá không chính xác hoặc tô vẽ thêm về những khó khăn, hạn chế nội tại của Việt Nam để tạo tâm lí bi quan, khủng hoảng lòng tin của nhân dân về các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước.
Lực lượng thù địch đưa ra những dự báo, đánh giá không chính xác về các quan điểm, chính sách của Mỹ, Trung với Việt Nam để chia rẽ quan hệ giữa Việt Nam với các nước. Chúng chỉ trích chính sách cân bằng với các nước lớn của Việt Nam với luận điệu Việt Nam đang thực hiện chính sách “ba phải, trung dung, đu dây”. Đặc biệt, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược khốc liệt giữa các nước lớn (Mỹ -Trung; Mỹ -Nga; Tam giác chiến lược Mỹ- Trung- Nga), việc Việt Nam tuyên bố xây dựng quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Mỹ (tháng 9/2023) là đang từ bỏ nguyên tắc độc lập, tự chủ để chọn phe, bỏ rơi đồng minh… Chúng xuyên tạc Việt Nam đang “bài Trung, thoát Nga, ngả Mỹ”, “đang ngả về phương Tây”, “theo chân nước này chống nước kia”, đang ngấm ngầm “chọn bên” .
Ngoài ra, sự cạnh tranh Mỹ – Trung còn có nguy cơ đặt Việt Nam vào thế “bị ép chọn phe” hoặc tiến đến “mắc kẹt chiến lược”. Xúc tác trong cạnh tranh chiến lược Mỹ -Trung cũng có thể khiến Việt Nam đối mặt với nguy cơ mất chủ quyền quyết định hoặc lệch hướng phát triển nếu thiếu đối sách thận trọng.
Một số gợi ý cho Việt Nam hiện nay
Trước cục diện thế giới biến động phức tạp và áp lực cạnh tranh chiến lược Mỹ- Trung tiếp tục gia tăng các nước vừa và nhỏ nhiều khả năng sẽ theo đuổi chính sách đối ngoại linh hoạt hơn, chủ động đa dạng hóa quan hệ, giữ cân bằng với tất cả các nước lớn thế “phòng ngự nước đôi”, gia tăng liên kết trong “thế giới phương Nam” (Global South) và đề cao vai trò của chủ nghĩa đa phương, luật pháp quốc tế để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Đối với Việt Nam cần có cách tiếp cận linh hoạt và thận trọng, cụ thể:
Việt Nam cần duy trì quan điểm đối ngoại độc lập, tự chủ, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc là trung tâm. Trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ – Trung ngày càng căng thẳng, các nước nhỏ dễ rơi vào tình huống bị ép buộc “chọn phe”. Tuy nhiên, các nước nhỏ vẫn có thể giữ vững chủ quyền, bảo vệ và đảm bảo cao nhất lợi ích quốc gia nếu xây dựng được đối sách ngoại giao linh hoạt và đúng đắn và hiệu quả. Chính vì vậy, Việt Nam cần tái cơ cấu mạng lưới đối ngoại, phát huy tối đa vai trò của 3 trụ cột đối ngoại: Đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, trong đó đối ngoại nhà nước và đối ngoại nhân dân có vai trò then chốt trong tạo dựng “áo giáp mềm” để bảo vệ lợi ích quốc gia. Khai thác hiệu quả, triệt để kênh đối ngoại nhân dân, coi đối ngoại nhân dân như là một kênh mềm, hiệu quả trong việc cung cấp thông tin minh bạch, hóa giải luận điệu xuyên tạc từ bên ngoài và tạo sự đồng thuận quốc tế” .
Mặt khác, ở góc độ kinh tế, Mỹ và Trung đều là hai đối tác lớn có lợi ích kinh tế tại Việt Nam. Mỹ coi Việt Nam là đầu tàu khu vực để giảm lệ thuộc Trung Quốc, trong khi Trung Quốc coi Việt Nam là đối tác kinh tế quan trọng nhất trong ASEAN. Những bất ổn về kinh tế cũng là nguyên nhân dẫn đến những căng thẳng về chính trị và ngược lại. Vì vậy, để tạo thuận lợi trong quan hệ chính trị, Việt Nam cần cân bằng mối quan hệ kinh tế với cả hai bên, vừa tận dụng lợi thế chuỗi cung ứng dịch chuyển, vừa tránh nguy cơ mất cân bằng thương mại hoặc bị áp thuế chống bán phá giá từ Mỹ do xuất siêu quá mức. Phải lựa chọn chiến lược đúng đắn để thích nghi với xu thế mới và khai thác tối đa lợi thế của một quốc gia nằm ở trung tâm kinh tế năng động nhất thế giới. Việt Nam phải chủ động điều chỉnh quan hệ kinh tế với các nước lớn một cách linh hoạt, nhằm tối đa hóa lợi ích quốc gia, hạn chế các rủi ro do cạnh tranh chiến lược, đặc biệt là giữa Mỹ và Trung Quốc gây ra đối với mô hình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Việt Nam cũng cần phát huy vai trò của đối ngoại quốc phòng. Tiếp tục khẳng định và làm rõ tính chất cơ bản của nền quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, thực hiện nguyên tắc “bốn không”. Bên cạnh đó, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng phải gắn chặt với vai trò bảo đảm an ninh mạng của Nhà nước. Cần tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị – xã hội, thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng đến quan hệ giữa Việt Nam với các nước.
Tiếp tục giữ vững thế cân bằng chiến lược với các nước lớn tập trung vào cân bằng quan hệ Mỹ- Trung. Đồng thời chủ động ứng phó với các tình huống bất ngờ. Thực tế đã cho thấy, thời gian qua Việt Nam đã làm rất tốt chính sách cân bằng trong quan hệ với các nước lớn. Điển hình như năm 2023, 2024, 2025 Việt Nam đã tiếp đón cả Tổng thống Mỹ Joe Biden (tháng 9/2023), Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình (tháng 12/2023, tháng 4/2025), Tổng thống Nga Vladimir Putin (tháng 6/2024)… Những cuộc viếng thăm liên tục của người đứng đầu các quốc gia lớn đã khẳng định được vị thế của Việt Nam trên trường thế giới và trong tính toán chiến lược của họ.
Cách ứng xử của Việt nam trước những diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình thế giới: như Xung đột tại Ucraina, tình hình Trung Đông, Đài Loan, hay những bất ổn tại Biển Đông… Việt Nam đã có cách ứng xử linh hoạt, mềm dẻo khôn khéo để đất nước không bị cuốn vào mâu thuẫn giữa các nước lớn, giữ vững được quan hệ với họ và hơn cả là đã khẳng định được tính linh hoạt, ứng biến, độc lập tự chủ của mình trong lập trường đối ngoại, bảo vệ tốt lợi ích quốc gia dân tộc và làm tốt vai trò là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.
Việt Nam phải khai thác hiệu quả các cơ chế đa phương đặc biệt vai trò trung tâm của ASEAN. Thực tế cho thấy, dù có sự điều chỉnh thế nào về chiến lược của mình qua mỗi thời kỳ, Mỹ vẫn luôn khẳng định ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN . Trung Quốc xem ASEAN là đối tác hàng đầu trong các sáng kiến kinh tế, đặc biệt là Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) và thúc đẩy Khu vực thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA). Trung Quốc khẳng định ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực thông qua các cơ chế như EAS, ADMM+, nhằm giảm ảnh hưởng của Mỹ.
Vì vậy Việt Nam nên tranh thủ chủ trương này của Mỹ và Trung Quốc, phối hợp chặt chẽ cùng các quốc gia AEEAN khác để định hình cấu trúc an ninh khu vực dựa trên luật pháp quốc tế. Các chuyên gia đều nhấn mạnh vai trò trung tâm của ASEAN đã giúp ASEAN trở thành trụ cột của thế giới dựa trên luật lệ.
Những năm qua, vai trò của Việt Nam trong ASEAN tiếp tục được nâng cao. Việt Nam đã và đang đồng chủ trì Nhóm cứu trợ thiên tai ARF và tích cực tham gia xử lý các vấn đề Biển Đông, Myanmar, Bán đảo Triều Tiên theo lập trường hòa bình và tuân thủ UNCLOS 1982. Việt Nam cũng đã khẳng định vai trò kiến tạo trong ASEAN suốt 30 năm qua, không chỉ là cầu nối Đông – Tây mà còn thúc đẩy đoàn kết nội khối, dẫn dắt chính sách vùng, như: tiến trình xây dựng Bộ quy tắc Ứng xử Biển Đông (COC), đề xuất sáng kiến an ninh lương thực và kinh tế số ASEAN. Đây vừa là yếu tố củng cố vị thế quốc tế, vừa giúp Việt Nam có tiếng nói mạnh hơn trên bàn cờ khu vực.
Với tầm nhìn dài hạn đến 2050, Việt Nam nên chủ động hơn vai trò kiến tạo trong ASEAN thể hiện qua chủ động đưa ra sáng kiến, đề xuất chương trình nghị sự, kết nối lợi ích giữa các thành viên. Đặc biệt cần thể hiện hình ảnh, tiếng nói và ảnh hưởng trong các vấn đề, như: Biển Đông, an ninh khu vực, kinh tế số.
Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định vai trò là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong các tổ chức, diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế như: ASEAN, UNDP, APEC, WTO. Tăng cường hợp tác đa phương thông qua các cơ chế như IPEF, CPTPP, RCEP, duy trì các tiếp cận đa dạng, tự chủ để phân tán rủi ro, tăng cường phục hồi trước những chính sách và hành xử khó đoán của Mỹ, đặc biệt trong nhiệm kỳ của Dolal Trump 2.0 và trong những biến động mới từ chính trường nước Mỹ thời gian tới.
Việt Nam cần củng cố nội lực, nâng cao hình ảnh và vị thế, uy tín của đất nước. Đây là con đường đi mang giá trị lâu dài và đóng vai trò quyết định trong việc đối phó với những biến động khó lường của tình hình chính trị, an ninh toàn cầu hiện nay. Việt Nam cần nâng cao năng lực nội địa, giá trị mặc cả trong quan hệ với các nước lớn, nỗ lực đa dạng hoá đối tác chiến lược. Bước đi này giúp Việt Nam mở rộng không gian hợp tác ra ngoài phạm vi Mỹ- Trung, góp phần củng cố nội lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, từ đó nâng cao vị thế chiến lược và khả năng thương lượng của quốc gia.
Thời gian tới, hình thái quan hệ Mỹ – Trung Quốc tốt nhất đối với Việt Nam sẽ là Mỹ và Trung Quốc cạnh tranh chiến lược trong hòa bình, cạnh tranh giữa hai bên không dẫn đến đối đầu hay bắt tay thỏa hiệp. Tuy nhiên, hình thái quan hệ và tương quan lực lượng Mỹ – Trung Quốc trong dài hạn ra sao là một khó khăn lớn cho công tác dự báo của đất nước. Việt Nam chỉ có thể tự điều chỉnh chính sách, chuẩn bị để ứng phó với các kịch bản khác nhau nhằm bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia, hạn chế tối đa những tác động bất lợi trung và dài hạn đối với đất nước.
Thực tế cho thấy, lợi ích chiến lược của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nếu quan hệ của Việt Nam với hai nước lớn xấu đi. Chính vì vậy, Việt Nam phải tăng cường năng lực nghiên cứu, dự báo chiến lược để chủ động đánh giá chính sách của các siêu cường, xác định vị trí chiến lược của mình trong bối cảnh khu vực. Trên cơ sở đó, xây dựng chiến lược tổng thể về quan hệ đối ngoại với Mỹ và Trung Quốc, khẳng định sự tự chủ, độc lập, duy trì sự ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để đất nước phát triển và nâng cao vị thế trên trường quốc tế trong kỷ nguyên cạnh tranh địa chính trị ngày càng phức tạp của nền chính trị thế giới.
TS.Lê Thị Bình/ Học viện Chính trị khu vực II
Tài liệu tham khảo
Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 19 của Đảng CSTQ, tại trang https://vov.vn/the gioi/ho-so/nhan-dien-trung-quoc-qua-bao-cao-chinh-tri-trinh-bay-tai-dai-hoi-19-687472.vov ngày 18-10 2017.
Toàn văn Báo cáo tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ngày 26/10/22 https://hochiminhcity.chinaconsulate.gov.cn/xwdt/202210/t20221026_10792286.html
Swaine, M. D. (2012). Chinese leadership and elite responses to the US Pacific pivot. China Leadership Monitor, 38(5), 1-26.
Bộ Quốc phòng (2020). Sách trắng Quốc phòng năm 2019. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng Sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, t1,t2. Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật. Quan hệ ASEAN – Trung Quốc: Ba mươi năm nhìn lại và hướng tới – BÌNH LUẬN – Tạp chí Cộng sản- Ngày 5/8/2021.
White House. (2022). Indo-Pacific Strategy of United States. http://bidenwhite house.archives.gov/wp-content/uploads/2022/02/U.S-Indo-Pacific-Strategy.pdf.


