Tám mươi năm sau Trận Giồng Bốm, Phong Thạnh, Cà Mau vẫn giữ một địa chỉ đỏ nặng nghĩa tình. Năm 1946, từ Tòa thánh Ngọc Minh, hơn 2.000 quần chúng, tín đồ, chức sắc, chức việc Cao Đài Minh Chơn Đạo tham gia phục vụ và trực tiếp chiến đấu bảo vệ căn cứ kháng chiến. Trước cuộc tấn công của hai tiểu đoàn quân viễn chinh Pháp, 137 người anh dũng hy sinh. Máu xương ấy khắc vào lịch sử một trận đánh lớn ở Tây Nam Bộ, để lại bài học về đại đoàn kết, thế trận lòng dân và nghệ thuật chiến tranh nhân dân.

Một trận đánh, nhiều giá trị lịch sử
Tám mươi năm đã đi qua, tiếng súng đã lùi xa, nhưng Giồng Bốm không xa lạ với người dân Phong Thạnh. Trong những ngày tháng Tư lịch sử, khi tỉnh Cà Mau tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Trận Giồng Bốm (4/1946-4/2026), nhiều người trở lại khu di tích không chỉ để dâng hương. Họ về để nhắc nhau một phần lịch sử quê hương, nơi những người dân bình dị đã lựa chọn đứng về phía Tổ quốc trong thời khắc nền độc lập non trẻ bị đe dọa. Buổi lễ diễn ra trong không khí hướng tới 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, làm rõ thêm ý nghĩa tri ân và trách nhiệm tiếp nối.
Tại lễ kỷ niệm, ông Ngô Vũ Thăng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, khẳng định Trận Giồng Bốm là trận chiến đấu có quy mô lớn nhất tại khu vực Tây Nam Bộ trong những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến. Nhận định ấy không chỉ nói về quy mô hay mức độ ác liệt, mà còn nhắc đến tầm vóc chính trị, tinh thần của một sự kiện, nơi lòng yêu nước và chân lý “Đạo không rời đời” được chứng minh bằng hành động, hy sinh.
Trở lại năm 1946, bối cảnh lúc ấy hết sức ngặt nghèo. Sau Cách mạng Tháng Tám, thực dân Pháp quay lại xâm lược, Nam Bộ bước vào cuộc kháng chiến thiếu thốn, gấp gáp. Hưởng ứng Lời kêu gọi Nam Bộ kháng chiến, Hội thánh Cao Đài Minh Chơn Đạo do cụ Cao Triều Phát lãnh đạo tổ chức “Khoáng đại hội nghị” tại Tòa thánh Ngọc Minh, Giồng Bốm, thống nhất chọn nơi đây làm căn cứ kháng chiến. Tinh thần “Cứu nước là cứu đạo” trở thành lời hiệu triệu của chức sắc, chức việc, tín đồ và nhân dân.
Cụ Cao Triều Phát khi ấy là Phó Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh tỉnh Bạc Liêu, Quyền Chưởng quản Hiệp Thiên đài Hội thánh Cao Đài Minh Chơn Đạo, Tổng trưởng Thanh niên Đoàn đạo đức Hậu Giang. Cụ cùng Hội thánh vận động chức sắc, chức việc, tín đồ và nhân dân đoàn kết chống thực dân Pháp tái xâm lược. Điểm đáng chú ý ở Giồng Bốm là sự chuyển hóa của một không gian tôn giáo thành căn cứ kháng chiến. Dưới mái Tòa thánh Ngọc Minh, lòng yêu nước không dừng ở lời kêu gọi. Nó được tổ chức thành lực lượng, hậu cần, trận địa cho một cuộc đối đầu không cân sức.
Sau hơn 5 tháng chuẩn bị lực lượng và cơ sở vật chất, căn cứ Giồng Bốm quy tụ hơn 2.000 quần chúng, tín đồ, chức sắc, chức việc tham gia phục vụ chiến đấu và trực tiếp chiến đấu. Tại căn cứ có nhiều bộ phận đảm trách nhiệm vụ khác nhau, trong đó có 18 trung đội chiến đấu. Sáng 15/4/1946, quân Pháp huy động hai tiểu đoàn viễn chinh, cùng nhiều vũ khí hiện đại, chia ba hướng tấn công vào căn cứ. Trong điều kiện trang bị thô sơ, lực lượng tại Giồng Bốm vẫn bám trụ, chiến đấu quyết liệt, gây cho địch nhiều tổn thất, góp phần làm chậm bước tiến của quân xâm lược.
Trận chiến diễn ra ác liệt. Nhiều công trình của Hội thánh Cao Đài Minh Chơn Đạo bị tàn phá. 137 chức sắc, chức việc, đạo tâm và thanh niên Đoàn đạo đức hy sinh vì sự nghiệp kháng chiến cứu nước. Con số ấy không cần tô đậm thêm bằng những lời bi tráng. Chỉ cần nhắc đúng, đặt đúng trong bối cảnh những ngày đầu kháng chiến, đã đủ để thấy sự lựa chọn của họ lớn đến mức nào. Đó là sự lựa chọn của những người đi từ cửa đạo ra trận tuyến, lấy vận mệnh dân tộc làm lẽ sống.
Nhìn từ chiều sâu lịch sử, Trận Giồng Bốm không thể chỉ được hiểu là một trận chống càn hay cuộc phòng thủ căn cứ. Giá trị lớn hơn nằm ở chỗ, trong tương quan lực lượng nghiêng hẳn về phía quân viễn chinh Pháp, Giồng Bốm chứng minh sức mạnh kháng chiến không chỉ đến từ vũ khí. Sức mạnh ấy còn đến từ lòng dân, niềm tin chính nghĩa, khả năng quy tụ và tổ chức quần chúng thành lực lượng hành động. Đây là nền tảng của chiến tranh nhân dân, thứ nền tảng nuôi dưỡng cuộc kháng chiến lâu dài ở Nam Bộ.

Từ địa chỉ đỏ đến điểm đến văn hóa – lịch sử
Một trận đánh, nếu chỉ nằm lại trong hồ sơ, sách vở, rồi cũng có lúc xa với nhiều người. Giồng Bốm thì khác. Nơi đây vẫn được người dân nhắc nhớ qua những lần giỗ trận, nén hương tưởng niệm và câu chuyện truyền lại trong từng gia đình. Vì vậy, Giồng Bốm không chỉ là di tích, mà là địa chỉ đỏ còn sống trong đời sống hôm nay của Cà Mau.
Năm 2011, địa điểm Trận Giồng Bốm được công nhận là Di tích lịch sử cấp tỉnh. Đến năm 2021, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng nơi đây là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Việc xếp hạng di tích không phải là điểm kết thúc của công tác tri ân. Đó là điểm khởi đầu cho trách nhiệm lâu dài: giữ lại ký ức, làm cho ký ức ấy thành nguồn lực giáo dục hôm nay. Một khu di tích không chỉ cần bia đá, nhà truyền thống, hương khói. Điều cần hơn là để người trẻ khi đến Giồng Bốm hiểu vì sao hơn 2.000 người từng quy tụ nơi này, vì sao 137 người ngã xuống, và vì sao một căn cứ kháng chiến có thể hình thành từ lòng dân.
Trong chiến tranh, lòng dũng cảm là cần thiết nhưng chưa đủ. Trận Giồng Bốm cho thấy cách ứng xử quân sự phù hợp với điều kiện đầu kháng chiến: xây dựng căn cứ dựa vào quần chúng; chuẩn bị lực lượng, cơ sở vật chất trong khả năng có thể; tổ chức nhiều lực lượng cùng phục vụ và chiến đấu; bám trụ khi địch tấn công; khi cần thiết, rút về Cái Nước để bảo toàn lực lượng, tiếp tục kháng chiến lâu dài. Giá trị ấy phản ánh tư duy chiến tranh nhân dân trong điều kiện lực lượng còn non trẻ, trang bị thiếu thốn, địa bàn chịu sức ép từ quân viễn chinh.
Từ góc nhìn ấy, Giồng Bốm không chỉ là nơi tưởng niệm, mà còn là một lớp học lịch sử ngoài trời. Ở đó, bài học đại đoàn kết không nằm trong khẩu hiệu, mà hiện ra qua thành phần lực lượng tham gia kháng chiến. Bài học yêu nước không chỉ là cảm xúc, mà là lựa chọn hành động. Bài học quân sự không chỉ là đánh hay rút, mà là biết đặt từng trận đánh trong yêu cầu bảo toàn, phát triển lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài.
Tại lễ kỷ niệm 80 năm, lãnh đạo UBND tỉnh Cà Mau đề nghị các sở, ngành, địa phương tiếp tục trùng tu, tôn tạo, mở rộng không gian Di tích Trận Giồng Bốm theo hướng đồng bộ, trang nghiêm; hoàn thiện giao thông kết nối, cảnh quan môi trường, hạng mục phụ trợ; nâng cao chất lượng Nhà Truyền thống và không gian trưng bày. Cùng với đó là nghiên cứu, sưu tầm, bổ sung tư liệu, hiện vật; đào tạo thuyết minh viên; tăng cường hành trình về nguồn, tọa đàm, hội thảo, tuyên truyền trên báo chí và nền tảng số.
Những định hướng ấy cho thấy cách nhìn rõ ràng hơn về bảo tồn di tích: không đóng khung Giồng Bốm trong quá khứ, mà đặt di tích vào đời sống hôm nay. Về lâu dài, Cà Mau xác định gắn bảo tồn và phát huy giá trị Di tích Trận Giồng Bốm với phát triển du lịch văn hóa – lịch sử – tâm linh; từng bước xây dựng nơi đây thành điểm đến có ý nghĩa giáo dục truyền thống, mang đậm bản sắc văn hóa và lịch sử vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc.
Muốn làm được điều đó, hạ tầng là điều kiện quan trọng. Lãnh đạo tỉnh đề nghị xã Phong Thạnh quan tâm đầu tư, nâng cấp đường vào di tích và các công trình liên quan, tạo thuận lợi kết nối với Quốc lộ 1A, Quản lộ Phụng Hiệp và các tuyến giao thông khác. Song song với đó là công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo gia đình chính sách, người có công, nhất là thân nhân các gia đình thương binh, liệt sĩ có tham gia Trận Giồng Bốm.
Giồng Bốm hôm nay không còn tiếng súng. Nhưng từ vùng đất ấy vẫn vọng lên lời nhắc giản dị: độc lập, tự do chưa bao giờ tự nhiên có được. Nó được đánh đổi bằng máu xương của người đi trước; được giữ gìn bằng trí nhớ trung thực hôm nay; và được tiếp nối bằng trách nhiệm xây dựng quê hương, đất nước phát triển, văn minh, nghĩa tình.
Tám mươi năm nhìn lại, Trận Giồng Bốm không chỉ thuộc về lịch sử Cao Đài Minh Chơn Đạo, không chỉ thuộc về Bạc Liêu – Cà Mau, mà là một phần trong mạch nguồn Nam Bộ kháng chiến. Ở đó, một căn cứ giữa vùng đất đạo trở thành biểu tượng của lòng dân; người ngã xuống để một vùng đất đứng lên. Từ đó, bài học về đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, nghệ thuật chiến tranh nhân dân vẫn còn nguyên giá trị trong hành trình dựng xây, bảo vệ Tổ quốc.
Trọng Nguyễn


