Sáng 26/4/2026, tại Đền thờ Vua Hùng Cần Thơ, lễ Giỗ Tổ Hùng Vương diễn ra trang nghiêm, hướng về cội nguồn. Cùng ngày, Lễ hội Bánh dân gian Nam Bộ lần thứ XIII khai mạc tại Quảng trường phường Bình Thủy, kéo dài đến 1/5/2026. Giữa hai không gian ấy, bản đồ Việt Nam làm từ 700kg xôi nếp là điểm nhấn nối mạch tri ân với hương vị phương Nam. Từ hạt gạo, trái dừa, tàu lá chuối đến bàn tay nghệ nhân, bánh quê thành văn hóa sống.

Từ khói hương Đất Tổ đến sắc vị dân gian
Buổi sáng ở Quảng trường phường Bình Thủy bắt đầu bằng nhịp điệu của một ngày lễ lớn: dòng người về Đền thờ Vua Hùng, cờ phướn trong sân lễ, tiếng trống nghi thức và những mâm lễ được chuẩn bị cẩn trọng. Trong ngày 10 tháng 3 âm lịch, Cần Thơ không chỉ tổ chức dâng hương Quốc Tổ mà còn mở mùa hội bánh dân gian Nam Bộ. Sự gặp nhau của hai hoạt động không tách rời. Một bên là lễ nghi nguồn cội, một bên là hương vị đời sống; cả hai cùng dựa trên ký ức cộng đồng, lòng biết ơn tiền nhân và nếp văn hóa truyền qua nhiều thế hệ.
Điểm nhấn của ngày khai hội là bản đồ Việt Nam làm từ xôi nếp, nặng 700kg, kích thước 2,6m x 2m, dày 8cm, sử dụng 34 màu tượng trưng cho 34 tỉnh, thành phố sau hợp nhất. Chi tiết ấy giàu tính thị giác nhưng không đứng ngoài mạch lễ hội. Hạt nếp vốn có mặt trong mâm cúng, ngày tết, đám giỗ; khi kết lại thành hình đất nước, nó nhắc rằng văn hóa lớn nhiều khi khởi đi từ những vật liệu gần gũi: hạt gạo, bếp nhà, bàn tay người làm và ý thức nhớ nguồn.
Lễ hội Bánh dân gian Nam Bộ lần thứ XIII năm 2026, với chủ đề “Hương sắc giao hòa – Trọn vị phương Nam”. Không gian lễ hội có khu bánh dân gian, đặc sản vùng miền, ẩm thực, bảo tồn bánh dân gian Nam Bộ, quảng bá xúc tiến du lịch, thương mại dịch vụ. Quy mô hàng trăm gian hàng cho thấy chiếc bánh quê đã bước khỏi gian bếp gia đình để tham gia không gian công cộng, nơi người làm bánh gặp du khách, nghệ nhân gặp người trẻ, địa phương gặp thị trường.

Nguồn gốc bánh dân gian Nam Bộ gắn với đời sống nông nghiệp lúa nước và điều kiện tự nhiên của vùng sông rạch, vườn cây, ruộng lúa. Gạo, nếp, đậu, khoai, chuối, dừa, lá chuối, lá dứa, lá cẩm không chỉ là nguyên liệu chế biến. Đó là sản vật của đất phù sa, mùa vụ, vườn nhà và kinh nghiệm thích nghi với môi trường. Từ những thứ có sẵn quanh nhà, người Nam Bộ làm bánh để ăn, đãi khách, cúng giỗ, cưới hỏi, tết nhất, đem ra chợ bán hoặc gửi theo ghe xuồng. Chiếc bánh vì thế vừa là món ăn, vừa là phương tiện giao tiếp xã hội.
Cái bền của bánh dân gian nằm ở chỗ công thức không chỉ được ghi bằng chữ. Nó được truyền qua mắt nhìn và bàn tay. Người làm bánh biết chọn nếp, ngâm gạo, xay bột, thắng nước cốt dừa, canh lửa để bánh không bở, không khét, không mất mùi. Trong nhiều gia đình, trẻ nhỏ học làm bánh bằng cách rửa lá, phụ khuấy bột, chờ nồi bánh đêm giao thừa, chia bánh sau ngày giỗ. Sự truyền dạy ấy âm thầm, nhưng giữ lại nếp nhà, tính cần cù, sự khéo léo và đạo lý tri ân.
Các yếu tố phái sinh tạo nên bánh dân gian rất rộng. Có nghề trồng lúa, làm bột, nạo dừa, đan rổ, làm khuôn, gói lá, nhóm bếp. Có chợ quê, chợ nổi, gánh hàng, ghe bánh, đình làng, lễ hội, mâm cúng, mâm cưới. Có tiếng rao, cách mời khách, cách bày bánh, cách gói đem về. Có vai trò của người bà, người mẹ, nghệ nhân, tiểu thương, hộ sản xuất, cơ sở làm bánh và cộng đồng địa phương. Một chiếc bánh nhỏ vì vậy chứa cả hệ sinh thái văn hóa: từ sản vật đến lao động, từ nghi lễ đến sinh kế, từ ký ức gia đình đến sản phẩm du lịch.
Nam Bộ là vùng đất cộng cư và giao thương. Trong quá trình khai phá, lập làng, mở chợ, sự giao thoa giữa các cộng đồng Kinh, Hoa, Khmer, Chăm và các nhóm cư dân khác góp phần làm phong phú cách dùng bột, phối vị, tạo màu, gói lá, đặt tên, sử dụng bánh trong lễ nghi và sinh hoạt thường ngày. Bánh dân gian Nam Bộ vì thế không chỉ mộc mạc mà còn đa dạng. Mỗi chiếc bánh phản ánh lịch sử cư trú, khả năng thích nghi với thiên nhiên, tinh thần cởi mở, phóng khoáng và sáng tạo của cư dân phương Nam.
Tại lễ hội năm 2026, hội thi bánh dân gian có 27 đơn vị tham gia với 77 món bánh dự thi. Cùng với đó là trình diễn, trò chơi dân gian, chương trình nghệ thuật, thời trang, âm nhạc đường phố. Những hoạt động này làm rõ giá trị văn hóa của bánh dân gian: không chỉ để ăn, mà để nhìn thấy nghề, nghe được câu chuyện, nhận ra bàn tay nghệ nhân và hiểu vì sao một món bánh có thể sống lâu trong cộng đồng. Khi du khách dừng lại trước gian bánh, nếu được nghe cách làm, nguồn gốc, dịp dùng, họ còn mang về một phần ký ức phương Nam.

Giữ hồn bánh, dựng không gian văn hóa sống
Một lễ hội đông người không thể chỉ dựa vào sự rộn ràng. Quy mô lớn, thời gian kéo dài qua các ngày lễ, số lượng gian hàng nhiều và nội dung phong phú đòi hỏi bộ máy tổ chức vận hành chặt chẽ. Với Lễ hội Bánh dân gian Nam Bộ năm 2026, UBND TP Cần Thơ giữ vai trò chỉ đạo; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp Trung tâm Xúc tiến Đầu tư – Thương mại và Du lịch cùng các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan thực hiện. Vai trò hành chính không chỉ là cấp phép hay chỉ đạo tổ chức, mà kiến tạo không gian văn hóa an toàn, trật tự.
Từ góc nhìn tổ chức, mỗi chi tiết đều quan trọng: mặt bằng gian hàng, lối đi, bãi xe, khu chế biến, khu thưởng thức, sân khấu, điểm vệ sinh, điểm thông tin, phương án thoát hiểm, phòng cháy chữa cháy. Bánh dân gian vốn gần bếp quê, nhưng khi đi vào lễ hội đô thị, mọi công đoạn phải đặt trong chuẩn quản lý mới. Nguyên liệu cần rõ ràng, chế biến bảo đảm vệ sinh, gian hàng tuân thủ quy định, giá bán niêm yết, rác thải được thu gom, việc dùng bếp, gas, điện phải an toàn.
Công tác bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm là phần không thể tách khỏi giá trị lễ hội. Nếu tổ chức thiếu chặt chẽ, không gian đông người dễ phát sinh ùn tắc, chèo kéo, tăng giá, mất vệ sinh hoặc sự cố cháy nổ. Ngược lại, khi chính quyền chuẩn bị kỹ, lực lượng chức năng phối hợp nhịp nhàng, thông tin giao thông rõ ràng, người bán được tập huấn và người dân được hướng dẫn, lễ hội sẽ để lại hình ảnh một Cần Thơ thân thiện, an toàn.
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định văn hóa là nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững; đồng thời nhấn mạnh đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững. Nghị quyết cũng đặt vai trò dẫn dắt của Nhà nước, nguồn lực xã hội và khu vực tư nhân, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong phát triển văn hóa. Nhìn từ tinh thần đó, lễ hội bánh dân gian là thực hành cụ thể của việc đưa văn hóa vào đời sống.
Giá trị văn hóa của bánh dân gian theo tinh thần Nghị quyết 80 không dừng ở bảo tồn công thức cũ. Chiếc bánh cần tiếp tục sống trong cộng đồng, trường học, du lịch, kinh tế sáng tạo và sinh kế người dân. Nó có thể trở thành nguồn lực nhận diện vùng đất, giáo dục truyền thống, phát triển sản phẩm du lịch, kết nối nghệ nhân với doanh nghiệp, tạo việc làm cho hộ sản xuất. Vì vậy, lễ hội không nên chỉ là nơi mua bán trong vài ngày, mà phải là nơi nghệ nhân được tôn vinh, người trẻ được học nghề, du khách hiểu câu chuyện văn hóa.

Từ thực tế những năm qua, Cần Thơ có thể nâng giá trị lễ hội bằng việc xây dựng cơ sở dữ liệu số về bánh dân gian Nam Bộ, ghi nhận tên bánh, địa phương phổ biến, nguyên liệu, kỹ thuật, dịp sử dụng, nghệ nhân và câu chuyện văn hóa. Mỗi gian hàng có thể có mã QR, bảng giới thiệu, hình ảnh hoặc video về quy trình làm bánh. Khi đó, du khách không chỉ ăn bánh, mà đọc được lịch sử món bánh, hiểu vì sao màu lá, mùi dừa, cách gói lại gắn với nếp sống địa phương.
Lễ hội cần phải tăng không gian trình diễn nghề thuật. Nghệ nhân được đặt ở vị trí trung tâm, có khung giờ giới thiệu cách xay bột, gói bánh, đổ khuôn, tạo màu tự nhiên, nướng, hấp, thắng nước cốt dừa. Hoạt động ấy cần người thuyết minh, khu vực trải nghiệm cho học sinh, sinh viên, du khách. Khi người trẻ được chạm vào bột, tự gói một chiếc bánh, nghe câu chuyện từ nghệ nhân, việc bảo tồn không còn là khẩu hiệu. Nó trở thành trải nghiệm có thể nhớ, kể lại, tiếp tục trong gia đình và cộng đồng.
Các hoạt động cần gắn với tuyến du lịch Cần Thơ và Đồng bằng sông Cửu Long. Từ Đền thờ Vua Hùng, Quảng trường Bình Thủy, Cồn Sơn, chợ nổi Cái Răng, làng nghề, vườn cây, homestay, có thể hình thành tuyến trải nghiệm “nguồn cội – sông nước – bánh dân gian”. Cách làm này giúp lễ hội không khép lại sau ngày bế mạc, mà mở dòng khách quanh năm. Bánh dân gian khi ấy đi vào tour tuyến, bữa ăn trải nghiệm, lớp học nấu bánh, sản phẩm quà tặng, câu chuyện truyền thông và thương hiệu văn hóa của thành phố.
Sau cùng, cần giữ nguyên tắc: thương mại hóa phải phục vụ bảo tồn. Gian hàng cần xanh, sạch, an toàn, có bản sắc; bao bì thân thiện môi trường; thông tin nguyên liệu minh bạch; giá bán rõ ràng; rác thải được kiểm soát. Nếu chỉ chạy theo quy mô và điểm nhấn thị giác, hồn cốt bánh quê dễ bị mờ. Nếu mỗi chiếc bánh được đặt đúng trong câu chuyện nguồn gốc, mỗi nghệ nhân là chủ thể văn hóa, mỗi cơ quan quản lý làm tốt vai trò kiến tạo, lễ hội sẽ trở thành không gian văn hóa sống của phương Nam.

Trọng Nguyễn


