Thứ Tư, Tháng 1 28, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Hiệp định Paris về Việt Nam – Mốc son thắng lợi trên Mặt trận ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh

Bài viết Kỷ niệm 53 năm ngày ký hiệp định Paris 27/01/1973 – 27/01/2026

ĐNA -

Cách đây 53 năm, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam chính thức được ký kết tại Paris, buộc Mỹ công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam và rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra  khỏi miền Nam. Đây là bước ngoặt lịch sử, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, là đỉnh cao ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh. Hiệp định tạo thế và lực mới cho cách mạng, góp phần đưa đến Đại thắng mùa Xuân 1975, thắng lợi mang ý nghĩa lịch sử to lớn của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Quang cảnh lễ ký kết chính thức Hiệp định Paris.

Trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, chưa từng có một cuộc đàm phán nào kéo dài và căng thẳng như Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Diễn ra từ ngày 15/3/1968 đến 27/1/1973, cuộc đàm phán kéo dài suốt 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, một khoảng thời gian đầy thử thách với 202 phiên họp công khai, 45 cuộc họp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo, hơn 1.000 cuộc phỏng vấn, cùng hàng nghìn cuộc mít tinh phản đối chiến tranh và ủng hộ Việt Nam trên toàn thế giới.

Dưới sức ép quân sự, chính trị và ngoại giao, Việt Nam kiên định lập trường xuyên suốt: buộc Mỹ chấm dứt chiến tranh, rút toàn bộ quân đội mà không được kèm theo bất kỳ điều kiện nào. Cuộc đàm phán Paris gồm ba giai đoạn then chốt:

Giai đoạn đầu (13/5/1968 – 31/10/1968): Việt Nam đấu tranh quyết liệt để buộc Mỹ phải chấp nhận chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống lại miền Bắc kể từ ngày 31/10/1968. Đồng thời, ta kiên trì yêu cầu mở rộng thành phần đàm phán thành hội nghị bốn bên, có sự tham gia chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, một thắng lợi quan trọng về chính trị và ngoại giao, khẳng định vai trò của lực lượng cách mạng miền Nam.

Giai đoạn hai (25/1/1969 – giữa năm 1972): Đây là giai đoạn đấu tranh gay gắt nhất về nội dung cốt lõi: chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút toàn bộ quân đội và vũ khí Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam, xóa bỏ chính quyền Sài Gòn tay sai, và tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam. Trong khi đó, Mỹ tìm cách duy trì chính quyền Sài Gòn và khu phi quân sự như một “giải pháp trung gian”, thậm chí đề xuất cả việc Mỹ và miền Bắc cùng rút quân – một đề xuất bị Việt Nam kiên quyết bác bỏ.

Giai đoạn cuối (từ tháng 7/1972 đến 27/1/1973): Sau những thất bại quân sự nặng nề ở cả hai miền Nam – Bắc, Mỹ buộc phải quay lại bàn đàm phán. Tuy nhiên, họ vẫn theo đuổi chiến lược “đàm phán trên thế mạnh”, hy vọng có thể xoay chuyển tình thế bằng sức mạnh quân sự. Đỉnh điểm là cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 cuối tháng 12/1972  (chiến dịch “Linebacker II”), với âm mưu dùng hỏa lực hủy diệt để buộc Việt Nam nhượng bộ. Nhưng chiến thắng vang dội của quân và dân ta trong trận “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã đánh bại hoàn toàn ý đồ đó. Chỉ sau thất bại này, Mỹ mới chấp nhận ký kết Hiệp định Paris.

Hiệp định Paris năm 1973 là dấu mốc quyết định, đánh dấu thắng lợi chiến lược quan trọng của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Với việc buộc Mỹ rút toàn bộ quân đội và chư hầu ra khỏi miền Nam, nhân dân ta đã hoàn thành mục tiêu “đánh cho Mỹ cút” như lời Bác Hồ từng căn dặn, qua đó mở ra một giai đoạn mới, tạo nên so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng miền Nam, tiến tới mục tiêu “đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Điểm then chốt là dù Mỹ rút quân, lực lượng chính trị và vũ trang của ta vẫn được giữ nguyên tại miền Nam Việt Nam, một điều khoản mang tính đột phá, phản ánh thắng lợi thực tiễn và trên bàn đàm phán. Chính điều này đã tạo bàn đạp trực tiếp, cả về thế và lực, để quân dân ta tiến tới Chiến thắng mùa Xuân năm 1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ, thu non sông về một mối.

Việt kiều ở Paris hoan nghênh Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết năm 1973.

Hiệp định Paris còn là biểu tượng của thắng lợi ngoại giao đỉnh cao trong bối cảnh quốc tế đầy biến động. Việt Nam đã khéo léo tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa, các quốc gia không liên kết và đặc biệt là phong trào nhân dân thế giới phản đối chiến tranh, ủng hộ Việt Nam. Trên thực tế, một “mặt trận nhân dân thế giới” chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ đã được hình thành, trở thành nguồn sức mạnh tinh thần, chính trị và ngoại giao to lớn cho nhân dân Việt Nam trên con đường đi đến hòa bình và thống nhất đất nước.

Sự hình thành của mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ không chỉ là kết quả của làn sóng phản đối chiến tranh lan rộng khắp toàn cầu, mà còn là minh chứng sinh động cho phương châm kết hợp giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, giữa nội lực quốc gia với sự hậu thuẫn quốc tế, giữa ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân, một đặc điểm nổi bật trong đường lối đối ngoại của Việt Nam thời kỳ kháng chiến. Chính sự kết hợp khéo léo, linh hoạt và sáng tạo này đã làm nên một thế trận ngoại giao toàn diện, trong đó Việt Nam không đơn độc trên bàn đàm phán mà được hậu thuẫn bởi tiếng nói của lương tri nhân loại.

Nhân tố quyết định làm nên thắng lợi to lớn tại Hội nghị Paris chính là sự lãnh đạo đầy bản lĩnh, trí tuệ và sáng suốt của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đảng đã xác định đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính, đồng thời đề ra chủ trương đối ngoại độc lập, tự chủ nhưng linh hoạt và đầy sáng tạo. Nhờ vậy, Việt Nam vừa giành được thắng lợi trên chiến trường, vừa làm chủ thế trận ngoại giao, buộc đối phương phải xuống thang và cuối cùng là ký kết Hiệp định Paris, một thắng lợi vang dội về chính trị và ngoại giao, góp phần quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Một trong những nghệ thuật ngoại giao đặc sắc của Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa “đánh” và “đàm”, một chiến lược vừa thể hiện bản lĩnh quân sự, vừa phản ánh tư duy ngoại giao linh hoạt, chủ động và sáng tạo. Hoạt động ngoại giao không tách rời chiến trường, mà gắn bó mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau: trên bàn đàm phán, ta tranh thủ dư luận thế giới, cô lập kẻ thù, giành ưu thế chính trị; trong khi trên chiến trường, những thắng lợi vang dội đã tạo thêm thế và lực cho ta trên bàn đàm phán, buộc đối phương phải nhượng bộ từng bước, làm thay đổi tương quan lực lượng và thế trận tổng thể.

Một nhân tố quan trọng góp phần tạo nên thắng lợi ấy chính là việc ta chủ động thúc đẩy hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ. Đó không chỉ là kết quả của ngoại giao nhân dân năng động, mà còn là thắng lợi của cuộc đấu tranh chính nghĩa. Việt Nam đã khôn khéo kết hợp lý lẽ và thực tiễn để vạch trần tính chất phi nghĩa, phi nhân đạo của cuộc chiến tranh xâm lược do Mỹ tiến hành; khẳng định lập trường yêu chuộng hòa bình, chính nghĩa và quyền tự quyết của dân tộc; làm nổi bật tính tất thắng của ta và thế thất bại tất yếu của Mỹ. Đồng thời, ta kiên trì tố cáo các âm mưu bóp méo sự thật, hành vi lừa bịp của kẻ thù trước công luận quốc tế, tranh thủ sự đồng tình và hậu thuẫn mạnh mẽ từ nhân dân yêu chuộng hòa bình khắp năm châu.

Chủ tịch nước Lương Cường kêu gọi ủng hộ bỏ cấm vận Cuba tại Trụ sở Đại hội đồng Liên hiệp Quốc.

Thành công ấy không thể tách rời sự chỉ đạo sát sao, đầy trí tuệ và chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị. Đồng thời, cũng phải ghi nhận đóng góp lớn lao và sáng tạo của Đoàn đàm phán Việt Nam tại Hội nghị Paris. Đoàn đã vận dụng chiến thuật khôn khéo, lập luận sắc bén và giàu sức thuyết phục để bảo vệ những nguyên tắc cốt lõi, như: khẳng định quyền tồn tại hợp pháp của các lực lượng cách mạng miền Nam, yêu cầu quân Mỹ và chư hầu phải rút hoàn toàn khỏi Việt Nam, đồng thời khéo léo duy trì lực lượng của ta ở miền Nam.

Đoàn cũng chủ động đưa ra nhiều sáng kiến phù hợp với tình hình thực tế, tiêu biểu là các đề xuất giải pháp đồng bộ 10 điểm, 8 điểm, 7 điểm, những nội dung vừa thể hiện thiện chí hòa bình, vừa giữ vững lập trường nguyên tắc. Quan trọng hơn, đoàn đã biết “tranh thủ thời cơ và tạo thời cơ”, vận dụng linh hoạt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, giữ vững cái cốt lõi bất biến trong khi linh hoạt ứng xử với diễn biến tình hình, từ đó làm chủ cuộc chơi ngoại giao và đi đến thắng lợi cuối cùng.

Thắng lợi của Hiệp định Paris năm 1973 là kết quả trực tiếp của quá trình vận dụng sâu sắc, sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, nền tảng lý luận và thực tiễn vững chắc của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Đó là sự kiên định lập trường độc lập, tự chủ trong mọi tình huống; là tầm nhìn chiến lược khi đánh giá, dự báo thời cuộc quốc tế; là nghệ thuật “kết hợp giữa đánh và đàm”, vừa kiên trì đấu tranh trên bàn đàm phán, vừa giành thắng lợi trên chiến trường.

Ngoại giao Việt Nam đã thành công trong việc tranh thủ dư luận tiến bộ toàn thế giới, khéo léo tập hợp lực lượng ủng hộ chính nghĩa, đồng thời khai thác mâu thuẫn nội bộ và tâm lý trong chính hàng ngũ đối phương. Thắng lợi ấy còn đến từ việc xác định rõ mục tiêu đấu tranh từng bước, tiến dần đến mục tiêu tối thượng; biết nhượng bộ có nguyên tắc nhưng tuyệt đối không đánh đổi những giá trị cốt lõi; linh hoạt về sách lược trong khi kiên trì nguyên tắc; chủ động tạo thời cơ, nhạy bén nắm bắt thời cơ để chuyển hóa thành lợi thế chiến lược.

Không thể không nhấn mạnh vai trò của lập luận ngoại giao, những lý lẽ sắc bén, logic, đầy sức thuyết phục trên bàn đàm phán, kết hợp với sức ép từ thực địa chiến trường đã giúp Việt Nam giành thế chủ động trong cuộc đấu trí, đấu lý căng thẳng bậc nhất của thế kỷ XX. Công tác tuyên truyền và vận động dư luận quốc tế cũng được triển khai bài bản, góp phần định hình nhận thức toàn cầu về cuộc chiến tranh Việt Nam và tạo ra một làn sóng ủng hộ mạnh mẽ trên thế giới.

Trong bối cảnh hiện nay, những bài học lịch sử từ mặt trận ngoại giao Paris vẫn còn nguyên giá trị. Đó chính là cơ sở vững chắc để Việt Nam tự tin vững bước trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng. Việc thực hiện thành công đường lối đổi mới toàn diện của Đảng trong lĩnh vực đối ngoại trong suốt hơn 40 năm qua, đặc biệt là trong những nhiệm kỳ gần đây đã khẳng định vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thủ tướng Phạm Minh Chính và Tổng thống Nga Vladimir Putin.

Tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc ngày 14/12/2021, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát trường phái đối ngoại mang đậm dấu ấn thời đại Hồ Chí Minh bằng hình ảnh biểu tượng: “cây tre Việt Nam”, với “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc và linh hoạt, giữa bản lĩnh và mềm dẻo, giữa kiên định lập trường và khéo léo vận dụng sách lược, thấm đẫm tâm hồn, khí phách, cốt cách của dân tộc Việt Nam. Trường phái ngoại giao “cây tre” không chỉ là sự tiếp nối truyền thống ngoại giao Hồ Chí Minh, mà còn là kim chỉ nam cho nền ngoại giao hiện đại của Việt Nam: nhân văn, chủ động, linh hoạt, bản lĩnh, và sáng tạo, hướng đến mục tiêu vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững trên toàn cầu.

Có thể khẳng định, từ một quốc gia từng ở trong tình thế bị bao vây, cấm vận nặng nề, Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ nhờ đường lối đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt, chủ động và đầy bản lĩnh. Đến nay, nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 190 trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, bao gồm: 3 quốc gia có quan hệ đặc biệt. 17 quốc gia là đối tác chiến lược và 14 quốc gia là đối tác chiến lược toàn diện.

Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, ngoại giao Nhân dân, cũng như đối ngoại của các ngành, địa phương và doanh nghiệp không ngừng được mở rộng, chủ động, tích cực và ngày càng đi vào chiều sâu. Đảng ta hiện có quan hệ với 247 chính đảng tại 111 quốc gia, trong đó có khoảng 90 đảng cộng sản và công nhân, cùng nhiều đảng cầm quyền và tham chính quan trọng.

Về ngoại giao nghị viện, Quốc hội Việt Nam đã thiết lập quan hệ với nghị viện, quốc hội của hơn 140 quốc gia, đồng thời tham gia tích cực tại nhiều diễn đàn nghị viện quốc tế quan trọng.

Trên mặt trận đa phương, Việt Nam là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong hơn 70 tổ chức và diễn đàn quốc tế lớn, như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM, WTO… Khẳng định vai trò, vị thế và bản lĩnh của một quốc gia đang phát triển nhưng đầy tiềm năng và tinh thần trách nhiệm toàn cầu.

Không chỉ trong lĩnh vực chính trị – ngoại giao, công cuộc đổi mới và hội nhập còn đem lại những chuyển biến sâu sắc về kinh tế – xã hội. Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và bị cấm vận, Việt Nam đã chuyển mình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với hệ thống liên kết kinh tế quốc tế rộng khắp. Hiện nay: Việt Nam đã ký 15 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 3 FTA thế hệ mới với tiêu chuẩn rất cao. Thiết lập quan hệ kinh tế – thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt khoảng 600 tỷ USD, tăng khoảng 120 lần so với những năm đầu đổi mới. Thu hút trên 523 tỷ USD vốn FDI, trong đó đã giải ngân khoảng 250 tỷ USD, nguồn lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng bền vững và công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

Kể từ năm 2014 đến nay, Việt Nam đã triển khai thành công 1.083 lượt sĩ quan, quân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam và sĩ quan Công an nhân dân tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Ảnh: báo Nhân Dân

Cùng với đó, các vấn đề biên giới, lãnh thổ với các quốc gia láng giềng đã và đang được giải quyết từng bước, bài bản, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Điều này không chỉ tạo nền tảng pháp lý vững chắc để bảo vệ chủ quyền quốc gia, mà còn góp phần giữ gìn đường biên giới hòa bình, hữu nghị, phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế – xã hội, củng cố lòng tin chiến lược với các nước láng giềng.

Với những vấn đề phức tạp còn tồn đọng, Việt Nam luôn kiên định ngọn cờ hòa bình, hợp tác, tích cực đàm phán, kiểm soát bất đồng và tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài trên cơ sở luật pháp quốc tế, thể hiện hình ảnh một quốc gia có trách nhiệm, tôn trọng luật lệ, và hết lòng vì hòa bình, ổn định khu vực và thế giới.

Thực hiện tốt đường lối đối ngoại nhất quán, đặc biệt là vận dụng sáng tạo học thuyết “ngoại giao cây tre”, biểu tượng cho bản lĩnh kiên cường, linh hoạt và nhân văn của ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, nước ta đã từng bước khẳng định vị thế và uy tín quốc tế ngày càng cao trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam không chỉ là đối tác tin cậy, thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế, mà còn là quốc gia luôn thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trong việc gìn giữ hòa bình, thúc đẩy hợp tác, phát triển bền vững và tiến bộ nhân loại.

Việt Nam đã tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế lớn như: Hội nghị cấp cao ASEM; Hội nghị thượng đỉnh APEC; Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN… Và đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế quan trọng, tiêu biểu như: Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc; Thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc; Chủ tịch luân phiên ASEAN, Chủ nhà các hội nghị đa phương cấp cao toàn cầu và khu vực.

Cùng với đó, Việt Nam đã tích cực cử hàng trăm lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc, thể hiện cam kết thực chất vì hòa bình và an ninh quốc tế.

Với những kết quả và thành tựu to lớn đã đạt được, đặc biệt sau hơn 40 năm đổi mới, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định mạnh mẽ: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.”

Thành tựu đó là kết quả của: Sự lãnh đạo đúng đắn, kiên định nhưng linh hoạt của Trung ương Đảng, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Sự điều hành chủ động, nhạy bén của Nhà nước; Sự vào cuộc đồng bộ, hiệu quả của toàn bộ hệ thống chính trị và đặc biệt là sự đoàn kết, đồng lòng, ủng hộ của toàn thể Nhân dân Việt Nam, nguồn sức mạnh nội sinh quan trọng để Việt Nam tự tin vững bước trong tiến trình hội nhập và phát triển.

Toàn cảnh Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIV.

Năm 2026 là năm có ý nghĩa đặc biệt khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng sẽ được tổ chức, sự kiện có tính chất định hướng tương lai cho cả dân tộc, với mục tiêu phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI đưa nước ta trở thành quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để hiện thực hóa khát vọng lớn lao ấy, chúng ta cần tiếp tục đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển nhanh, bền vững đất nước, trong đó: Phát triển kinh tế – xã hội là trung tâm; Xây dựng Đảng là then chốt; Phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; Bảo đảm quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên.

Trong hành trình ấy, công tác đối ngoại với truyền thống vẻ vang và những giá trị tinh thần to lớn từ Hội nghị Paris tiếp tục đóng vai trò tiên phong, mở rộng không gian phát triển, củng cố môi trường hòa bình, hợp tác và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Phát huy tinh thần Paris, tinh thần kiên định nguyên tắc, linh hoạt sách lược, quyết đoán trong tạo thời cơ và bản lĩnh trong bảo vệ lợi ích quốc gia, công tác đối ngoại Việt Nam nhất định sẽ ghi thêm những mốc son mới, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hội nghị Paris (1968–1973) sẽ mãi đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một biểu tượng rực rỡ của ngoại giao cách mạng thời đại Hồ Chí Minh – một dấu son không bao giờ phai mờ. Kỷ niệm 53 năm ngày ký kết Hiệp định Paris (27/1/1973 – 27/1/2026) là dịp để mỗi chúng ta nhìn lại và nhận thức sâu sắc hơn về tầm vóc, ý nghĩa lịch sử đặc biệt của văn kiện này. Những bài học quý báu từ cuộc đàm phán lịch sử, đặc biệt là bài học về nghệ thuật ngoại giao toàn diện, bản lĩnh và trí tuệ, vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn, tiếp tục soi đường cho dân tộc vững bước đi lên trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và vươn mình bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển và hội nhập sâu rộng của đất nước.

ThS.Trần Văn Toàn/Trường Chính trị Lê Duẩn tỉnh Quảng Trị