Thứ Tư, Tháng Năm 22, 2024
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Huế trong lịch sử dân tộc và mối tương quan  Huế – Hà Nội – Sài Gòn

ĐNA -

 “Hà Nội-Huế-Sài Gòn, là cây một cội là con một nhà” (Hồ Chí Minh).
Đó không chỉ là một khẩu hiệu chính trị, mà là một thực tế lịch sử. Từ cái nôi đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Nghệ, trong suốt 1.000 năm qua văn minh Việt đã không ngừng được chuyển tải mạnh mẽ về phương Nam thông qua trung tâm Phú Xuân-Huế để rồi sau đó hình thành một trung tâm khác ở Nam Bộ, đó là Sài Gòn-Gia Định (nay là thành phố Hồ Chí Minh). Bởi vậy, trong nghìn năm phát triển của Thăng Long-Hà Nội và của đất nước, Huế đã đóng góp một phần rất quan trọng. Đánh giá đúng điều này sẽ giúp cho việc nhìn nhận lịch sử phát triển của dân tộc khách quan và công bằng hơn.

Hoàng Thành Huế ngày nay.

Trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam, Huế giữ một vị thế rất đặc biệt. Từ một vùng đất biên viễn nổi danh là chốn “Ô châu ác địa” (trong các thế kỷ XIV-XV), Huế đã trở thành một trung tâm mới trong quá trình Nam tiến và chuyển tải văn hóa Việt về phương Nam (các thế kỷ XVI-XVIII), rồi trở thành kinh đô của nước Việt Nam thống nhất dưới hai triều đại Tây Sơn và triều Nguyễn (Từ 1788 – 1945). Chính trong quá trình trên, Huế đã góp phần rất quan trọng trong việc phát triển đất nước về mọi mặt; tạo ra một trung tâm mới ở phía nam: Sài Gòn; đưa Việt Nam hội nhập vào Đông Nam Á và thế giới; nâng cao vị thế của dân tộc và đưa Thăng Long-Hà Nội lên một vị thế mới sau khi trao chuyển vai trò kinh đô.

Đó cũng là quá trình quốc gia Đại Việt thực sự trở thành nước Việt Nam, Đại Nam, rồi nước Việt Nam mới với những ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Bởi vậy, có thể khẳng định Huế là một phần rất quan trọng trong lịch sử dân tộc, và cũng là phần không thể thiếu trong mối tương quan giữa ba trung tâm lớn: Huế- Hà Nội – Sài Gòn, cũng như trong sự phát triển của các kinh đô Việt Nam.

Từ vùng biên viễn
Huế là trung tâm của vùng đất Thuận Hóa (tên cũ là hai châu Ô-Lý/Rí) trở về với người Việt từ năm 1306, sau cuộc hôn nhân chính trị giữa công chúa Huyền Trân nhà Trần với vua Chế Mân của Champa. Năm 1307, vua Trần sai Hành khiển Đoàn Nhữ Hài vào tuyên bố đức ý, cắt cử quan chức, vỗ yên dân chúng. Ngay sau đó những lớp người Việt đầu tiên đã theo nhau vào miền đất mới, đến tận bờ bắc sông Thu Bồn của xứ Quảng để mở đất lập nghiệp. Nhưng hàng thế kỷ sau Thuận Hóa vẫn là vùng biên viễn, nơi thường xuyên diễn ra các cuộc tranh chấp ác liệt giữa hai quốc gia Champa- Đại Việt, tranh chấp giữa nhà Hậu Trần với quân Minh, giữa quân khởi nghĩa Lê Lợi với quân Minh… Chính vì vậy, trong Dư địa chí, Nguyễn Trãi vẫn xem đất Thuận Hóa là “bức phên dậu thứ 4” của Đại Việt .

Kinh thành Huế vốn được lựa chọn vị trí từ năm 1687, đầu thế kỷ 19 được xây dựng quy mô hoành tráng với các yếu tố phong thủy độc đáo.

Hồ Tịnh Tâm, một ngự uyển có quy mô hơn 10ha. Bản vẽ của Nội Các triều Nguyễn năm 1845.

Sau cuộc Nam chinh quyết định của Lê Thánh Tông năm 1471, biên giới Đại Việt đã được đẩy tới chân núi Đá Bia (Thạch Bi sơn). Toàn bộ vùng đất từ đây ra đến bờ nam sông Thu Bồn đều thuộc về trấn Quảng Nam. Thêm gần một trăm năm nữa trôi qua tính đến khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa, năm 1558, miền Thuận-Quảng dù đã được khai phá nhiều nhưng vẫn là vùng đất mới đầy biến động phức tạp. Tuy đã thuộc về Đại Việt hơn 250 năm nhưng đây vẫn được xem là vùng đất xa xôi, nổi tiếng là xứ “Ô châu ác địa”, nền kinh tế lạc hậu và trì trệ, chủ yếu dựa vào nông nghiệp và khai thác lâm thổ sản tự nhiên. Cư dân Thuận Hóa bao gồm một bộ phận là cư dân bản địa Chămpa còn ở lại, di dân người Việt từ miền Bắc vào định cư làm ăn qua nhiều thời kỳ, những tù binh bị đưa đi đày, những loại trộm cướp, thảo khấu hoặc những đối tượng trốn tránh pháp luật, những quan quân bất mãn với họ Trịnh, những người còn ủng hộ họ Mạc, các loại thổ hào thổ tù ương ngạnh hay nhũng nhiễu lương dân và có cả một bộ phận người Hoa đã sang buôn bán và định cư tại đây …Vì vậy, xứ Thuận Hóa, dù đã trở về với người Việt từ năm 1306 mà đến giữa thế kỷ XVI, Dương Văn An vẫn gọi đây là đất Ô Châu (vốn mang hàm nghĩa là chốn ác địa). Vùng đất mới còn hết sức phức tạp bởi sự khác biệt có khi đến mức đối lập giữa các yếu tố văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng của người Việt và các dân tộc bản địa. Thêm nữa, vùng đất này mới được thu phục lại từ tay nhà Mạc, nên lòng người vẫn chưa quy phục. Còn ở bên kia đèo Hải Vân, đất Quảng Nam lại càng là vùng đất mới, sự quản lý của chính quyền nhà Lê đối với vùng đất này vốn đã khá lơi lỏng, đến thời Lê Trung Hưng, sau khi giành lại từ tay họ Mạc, việc quản lý lại càng lơi lỏng hơn .

Chính vì vậy, dù biết rằng Thuận Quảng là trọng trấn phía Nam của đất nước nhưng trong con mắt chính quyền Lê- Trịnh hồi đó, đây vẫn là một miền đất đầy bí hiểm, luôn chất chứa các mối hiểm nguy đáng quan ngại. Vì lí do ấy, Trịnh Kiểm đã tìm cách đẩy Nguyễn Hoàng, đối thủ chính trị lớn nhất của ông vào trấn thủ vùng này. Tuy nhiên, Trịnh Kiểm đã tính nhầm. Li Tana nhận xét “Trịnh Kiểm chỉ có ý tống khứ một địch thủ. Nhưng ông đã đi sai nước cờ. Và thay vì tống khứ, ông lại cho không Nguyễn Hoàng một vương quốc”  .

Đến đầu não của Đàng Trong
Từ một vùng biên viễn, Huế đã trở thành một trung tâm mới ở phía Nam đất nước, và việc xuất hiện trung tâm Phú Xuân- Huế gắn liền với sự phát triển của dòng họ Nguyễn.Tháng 10 năm Mậu Ngọ (1558), Đoan quận công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa, khởi đầu đóng dinh ở xã Ái Tử, huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong (nay là thị trấn Ái Tử, Quảng Trị). Cùng đi với ông có cả đoàn tùy tùng hơn ngàn người đều là nghĩa dũng hai xứ Thanh-Nghệ . Uy tín và tài đức đã giúp ông quy tập về dưới trướng nhiều tướng giỏi, xuất thân đa dạng, họ đã hết lòng cùng nhau mưu tính để xây dựng cơ nghiệp trên miền đất mới .

Để thuần hóa đất dữ Ô Châu trong buổi ban đầu vô cùng gian nan, Nguyễn Hoàng đã sử dụng chính sách “vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng..” . Chính quyền được xây dựng theo kiểu thể chế quân sự của ông có kỷ luật rất nghiêm minh, chưa từng xâm hại đến lợi ích dân chúng. Đường lối chính sự khoan hòa, rộng rãi đó đã khiến các tầng lớp dân chúng đều tin yêu, khâm phục và thường gọi (ông) là chúa Tiên. Đạt được “nhân hòa” thì mọi chuyện trở nên thuận lợi. Nguyễn Hoàng đã lần lượt dẹp yên các cuộc chống đối trong xứ và đánh tan các lần tấn công xâm nhập của các thế lực thù địch . Nội bộ thống nhất, bên ngoài yên tĩnh, Thuận Hóa mới sau hơn 10 năm kể từ ngày có Tiên chúa thì “nhân dân đều an cư lạc nghiệp. Chợ không bán hai giá, không có trộm cướp, thuyền buôn các nước đến nhiều. Trấn trở nên một nơi đô hội lớn”  .

Từ năm 1570, Nguyễn Hoàng kiêm quản thêm đất Quảng Nam, với chiếc ấn Tổng trấn nhị trấn Thuận-Quảng, uy tín, quyền lực của ông càng tăng lên gấp bội.

Từ đây, ý đồ lánh nạn ở đất Thuận Hóa ban đầu của Nguyễn Hoàng đã chuyển thành mưu đồ cát cứ cả miền Thuận Quảng phương Nam. Ông càng chăm lo xây dựng phát triển đất Thuận Quảng để thực hiện giấc mộng bá vương. Lực lượng quân đội được củng cố, quân lệnh thêm nghiêm minh; kinh tế Thuận Quảng ngày càng phồn thịnh nhờ các chính sách khoan hòa rộng mở, đặc biệt là các chính sách phát triển ngoại thương; đời sống văn hóa, tư tưởng trong xứ cũng rất ổn định nhờ chính sách hòa nhập văn hóa và phát triển đạo Phật . Mặt khác, công cuộc Nam tiến để mở rộng bờ cõi lại được đẩy mạnh, đến năm 1611, bằng một cuộc tấn công quân sự, đất Quảng Nam đã bao gồm toàn bộ phần đất tỉnh Phú Yên ngày nay .

Từ Ngọ Môn đến điện Thái Hòa

Với hơn nửa thế kỷ cai trị đất Thuận Quảng (1558-1613), Nguyễn Hoàng đã đạt được những thành công rực rỡ. Rõ ràng là: “đất Thuận Quảng đã mang lại cho Nguyễn Hoàng một thế đứng chính trị, một chỗ dựa xã hội vững chắc, một khả năng kinh tế dồi dào và những võ công oanh liệt. Đó là những điều kiện đủ để “xây dựng cơ nghiệp muôn đời” .

Kế thừa di sản chính trị cùng những tâm nguyện của cha, Nguyễn Phúc Nguyên, người trước đó đã có quá trình hơn 10 năm thực tập chính trị xuất sắc trên cương vị Trấn thủ dinh Quảng Nam đã quyết tâm biến ý đồ trên thành hiện thực. Những cải cách mạnh mẽ của ông như sửa sang thành lũy, đặt quan ải, bãi bỏ hệ thống quan chức cũ theo thể chế nhà Lê và thực hiện cải tổ chính quyền các cấp, khuyến khích phát triển ngoại thương, vỗ về quân dân… đã đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội vùng Thuận Quảng. Thế đất Thuận Quảng ngày càng mạnh, kinh tế phồn thịnh, xã hội bình ổn.

Thế nhưng mâu thuẩn giữa hai họ Trịnh-Nguyễn lại càng trở nên gay gắt theo thời gian. Năm 1627, đại chiến lần thứ nhất giữa hai bên bùng nổ, rồi cuộc chiến tranh ấy kéo dài đến năm 1672 mới kết thúc. Cuộc chiến tranh kéo dài 45 năm giữa hai dòng họ, hai tập đoàn phong kiến này đã gây ra những hậu quả vô cùng to lớn. Chiến tranh đã làm hàng vạn người chết và bị thương, vắt kiệt sức người sức của đông đảo nhân dân, lôi kéo cả nước vào chiến tranh, tàn phá rất nhiều đồng ruộng xóm làng, làm phân chia đất nước thành hai miền Nam Bắc trong hàng thế kỷ .

Một góc của phía đông bắc Hoàng thành Huế trên tranh gương vẽ năm 1845.

Nhưng cuộc chiến tranh trên cũng có những hệ quả tích cực của nó, mà tiêu biểu nhất là sự ra đời của Đàng Trong, một miền đất mới mang dáng dấp của một vương quốc độc lập với một lãnh thổ rộng lớn, một nền văn hóa phong phú và đầy mới lạ.

Lãnh thổ Đàng Trong vốn được hình thành trên cơ sở vùng đất Thuận- Quảng, đã lớn lên rất nhanh theo đà Nam tiến mạnh mẽ dưới thời các chúa Nguyễn. Nhìn chung, đến cuối thế kỷ XVII, những chàng trai Việt muốn thể hiện bản lĩnh của mình thì đã có thể dọc ngang khắp miền Nam, từ chốn kinh đô (Phú Xuân) đến miền biên thùy (lúc đó là đất Đồng Nai):

Làm trai cho đáng nên trai,
Phú Xuân đã trải Đồng Nai cũng từng.                                                                
(ca dao)

Như vậy, từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa đến các thế hệ con cháu của ông, do nhu cầu tồn tại đồng thời do bị thúc đẩy bởi các động cơ về chính trị và kinh tế, quá trình Nam tiến nhằm mở rộng lãnh thổ đất nước đã diễn ra mạnh mẽ gấp bội phần so với các thế kỷ trước. Hệ quả là chỉ 200 năm, nước ta đã có lãnh thổ hoàn chỉnh cơ bản như hiện nay .

Trên một góc độ nào đó có thể cho rằng, Đàng Trong đã hình thành và phát triển như một vương quốc độc lập, tạo nên hình ảnh một nước Việt Nam khác ở phía nam với những bản sắc văn hóa mới, phong phú và đa dạng. Chính sự đối đầu với Đàng Ngoài của vua Lê-chúa Trịnh đã làm Đàng Trong của chúa Nguyễn phát triển nhanh chóng, mà đầu não của sự phát triển ấy là các thủ phủ với trung tâm là Phú Xuân-Huế .

Ngọ Môn ngày nay khang trang bề thế sau khi được trùng tu.

Huế chính thức trở thành trung tâm của Đàng Trong từ năm 1636, qua hơn một 100 xây dựng, bồi tụ, đến thời kỳ Đô Thành Phú Xuân (1738-1775), trung tâm này đã là một đô thị thuộc hàng lớn nhất của Đàng Trong, được qui hoạch chu đáo với các ý tưởng sâu sắc. Nhưng đặc biệt là sự kết hợp mô hình đô + thị đã đạt đến trình độ rất cao. Có thể nói trong bối cảnh ấy, mô hình kết hợp giữa Phú Xuân- Thanh Hà- Hội An đã tạo nên một quan hệ kinh tế-chính trị đặc biệt, hình thành một mô hình đô thị lý tưởng của Việt Nam thời tiền tư bản. Về mặt văn hóa “200 năm đủ cho Huế là nơi kết tinh và hội tụ nhân tài và văn hoá miền Trung – Nam để tạo nên một vùng và một sắc thái mới của văn hoá Việt Nam: Vùng văn hóa Huế, sắc thái Phú Xuân của văn hoá Việt Nam” .

Trong sự hình thành và phát triển của Đàng Trong, vùng đất Huế có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Đây không chỉ là cơ sở đầu tiên, là trạm trung chuyển của lớp lớp người Việt trên con đường Nam tiến mà còn luôn luôn đóng vai trò là đầu não chính trị, quân sự và là một trung tâm kinh tế, văn hóa của toàn xứ sở.

Với vị thế là kinh đô của Đàng Trong, thời kỳ này Huế cũng đóng vai trò là trung tâm trong việc kế thừa, chuyển tải và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc trên miền đất mới, đồng thời lại có tác động quyết định trong việc tiếp thu các yếu tố văn hóa bản địa và văn hóa ngoại lai để định hình nên một sắc thái văn hóa Đàng Trong phong phú, sinh động và hết sức đa dạng. Văn hóa Việt Nam đã phát triển và được làm giàu lên rất nhiều chính qua quá trình này.

Chính vì vậy, Huế cũng là tâm điểm của các vấn đề chính trị, quân sự, xã hội, tôn giáo của Đàng Trong trong gần 3 thế kỷ (XVI-XVIII).

Cũng từ Huế và với sự tiếp sức của Huế, một trung tâm mới đã hình thành ở phía Nam đất nước, đó là Sài Gòn- Gia Định (nay là thành phố Hồ chí Minh).

Từ năm 1623-1698, các chúa Nguyễn đã có những chính sách mở rộng lãnh thổ về phía nam và phát triển kinh tế hàng hóa mạnh mẽ. Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh được phái vào kinh dinh đất Nam bộ và lập nên phủ Gia Định và hai huyện Phước Long, Tân Bình, đưa vùng đông Nam bộ sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt. Vùng Sài Gòn- Gia Định ngày càng phát triển phồn thịnh, sầm uất, và cuối thế kỷ XVIII đã trở thành căn cứ địa vững chắc, thành “Gia Định kinh” của họ Nguyễn trong quá trình phục quốc. Thành Gia Định hồi đó- thành Bát Quái (được xây dựng từ năm 1790) là một trong những thành trì quân sự kiên cố và có quy mô rất lớn.

Sau khi thống nhất đất nước và xây dựng kinh đô Huế, vua Gia Long vẫn chú trọng phát triển Sài Gòn- Gia Định và xem đó là trung tâm quan trọng nhất của đất nước ở phía nam. Năm 1811, Gia Định trấn được nâng lên thành Gia Định thành, là nơi đặt trụ sở của Tổng trấn Gia Định thành, cai quản toàn bộ đất miền nam với thành Gia Định và 5 trấn:  Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh (sau tách ra làm Vĩnh Long và An Giang) và Hà Tiên. Vì thế trung tâm Sài Gòn- Gia Định ngày càng phát triển. Đó cũng là cơ sở để sau khi chiếm được Nam bộ, người Pháp đã xây dựng và biến Sài Gòn thành “Hòn ngọc Viễn Đông”. Bất chấp chiến tranh và những biến động của lịch sử, Sài Gòn vẫn tiếp tục phát triển và luôn giữ vai trò là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa lớn của Việt Nam trong các thời kỳ tiếp theo. Ngày nay, Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh) là thành phố có quy mô dân số lớn nhất nước ta, không chỉ là trung tâm lớn nhất mà còn là đầu tàu về kinh tế của đất nước.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm khu di sản Huế năm 2014

Với vị thế kinh đô
Sau hơn 10 năm rơi vào tay chính quyền Lê-Trịnh (1775-1786), Phú Xuân Huế lại trở thành đầu não của quân đội Tây Sơn, rồi trở thành kinh đô của triều đại này trong hơn 12 năm tiếp theo (1788-1801). Mặc dù dưới thời Tây Sơn, kinh đô Huế hầu như ít được quy hoạch và xây dựng thêm, nhưng vị thế của đô thị này đã được nâng lên một bậc, là kinh đô của nước Đại Việt cơ bản thống nhất từ Bắc chí Nam. Đây cũng là thời kỳ Phú Xuân- Huế gắn liền với những chiến công hiển hách trong đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc. Cuối năm 1788, tại núi Bân, Nguyễn (Văn) Huệ lên ngôi, lấy niên hiệu là Quang Trung, rồi kéo quân ra Bắc, đánh tan 29 vạn quân xâm lược Thanh, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc và cơ bản tái lập sự thống nhất cho đất nước sau gần 200 năm chia cắt. Phú Xuân Huế cũng là nơi gắn liền với các di tích của vương triều Tây Sơn như đàn Nam Giao, lăng mộ Hoàng đế Quang Trung và các đại thần của vương triều này …

Tuy nhiên, triều Tây Sơn sớm sụp đổ sau khi vua Quang Trung đột ngột băng hà năm 1792. Năm 1802, sau những nỗ lực bền bỉ, Nguyễn Phúc Ánh đã tái dựng lại được cơ nghiệp của họ Nguyễn. Huế được chọn làm kinh đô của một đất nước thống nhất với lãnh thổ rộng lớn hơn bao giờ hết.

Trong 143 năm giữ vị thế kinh đô kinh đô của nước Việt Nam (từ năm 1839 là Đại Nam) mà đặc biệt là trong giai đoạn còn giữ được độc lập (1802-1885), Huế gắn liền với vương triều Nguyễn đã có những đóng góp quan trọng trong việc phát triển đất nước về nhiều mặt: Hoàn thiện việc thống nhất bờ cõi quốc gia, bao gồm cả đất liền và biển đảo; xây dựng bộ máy chính quyền thống nhất từ trung ương đến cơ sở; phát triển hệ thống giao thông, thủy lợi; thống nhất về văn hóa trong toàn quốc và để lại những di sản văn hóa đồ sộ, mang tầm vóc thế giới .

Điều đáng chú ý là họ Nguyễn, từ chúa Nguyễn Phúc Khoát đến các đời vua sau đều khẳng định rằng, họ là người kế tục truyền thống văn hóa Việt xuất phát trên đất Bắc nhưng tạo dựng cơ nghiệp ở phương Nam (cụ thể là đất Thuận Hóa). Chính vì vậy họ Nguyễn đã chọn Huế để xây dựng cơ nghiệp muôn đời:

“Kinh sư là nơi miền núi, miền biển đều họp về, đứng giữa miền Nam, miền Bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng; đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm; đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân chặn ngăn; sông lớn giăng phía trước; núi cao giữ phía sau, rồng cuốn hổ ngồi, hình thế vững chãi, ấy là do trời đất xếp đặt, thật là thượng đô của nhà vua ” .

Cùng với quá trình Huế trở thành trung tâm của Đàng Trong, rồi kinh đô của đất nước thống nhất, nước Đại Việt đã chuyển hóa thành một nước Việt Nam, rồi Đại Nam, đa nguyên hơn về văn hóa và gần gũi hơn với Đông Nam Á.

Tuy nhiên, Huế đã mất dần vị thế khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. Nam kỳ, Bắc kỳ lần lượt rơi vào tay người Pháp; đất nước bị chia cắt; nền độc lập dân tộc cũng mất hẳn sau cuộc phản kháng cuối cùng của triều Nguyễn vào năm 1885. Vị thế kinh đô đất nước chỉ còn trên danh nghĩa. Chỉ với thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 vĩ đại, dân tộc ta mới dành lại được nền độc lập. Huế thực sự chấm dứt vai trò kinh đô của chế độ quân chủ cuối cùng.

Nguyên Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng thăm Hoàng thành Huế tháng 11/2020

Trao chuyển và kết nối
Từ ngày 02/9/1945, Huế chính thức trở thành cố đô. Hà Nội trở thành thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Kinh đô ngàn năm Thăng Long-Hà Nội không chỉ được tiếp tục mạch phát triển mà còn thực sự được nâng lên một tầm vóc mới. Huế vẫn giữ một vị thế quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, là một trung tâm văn hóa, giáo dục của cả nước tại miền Trung, là cầu nối về văn hóa giữa hai miền Nam Bắc và giữa Việt Nam với thế giới. Dù trải qua hai cuộc chiến tranh với nhiều tổn thất nghiêm trọng, di sản văn hóa cố đô Huế vẫn được xem là đại diện tiêu biểu cho văn hóa Việt Nam, được tổ chức Khoa học, Văn hóa và Giáo dục của Liên Hiệp quốc (UNESCO) nhiều lần tôn vinh là Di sản văn hóa thế giới. Đánh giá về phương diện này, GS.Phan Huy Lê đã viết:

“Cố đô Huế là nơi hội tụ và kết tinh các giá trị văn hóa dân tộc trong một thời kỳ lịch sử khi mà kinh đô này lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc trở thành trung tâm chính trị, văn hóa của một quốc gia với lãnh thổ xác lập của lãnh thổ Việt Nam hiện đại trải dài từ bắc chí nam, từ đất liền đến hải đảo. Quần thể di tích cố đô Huế đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới ngày 11-12-1993 và ngày 7-11-2003 Nhã nhạc cung đình lại được công nhận  là Kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.

Trong các đô thị hình thành và phát đạt trong thời kỳ này, Hội An là cảng thị tiêu biểu nhất và Khu di tích phố cổ Hội An cũng đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới ngày 4-12-1999.

Chưa có một thời kỳ lịch sử nào để lại cho dân tộc ba di sản văn hóa được thế giới công nhận và tôn vinh với những giá trị mang ý nghĩa toàn cầu như vậy”

Điều đặc biệt là tiếp theo Huế, di sản Hoàng thành Thăng Long cũng đã được UNESCO tôn vinh là Di sản văn hóa thế giới vào ngày 31/7/2010. Như vậy, một phần  thành tựu quan trọng của người Việt Nam trong suốt chặng đường 1.000 năm dựng nước và giữ nước kết tinh ở hai kinh đô Thăng Long- Hà Nội và Phú Xuân-Huế đã được cả thế giới thừa nhận và tôn vinh.

“Hà Nội-Huế-Sài Gòn, là cây một cội là con một nhà” (Hồ Chí Minh).
Đó không chỉ là một khẩu hiệu chính trị, mà là một thực tế lịch sử. Từ cái nôi đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Nghệ, trong suốt 1.000 năm qua văn minh Việt đã không ngừng được chuyển tải mạnh mẽ về phương Nam thông qua trung tâm Phú Xuân-Huế để rồi sau đó hình thành một trung tâm khác ở Nam Bộ, đó là Sài Gòn-Gia Định. Bởi vậy, trong nghìn năm phát triển của Thăng Long-Hà Nội và của đất nước, Huế đã đóng góp một phần rất quan trọng. Đánh giá đúng điều này sẽ giúp cho việc nhìn nhận lịch sử phát triển của dân tộc khách quan và công bằng hơn./.

TS. Phan Thanh Hải/Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Thừa Thiên Huế
Ảnh: Bảo Minh.

Tài liệu tham khảo

  1. Đỗ Bang (1996 ), Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII-XVIII, Nxb Thuận Hóa- Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Hà Nội.
  2. Lê Qúy Đôn (1964), Phủ biên tạp lục, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb. Khoa học, Hà Nội.

3-Li Tana (2001), Xứ Đàng Trong thế kỷ XVII và XVIII, một mô hình khác của Việt Nam, in trong Những vấn đề lịch sử Việt Nam, Nguyệt san Xưa & Nay-Nxb. Trẻ, Hà Nội.

4- Li Tana (1999), Xứ Đàng Trong, lịch sử kinh tế-xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18, Bản dịch của Nguyễn Nghị, Nxb Trẻ, TP HCM.

  1. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (1992) Đại Nam nhất thống chí, bản dịch của Phạm Trọng Điềm (Viện Sử học), tập 1, Nxb Thuận Hóa, Huế.
  2. Nguyễn Trãi (2019), Dư địa chí, bản dịch Phan Duy Tiếp, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.

7- Phan Khoang (2001), Việt sử xứ Đàng Trong, Nxb. Văn học, Hà Nội.

  1. Phan Huy Lê (2008), Báo cáo đề dẫn hội thảo “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX”, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam – UBND tỉnh Thanh Hóa.

9- Phan Thanh Hải (2020), “Bảo tồn bền vững di sản thời chúa Nguyễn và Tây Sơn góp phần xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành Đô thị di sản đặc thù của Việt Nam” in trong đặc san Văn hóa Huế, số 40 (2020), Sở Văn hóa và Thể thao Thừa Thiên Huế.

10- Phan Thanh Hải (2008), Các thủ phủ thời chúa Nguyễn (1558-1775) trên đất Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, Luận án tiến sỹ sử học, Viện Sử học.

11- Trần Quốc Vượng (1987), “Vài suy nghĩ về Xứ Huế và vị thế lịch sử của nó”, Tạp chí Sông Hương, số 25 (tháng 5 & 6).