Thứ Hai, Tháng 10 5, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Iraq sau 23 năm: Từ cuộc chiến dựa trên tình báo sai lệch đến ảnh hưởng kinh tế của Mỹ



ĐNA -

Ngày 5/10/2026, tờ Thế Giới Trẻ (Đức) đăng bài viết “Iraq – Chủ quyền chỉ có trên danh nghĩa” của nhà báo Wiebke Diehl, phân tích nghịch lý tại Iraq: dù quân đội Mỹ đã hoàn tất việc rút quân, Washington vẫn duy trì các cơ chế kiểm soát kinh tế, qua đó cho thấy sự hiện diện và ảnh hưởng của Mỹ đối với chủ quyền thực tế của Iraq chưa chấm dứt.

Thủ tướng Iraq Ali Al-Saidi đánh dấu việc Mỹ rút quân bằng một “Hội nghị Ngày Chủ quyền” (Baghdad, ngày 1/10/2026). Ảnh: REUTERS

Sau hơn 23 năm hiện diện quân sự, thời điểm rút quân cuối cùng của lực lượng nước ngoài khỏi Iraq đã đến. Tuần trước, quân đội Mỹ cùng các lực lượng nước ngoài khác, trong đó có Bundeswehr (quân đội Đức), đã hoàn tất việc rút quân khỏi nước này. Đây là kết quả của một quá trình kéo dài nhiều năm. Ngay từ tháng 1/2020, sau vụ Mỹ ám sát tướng Qassem Soleimani và Abu Mahdi al-Muhandis, một nhân vật chủ chốt của các lực lượng bán quân sự người Shiite tại Iraq, Quốc hội Iraq đã thông qua nghị quyết yêu cầu toàn bộ lực lượng nước ngoài rời khỏi lãnh thổ.

Các cuộc tấn công kéo dài nhiều năm nhằm vào các căn cứ quân sự của Mỹ, do các lực lượng thuộc “Kháng chiến Hồi giáo” được Iran hậu thuẫn tiến hành, chắc chắn là một trong những yếu tố góp phần thúc đẩy quyết định rút quân hiện nay. Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) coi việc Mỹ rút quân là một “thành công lớn của lực lượng kháng chiến” và “chiến thắng lịch sử”, được cho là sẽ mở đường cho mục tiêu tiếp tục đẩy lực lượng Mỹ khỏi toàn bộ khu vực.

Tuy nhiên, nguy cơ bất ổn vẫn chưa được loại bỏ. Các bên liên quan đều có lý do để cảnh giác trước khả năng căng thẳng tái diễn. Kataib Hezbollah, một nhóm có liên hệ với “Kháng chiến Hồi giáo”, tuyên bố tạm ngừng các hoạt động quân sự. Dù vậy, tuyên bố này không bao gồm trường hợp “máy bay địch” xâm phạm không phận Iraq. Trong thời gian qua, máy bay Mỹ và Israel đã nhiều lần tiến hành các cuộc không kích nhằm vào những mục tiêu trên lãnh thổ Iraq, đặc biệt trong bối cảnh xung đột với Iran.

Song song với quá trình rút quân, Washington vẫn gây sức ép đáng kể đối với Thủ tướng Iraq Ali al-Saidi, yêu cầu chính phủ nước này giải giáp các lực lượng thuộc “Kháng chiến Hồi giáo”. Trước sự phản đối của các nhóm này, ông al-Saidi buộc phải gia hạn thời hạn thực hiện yêu cầu: từ mốc ban đầu là ngày 30/9 sang ngày 30/6 năm sau.

Vấn đề càng trở nên phức tạp bởi các nhóm Hồi giáo dòng Shiite này đã được sáp nhập vào hệ thống quân đội Iraq từ nhiều năm qua và từng đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống lại “Vương quốc Hồi giáo” do tổ chức tự xưng Nhà nước Hồi giáo (IS) thiết lập từ năm 2014. Trong khi đó, quân đội Iraq, dù được các cố vấn quân sự Mỹ huấn luyện, cùng lực lượng của Khu tự trị Kurdistan phần lớn đã rút chạy trước bước tiến của IS, để lại người dân trong tình trạng thiếu sự bảo vệ.

Chính thất bại này là một trong những nguyên nhân khiến quân đội Mỹ, sau khi từng rút khỏi Iraq vào năm 2011, quay trở lại nước này với lý do tham gia cuộc chiến chống IS. Tương tự, sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Syria trong chiến dịch nhằm lật đổ chính quyền của Bashar al-Assad, kết thúc vào mùa xuân, cũng được giải thích một phần bằng mục tiêu chống IS.

Các nhóm thuộc “Kháng chiến Hồi giáo” cho rằng ảnh hưởng của Mỹ tại Iraq trên thực tế vẫn chưa chấm dứt. Một trong những công cụ quan trọng giúp Washington duy trì ảnh hưởng là cơ chế kiểm soát nguồn thu từ xuất khẩu dầu mỏ của Iraq. Theo đó, doanh thu từ dầu trước hết phải được chuyển vào tài khoản tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York. Cơ chế này được Mỹ áp đặt sau cuộc xâm lược Iraq năm 2003 và, theo lập luận của các nhóm “Kháng chiến Hồi giáo”, đã làm suy giảm đáng kể khả năng tự chủ của Baghdad.

Ảnh hưởng kinh tế này cũng được cho là đã được Washington sử dụng để tác động đến tiến trình lựa chọn ông Ali al-Saidi làm Thủ tướng Iraq. Nhằm ngăn cản ứng cử viên Nouri al-Maliki, người được biết đến với quan hệ gần gũi với Iran, đồng thời thúc đẩy việc giải giáp các nhóm thuộc “Kháng chiến Hồi giáo”, chính quyền Mỹ đã đình chỉ một số chương trình hợp tác an ninh và ngừng chuyển tiền USD cho Baghdad.

Tháng 7 vừa qua, ông al-Saidi đã ký các thỏa thuận trị giá hơn 60 tỷ USD với các công ty năng lượng của Mỹ và Anh. Chính phủ Iraq đồng thời tích cực thúc đẩy các phương án xây dựng tuyến xuất khẩu dầu thay thế, đi qua Syria nhằm giảm sự phụ thuộc vào eo biển Hormuz. Theo bài viết, kể từ khi Mỹ phong tỏa eo biển này, lượng dầu xuất khẩu của Iraq đã sụt giảm tới 90%.

Một yêu cầu khác của “Kháng chiến Hồi giáo” là nếu các lực lượng của họ phải giải giáp, lực lượng Peshmerga của người Kurd cũng phải giao nộp vũ khí. Trong khi đó, chính quyền Khu tự trị Kurdistan bày tỏ lo ngại trước việc quân đội Mỹ rút khỏi Iraq. Họ coi IS, Iran và các nhóm thuộc “Kháng chiến Hồi giáo” là những mối đe dọa tiềm tàng đối với an ninh khu vực.

Theo lập luận được đưa ra trong bài viết, cả ba bên đều từng tiến hành các cuộc tấn công nhằm vào lợi ích và đồng minh của Mỹ trong khu vực, trong đó có miền Bắc Iraq, để đáp trả chiến dịch quân sự của Mỹ và Israel chống Iran. Tuy nhiên, những cuộc tấn công này cũng được mô tả là phản ứng trước các kế hoạch mà Tehran cho rằng đã bị phát hiện, theo đó Mỹ và Israel tìm cách kích động các nhóm người Kurd Iran đang lưu vong tại Iraq, sử dụng họ như một lực lượng trên bộ trong kịch bản gây sức ép và thúc đẩy thay đổi chính quyền tại Iran.

Theo phân tích của ASEAN News, nhìn lại hơn 23 năm qua, có thể thấy cuộc chiến Iraq bắt nguồn từ những cáo buộc và đánh giá tình báo của Mỹ về chương trình vũ khí hủy diệt hàng loạt của Baghdad, trong đó Ngoại trưởng Mỹ khi đó Colin Powell đã trình bày trước Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ngày 5/2/2003 những bằng chứng mà Washington cho là cho thấy Iraq vẫn sở hữu và phát triển các loại vũ khí này. Sau chiến tranh, những đánh giá chủ chốt của tình báo Mỹ về năng lực vũ khí hủy diệt hàng loạt của Iraq bị xác định là đã bị thổi phồng hoặc không được các thông tin tình báo nền tảng chứng minh đầy đủ.

Cuộc xâm lược và việc lật đổ chính quyền Saddam Hussein đã mở ra một giai đoạn đầy biến động đối với Iraq, kéo theo những hệ lụy sâu rộng về an ninh, chính trị và xã hội. Hơn hai thập niên sau, quân đội Mỹ rút khỏi Iraq, nhưng sự rút lui về quân sự không đồng nghĩa với việc Washington từ bỏ ảnh hưởng đối với quốc gia này. Những đòn bẩy về tài chính, dầu mỏ, an ninh và quan hệ kinh tế tiếp tục là những công cụ quan trọng giúp Mỹ duy trì ảnh hưởng tại Iraq.

Vì vậy, câu chuyện Iraq sau hơn 23 năm không chỉ là câu chuyện về một cuộc chiến đã kết thúc hay một lực lượng nước ngoài đã rút quân. Đó còn là câu hỏi về mức độ thực chất của chủ quyền Iraq khi những công cụ kinh tế và tài chính có khả năng chi phối nền kinh tế nước này vẫn còn tồn tại. Nếu sự hiện diện quân sự của Mỹ đã kết thúc, thì ảnh hưởng của Washington đối với Iraq, theo lập luận của bài viết, vẫn chưa thực sự chấm dứt.

Hồ Ngọc Thắng/Nguồn: https://www.jungewelt.de/artikel/530925.irak-nur-formal-souver%C3%A4n.html