Chủ Nhật, Tháng 5 17, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Khẳng định vai trò dẫn dắt của khu vực kinh tế nhà nước từ góc nhìn thực nghiệm



ĐNA -

Thông qua khảo cứu các bằng chứng thực nghiệm về tác động của đầu tư công đối với đầu tư tư nhân và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, bài viết khẳng định đầu tư công tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực, thúc đẩy khu vực tư nhân mở rộng và phát triển dài hạn. Với quy trình nghiên cứu khoa học, phương pháp hiện đại và dữ liệu độc lập, bài viết bác bỏ các luận điệu xuyên tạc về “cản lực đầu tư công”. Đồng thời, khẳng định sự phù hợp giữa thực tiễn phát triển và đường lối của Đảng, Nhà nước trong mục tiêu xây dựng một dân tộc tự cường, phát triển.

Trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước không ngừng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững, tự chủ và tự cường của đất nước. Trong đó, kinh tế nhà nước không còn là khu vực mang tính đặc quyền, mà giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô trước những biến động ngày càng phức tạp, khó lường của tình hình thế giới hiện nay.

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng cao theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026–2030, đầu tư công cần phát huy vai trò “vốn mồi chiến lược” trong xây dựng kết cấu hạ tầng, dẫn dắt dòng vốn xã hội và củng cố nội lực quốc gia.

Tuy nhiên, đúng vào thời điểm khát vọng phát triển và tinh thần đại đoàn kết dân tộc được khơi dậy mạnh mẽ, các thế lực thù địch lại đẩy mạnh chiến thuật “vết dầu loang” trên không gian mạng nhằm lan truyền những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận và hạ thấp vai trò của khu vực kinh tế nhà nước. Đây là hoạt động của các lực lượng phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị với góc nhìn phiến diện, thiên kiến; lợi dụng những sai phạm cục bộ và hạn chế của một số doanh nghiệp nhà nước để quy kết toàn bộ khu vực kinh tế nhà nước là “gánh nặng”, “cản trở” hoặc “lấn át khu vực tư nhân” (Hoàng Thị Bích Loan, 2025).

Những luận điệu này không xuất phát từ tinh thần tranh luận mang tính xây dựng và phát triển, mà hàm chứa mưu đồ chính trị nhằm làm xói mòn niềm tin của nhân dân, suy giảm hiệu quả của các chủ trương huy động sức mạnh toàn dân, đồng thời cản trở việc tập trung và phát huy các nguồn lực cho mục tiêu phát triển nhanh, bền vững. Không dừng lại ở đó, các quan điểm sai lệch này còn hướng tới phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, làm suy yếu các công cụ vật chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nguy hiểm hơn là có thể khiến nền kinh tế chệch hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong bối cảnh đó, bài viết tập trung cung cấp các luận cứ dựa trên những nghiên cứu thực nghiệm về tác động của đầu tư công đối với khu vực tư nhân và tăng trưởng kinh tế, qua đó khẳng định kinh tế nhà nước chính là “neo giữ” chiến lược, giữ vai trò then chốt trong ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy phát triển đất nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết về vai trò của khu vực kinh tế nhà nước.
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy không có một quốc gia nào phát triển dựa thuần túy trên thị trường tự do mà thiếu vắng vai trò của nhà nước. Về mặt lý luận, kinh tế nhà nước là bộ phận gắn với sở hữu công và quyền lực điều tiết của nhà nước. Nhà nước giữ vai trò khác nhau tùy thuộc vào mô hình phát triển, trình độ phát triển và yêu cầu quản trị của từng quốc gia. Vai trò này không cố định mà vận động theo điều kiện lịch sử và thể chế kinh tế.

Trong mô hình kinh tế thị trường tự do, kinh tế nhà nước thực hiện chức năng cơ bản như xây dựng khung khổ pháp luật, bảo vệ quyền sở hữu, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, cung cấp hàng hóa công cộng và bảo đảm an sinh xã hội tối thiểu (Smith,1776; Friedman, 1962; Nozick, 2001). Cũng có những lý thuyết kinh tế ủng hộ vài trò của kinh tế nhà nước trong cung cấp hàng hóa công cộng, khắc phục khuyết tật thị trường và dẫn dắt các lĩnh vực chiến lược mà khu vực tư nhân không đủ động lực hoặc nguồn lực để đảm nhận. John Maynard Keynes, một trong những nhà kinh tế học có ảnh hưởng nhất thế kỷ XX đã chứng minh rằng sự can thiệp của nhà nước trong những bối cảnh cần thiết chính là “phao cứu sinh” để duy trì tổng cầu và ổn định kinh tế vĩ mô (Keynes, 1936). Mariana Mazzucato trong cuốn sách The Entrepreneurial State cũng khẳng định sự lớn mạnh của nền kinh tế Hoa Kỳ là kết quả của đầu tư nhà nước vào lĩnh vực đổi mới sáng tạo chứ không phải hệ quả của học thuyết “nhà nước nhỏ, thị trường tự do” (Mazzucato, 2011). Tại nhiều quốc gia phát triển ở hiện tại (như các nước Bắc Âu hay Singapore), các doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò tiên phong trong các ngành công nghệ cao hoặc các lĩnh vực chiến lược, tạo nền tảng cho kinh tế tư nhân cùng phát triển. Ngay cả những nền kinh tế tự do nhất như Hoa Kỳ cũng phải linh hoạt tư duy khi đối mặt với khủng hoảng tài chính 2008-2009 hay đại dịch COVID-19. Lúc này, nhà nước trở thành “người cứu trợ cuối cùng”, trực tiếp can thiệp vào nền kinh tế để cứu vãn cả hệ thống.

Trong mô hình chủ nghĩa xã hội Liên Xô với thời kỳ Chính sách Kinh tế mới (NEP), V.I. Lênin đã chỉ rõ Nhà nước phải nắm giữ các vị trí kinh tế then chốt để điều phối dòng chảy của nền kinh tế. Trong các mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày nay, kinh tế nhà nước là bộ phận đóng vai trò chủ đạo trong định hướng và dẫn dắt phát triển trong những lĩnh vực then chốt liên quan đến ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh, quốc phòng, kết cấu hạ tầng và các ngành chiến lược. Ở Việt Nam, khu vực kinh tế nhà nước được xác định giữ vai trò chủ đạo nhưng đồng thời vận hành trong môi trường “cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật với các thành phần kinh tế khác, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; tiếp cận công bằng, công khai, minh bạch các nguồn lực, thị trường và cơ hội phát triển” (Bộ Chính trị, 2026).

Xét theo trình độ phát triển, tại các quốc gia phát triển, khi khu vực tư nhân và hệ thống thị trường đã vận hành hiệu quả, kinh tế nhà nước tập trung vào xử lý thất bại thị trường, điều tiết ngoại tác, duy trì an sinh xã hội và đầu tư vào các lĩnh vực dài hạn mà khu vực tư nhân ít quan tâm như nghiên cứu cơ bản, chuyển đổi xanh hay an ninh năng lượng. Gần đây, nhiều nước phát triển như Nhật Bản hay Pháp vẫn gia tăng vai trò nhà nước trong các ngành chiến lược nhằm ứng phó rủi ro chuỗi cung ứng và cạnh tranh công nghệ (Đức Trung, 2022).

Trong khi đó, tại các quốc gia đang phát triển, kinh tế nhà nước thường giữ vai trò “gánh vác” nhiều hơn do khu vực tư nhân còn hạn chế về vốn, công nghệ, quy mô, năng lực… Khu vực kinh tế nhà nước thường đi trước trong đầu tư hạ tầng, phát triển các ngành công nghiệp nền tảng và cung cấp dịch vụ công cơ bản. Tuy nhiên, nếu khu vực kinh tế nhà nước vận hành kém hiệu quả sẽ dễ dẫn tới thất thoát nguồn lực, gánh nặng ngân sách và làm suy giảm động lực thị trường. Vì vậy, xu hướng hiện nay là chuyển từ mô hình nhà nước “gánh vác” sang nhà nước kiến tạo phát triển, vừa giữ vai trò dẫn dắt, vừa thúc đẩy khu vực tư nhân phát triển.

Thực tiễn cho thấy không nền kinh tế nào vận hành hoàn toàn theo cơ chế thị trường mà thiếu vai trò điều tiết của nhà nước. Lịch sử phát triển cũng cho thấy không nền kinh tế nào giữ nguyên một mô hình bất biến. Lộ trình phát triển đi qua chuỗi những lần điều chỉnh tư duy về vai trò của khu vực kinh tế nhà nước. Sau Thế chiến II, nhiều quốc gia phương Tây từng quốc hữu hoá hàng loạt các ngành công nghiệp nặng và đến thập niên 80-90, làn sóng tư nhân lại trở nên mạnh mẽ để gia tăng hiệu quả cạnh tranh. Cho tới hiện nay, tư duy về vai trò của kinh tế nhà nước không còn tập trung vào việc nhà nước “sở hữu bao nhiêu” mà là nhà nước “quản trị như thế nào” để hướng tới hiệu quả bền vững nhất. Trên góc nhìn khách quan, sự tồn tại của kinh tế nhà nước là một tất yếu tuy nhiên, hình thái và mức độ tham gia luôn có sự thay đổi. Quá trình phát triển nền kinh tế của một quốc gia chính là quá trình không ngừng tối ưu hoá vai trò của kinh tế nhà nước trong mối quan hệ với thị trường hướng tới chiến lược phát triển dài hạn và bền vững.

Ở Việt Nam, nhận thức về nội hàm và phạm vi của kinh tế nhà nước có sự thay đổi qua từng thời kỳ nhưng vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước luôn được khẳng định tại các Văn kiện của Chấp hành Trung ương, từ Đại hội Đảng VIII tới Đại hội XIV. Theo Điều 51, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước xác định kinh tế nhà nước của Việt Nam bao hàm toàn diện các nền tảng vật chất quan trọng của Nhà nước, gồm tổ chức kinh tế và nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, ổn định vĩ mô và bảo đảm an ninh, quốc phòng, như: đất đai và tài nguyên, hạ tầng công, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước, vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tín dụng nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập…

Như vậy, trong mô hình của Việt Nam, kinh tế nhà nước không chỉ đóng vai trò can thiệp tối thiểu như trong mô hình kinh tế thị trường tự do hay vai trò “trọng tài” như mô hình kinh tế của các quốc gia phát triển mà là bộ phận quan trọng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với vai trò đảm bảo môi trường vĩ mô ổn định, kiến tạo phát triển. Trong đó, đầu tư công là “mũi giáp chiến lược” vô cùng quan trọng, vừa dẫn dắt vừa thúc đẩy khu vực tư nhân và toàn bộ nền kinh tế phát triển.

Phương pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính, bao gồm:

Phương pháp phân tích, tổng hợp: tác giả khảo lược, tổng hợp quan điểm về vai trò của khu vực kinh tế nhà nước trong lý thuyết của Adam Smith, Milton Friedman, John Maynard Keynes, Mariana Mazzucato…, đối chiếu với quan điểm của Việt Nam trong các văn bản pháp lý như Hiến pháp, các Nghị quyết… để làm rõ vai trò của khu vực kinh tế nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam nói riêng.

Phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp: tác giả khai thác các tài liệu như Văn kiện Đại hội của Đảng cộng sản Việt Nam, các Nghị quyết của Đảng, các báo cáo của Ngân hàng Thế giới, Cục Thống kê Việt Nam, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Phát triển Châu Á… nhằm tìm ra những bằng chứng về vai trò và tác động của đầu tư công đến tăng trưởng, đầu tư tư nhân và FDI ở Việt Nam.

Phương pháp tổng quan nghiên cứu thực nghiệm: tác giả tổng hợp, trích xuất và hệ thống hoá các nghiên cứu thực nghiệm về về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế, đầu tư tư nhân và đầu tư trực tiếp nước ngoài, so sánh giữa các kết quả nghiên cứu và rút ra xu hướng chung về tác động của đầu tư công trong nền kinh tế Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những kiến giải phiến diện về vai trò của kinh tế nhà nước ở Việt Nam thường tập trung vào một số vấn đề chính như sau: (i) luận điệu quy chụp khu vực kinh tế nhà nước là “gánh nặng” và “cản trở” sự phát triển dựa trên lợi dụng, thổi phồng những yếu kém, thua lỗ, tiêu cực, sai phạm của một số doanh nghiệp nhà nước; (ii) luận điệu về tác động lấn át, chèn ép khu vực kinh tế tư nhân, bóp méo cạnh tranh thị trường, làm thui chột động lực phát triển của khu vực tư nhân. Từ đó, đòi hỏi “tư nhân hoá triệt để”, cho rằng chỉ có sức mạnh thị trường và tư nhân mới đảm bảo hiệu quả; (iii) luận điệu cho rằng vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là “mơ hồ”, “không định lượng được”, chỉ là “khẩu hiệu ý thức hệ” chứ không có giá trị trong thực tiễn điều hành nền kinh tế (Hoàng Thị Bích Loan, 2025).

Nhưng tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, những luận điệu nêu trên hoàn toàn thiếu căn cứ vững chắc, thiếu tính phổ quát, thiếu tính khoa học, thiếu những tiêu chí định lượng. Phần tiếp theo của bài viết tập trung vào việc phản bác những luận điệu đó bằng hệ thống các nghiên cứu thực nghiệm dựa trên các phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại, bộ dữ liệu tin cậy được công bố bởi các tổ chức uy tín như Ngân hàng thế giới – WB, Quỹ tiền tệ quốc tế – IMF, Ngân hàng phát triển Châu Á – ADB, Cục Thống kê Việt Nam… Kết quả được rút ra từ quy trình nghiên cứu khoa học bài bản, chặt chẽ, các biện pháp ước lượng, kiểm định nghiêm ngặt là bằng chứng khách quan nhất, vững chắc nhất, tin cậy nhất để đập tan những luận điệu sai trái, quy chụp, thổi phồng của các thế lực thù địch về vai trò của kinh tế nhà nước ở Việt Nam.

Đầu tư công: động lực tăng trưởng dài hạn
Phân tích dữ liệu trong giai đoạn 2000 – 2023 cho thấy trong dài hạn, đầu tư công của Việt Nam chính là xung lực dẫn dắt tăng trưởng trong dài hạn, đầu tư công trên GDP tăng 1% sẽ giúp GDP thực tế tăng thêm khoảng 1,1% sau thời gian 5 năm (Dubovik và cộng sự, 2025).

Trong một số mô hình hồi quy bằng phương pháp POLS, kết quả cho thấy nếu tăng 1% đầu tư công thì tăng trưởng sản lượng có thể tăng thêm khoảng 0,29 điểm phần trăm (Hoàng Thị Chinh Thon và cộng sự, 2010), thậm chí hệ số tác động trong dài hạn có thể đạt mức gần bằng 1 (tức là đầu tư công tăng 1% thì thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tăng gần 1%) khi ước lượng bằng mô hình VAR, VECM (Hoàng Hồng Hiệp và cộng sự, 2018).

Riêng tại vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam giai đoạn 2000-2021, khi đầu tư công tại một tỉnh tăng 1% thì GRDP của chính tỉnh đó tăng 0,103%, đồng thời làm tăng thêm 0,027% GRDP của các tỉnh lân cận (Hồ Thị Hoài Thương và cộng sự, 2023). Ủng hộ kết quả này, mô hình Durbin không gian (SDM) trong nghiên cứu của Hung Phuong Vu và cộng sự (2023) chứng minh rằng đầu tư công tại một địa phương tạo hiệu ứng lan toả tích cực sang các tỉnh lân cận. Điều này chứng minh đầu tư công là nhân tố them chốt không chỉ trong giảm chi phí sản xuất, giảm chi phí logistics mà còn thúc đẩy liên kết vùng một cách mạnh mẽ.

Không “lấn át” mà “dẫn dắt”: vốn công mở đường cho vốn tư nhân
Một trong những luận điệu mà các thế lực thù địch thường sử dụng để phủ nhận vai trò của kinh tế nhà nước là cho rằng vốn nhà nước có tác động “lấn át” đối với đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu thực nghiệm gần đây đã bác bỏ quan điểm quy chụp này thông qua các kết quả về hệ số lan tỏa và “ngưỡng tối ưu” của đầu tư công tại Việt Nam.

Các nghiên cứu của Trần Kim Chung và Nguyễn Văn Tùng (2021), Nguyễn Thị Thùy Liên (2022), Nguyễn Thế Khang (2022) đều cung cấp bằng chứng cho thấy đầu tư công tại Việt Nam có hệ số thu hút lớn và xu hướng ngày càng gia tăng, qua đó đóng vai trò xung lực dẫn dắt tăng trưởng kinh tế và lan tỏa phát triển vùng. Theo số liệu ước tính cho Việt Nam, trong giai đoạn 2016–2020, cứ giải ngân 1 đồng vốn đầu tư công sẽ thu hút khoảng 1,61 đồng vốn đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước, cao hơn đáng kể so với mức 1,42 đồng của giai đoạn 2011–2015.

Một nghiên cứu khác dựa trên dữ liệu giai đoạn 1990–2019 cũng cho thấy xu hướng gia tăng rõ rệt của hiệu ứng thu hút đầu tư tư nhân, tiếp tục khẳng định vai trò dẫn dắt của đầu tư công. Cụ thể, hệ số thu hút đầu tư tư nhân tăng từ 1,4 trong giai đoạn 1996–2000 lên 2,6 trong giai đoạn 2011–2015 và đạt 3,3 trong giai đoạn 2016–2019 (Nguyễn Thị Thùy Liên, 2022).

Bên cạnh đó, nghiên cứu của Nguyễn Thế Khang (2022), sử dụng đồng thời hai phương pháp ước lượng quan hệ dài hạn giữa các biến đồng liên kết là FMOLS và DOLS cho chuỗi dữ liệu giai đoạn 2000–2020, đều cho kết quả nhất quán rằng đầu tư công có tác động tích cực và dài hạn đối với đầu tư tư nhân tại Việt Nam. Điều này cho thấy, theo thời gian, hiệu ứng dẫn dắt của đầu tư công ngày càng rõ nét; vốn công đang thực hiện vai trò “mở đường”, tạo nền tảng cho khu vực tư nhân phát triển, chứ không phải “chiếm chỗ” hay kìm hãm khu vực này.

Không chỉ vậy, nghiên cứu của Dubovik và cộng sự (2025) còn chỉ ra rằng ngưỡng đầu tư công tối ưu tại Việt Nam nằm ở mức khoảng 8,532% GDP. Theo nghiên cứu này, khi tỷ lệ đầu tư công duy trì dưới ngưỡng trên, đầu tư công sẽ phát huy vai trò “vốn mồi”, dẫn dắt và kích thích đầu tư tư nhân (Dubovik và cộng sự, 2025). Dữ liệu tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng cho thấy ngưỡng đảo chiều của đầu tư công nằm trong khoảng 8–10% GRDP (Nguyen Thi Thanh Huong, 2025). Trong khi đó, tỷ lệ đầu tư công trên GDP của Việt Nam hiện vào khoảng 5,7% theo số liệu của Cục Thống kê. Vì vậy, chủ trương tiếp tục thúc đẩy giải ngân đầu tư công trong giai đoạn 2026–2030, đồng thời duy trì quy mô đầu tư công ở mức hợp lý, chính là tạo dựng “đường băng” để khu vực tư nhân tăng tốc và cất cánh.

Từ hạ tầng đến chuỗi giá trị: đầu tư công là “thỏi nam châm” hút FDI
Đối với việc thu hút dòng vốn FDI, đầu tư công giữ vai trò “xương sống” chiến lược, tạo nền tảng để Việt Nam bứt phá trở thành trung tâm sản xuất mới của thế giới, đặc biệt trong bối cảnh hậu Covid-19 và xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu. Một nghiên cứu quốc tế sử dụng mô hình tự hồi quy vectơ phân vị (QVAR) trên dữ liệu các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2000–2020 cho thấy tồn tại mối quan hệ cân bằng và ổn định trong dài hạn giữa vốn hạ tầng, công nghệ – trong đó vốn công là bộ phận cốt lõi – với dòng vốn FDI vào Việt Nam.

Các chỉ số đo lường mức độ gắn kết này (Trace statistics) của Việt Nam đạt mức rất cao, lần lượt là 21,85 đối với hạ tầng và 20,87 đối với mức độ sẵn sàng công nghệ. Kết quả đó cho thấy đầu tư vào hạ tầng, công nghệ và đổi mới sáng tạo chính là “thỏi nam châm” thu hút dòng vốn từ các tập đoàn đa quốc gia, đồng thời tạo ra chu trình động lực liên hoàn: đầu tư công thu hút FDI; FDI tiếp tục thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; từ đó củng cố vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu (Wang và cộng sự, 2024).

Những bằng chứng thực nghiệm từ chính quá trình phát triển của Việt Nam đã bác bỏ rõ ràng các luận điệu xuyên tạc nhằm phủ nhận vai trò của kinh tế nhà nước. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu ngày càng gay gắt, một quốc gia muốn phát triển nhanh, bền vững và tự chủ không thể thiếu một khu vực kinh tế nhà nước đủ mạnh, đủ hiệu quả và đủ năng lực dẫn dắt. Vì vậy, kiên định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không chỉ là lựa chọn chính sách, mà còn là lựa chọn chiến lược của một quốc gia muốn vươn lên bằng chính nội lực của mình.

Trên cơ sở đó, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định định hướng phát huy vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước. Đồng thời, Nghị quyết số 79-NQ/TW năm 2026 của Bộ Chính trị yêu cầu tập trung phát triển kinh tế nhà nước theo hướng giữ vai trò dẫn dắt, mở đường và tiên phong kiến tạo phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tư duy chiến lược mới thể hiện sự chuyển dịch từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, sử dụng nguồn lực công để mở ra các không gian phát triển mới, qua đó tạo điều kiện để khu vực tư nhân phát huy vai trò động lực và trụ cột trong phát triển đất nước.

Không dừng lại ở đó, tư duy phát triển mới còn cho thấy sự chuyển hướng mạnh mẽ sang phát triển hạ tầng số, hạ tầng xanh và đổi mới sáng tạo. Việc ưu tiên vốn đầu tư công cho các công nghệ lõi, năng lượng sạch và hạ tầng chiến lược chính là bước chuẩn bị cần thiết để đón đầu các xu thế phát triển toàn cầu, đồng thời tạo dựng nền tảng tự chủ và sức cạnh tranh dài hạn cho nền kinh tế quốc gia.

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, việc nhận diện và kiên quyết phản bác các luận điệu sai trái, thù địch nhằm phủ nhận vai trò của khu vực kinh tế nhà nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Những quan điểm cho rằng kinh tế nhà nước là “gánh nặng” hay “hố đen” nguồn lực thực chất chỉ là các lập luận phiến diện, lỗi thời, nhằm phủ nhận vai trò kiến tạo và điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Các bằng chứng thực nghiệm từ nhiều nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế về tác động của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế và thu hút đầu tư tư nhân đã bác bỏ rõ ràng những luận điệu thiếu căn cứ, thiếu khách quan và mang tính quy chụp của các thế lực thù địch. Thực tiễn cho thấy, kinh tế nhà nước với “mũi giáp chiến lược” là đầu tư công không những không cạnh tranh hay cản trở khu vực tư nhân, mà còn giữ vai trò mở đường, kiến tạo môi trường và tạo nền tảng thuận lợi để mọi thành phần kinh tế cùng phát triển và bứt phá.

Kiên định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước vì vậy không chỉ là lựa chọn chính sách, mà còn là sự lựa chọn dựa trên cơ sở khoa học và bản sắc tự cường của dân tộc Việt Nam. Sự kết hợp giữa thực tiễn gần 40 năm đổi mới với tư duy chiến lược được xác lập trong Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định rõ định hướng phát triển của đất nước: xây dựng một khu vực kinh tế nhà nước mạnh, hiệu quả và tiên phong để dẫn dắt nền kinh tế vượt qua bẫy thu nhập trung bình, giữ vững ổn định kinh tế – xã hội và chủ động ứng phó với các âm mưu “diễn biến hòa bình” trên mặt trận kinh tế.

Mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao không chỉ phản ánh khát vọng tăng trưởng, mà còn là biểu tượng của ý chí tự cường, sức mạnh nội lực và chủ quyền kinh tế quốc gia trong tiến trình vươn tầm khu vực và thế giới.

Th.S. Vũ Thị Quý/Học viện Chính trị khu vực II

Tài liệu tham khảo
Tài tiệu trong nước:
1.Bộ Chính trị. (2026). Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước.
2.Dữ liệu Cục Thống kê Việt Nam tại website: https://www.nso.gov.vn/
3.Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
4.Đức Trung. (2022). Pháp quốc hữu hóa tập đoàn điện hạt nhân lớn nhất châu Âu. VnExpress.
5.Hoàng Hồng Hiệp và cộng sự. (2018). Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế vùng Nam Trung Bộ giai đoạn 2001–2016. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, (6), 56–63.
6.Hoàng Thị Chinh Thon và cộng sự. (2010). Tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế của các địa phương tại Việt Nam (Bài nghiên cứu NC-19). Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, Vietnam National University, Hanoi.
7.Hoàng Thị Bích Loan. (2025). Nhận diện và phản bác các luận điệu phủ định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Lý luận Chính trị. https://lyluanchinhtri.vn/
8.Hồ Thị Hoài Thương, Nguyễn Thị Hồng, & Nguyễn Bình Dương. (2023). Tác động trực tiếp và lan tỏa của đầu tư công tới tăng trưởng và hội tụ tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam: Tiếp cận từ mô hình hồi quy không gian. Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế.
9.Hung Phuong Vu, (2023), “Spatial Impact of Public Investment on Province’s Economic Growth in Vietnam” Advances in Economics, Business and Management Research, In: Proceedings of the 11th International Conference on Emerging Challenges: Smart Business and Digital Economy 2023 (ICECH 2023)
10.Khang, N. T. (2022). Tác động của đầu tư công đối với đầu tư tư nhân ở các địa phương của Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, 101–111.
11.Linh Tô. (2023). Nhật Bản: Tập đoàn JIC mua lại JSR nhằm củng cố chuỗi cung ứng chip. VietnamPlus.
12.Nguyễn Thị Thuỳ Liên. (2022). Vai trò của đầu tư công đối với đầu tư tư nhân và tăng trưởng qua các hệ số thu hút và lan tỏa. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, 90–100.
13.Nguyen Thi Thanh Huong (2025). Impact of Sectoral Public Investment on Economic Growth in Ho Chi Minh City, Vietnam. 5(6), 166–176. https://doi.org/10.62225/2583049x.2025.5.6.5187
14.Trần Kim Chung, & Nguyễn Văn Tùng. (2021). Đầu tư công và tác động lan tỏa của đầu tư công trong nền kinh tế. Tạp chí Tài chính.

Tài liệu nước ngoài:
15.Dubovik, M. V., Komarova, I. P., & An, D. T. (2025). How should public investment be structured to avoid the crowding-out effect on private investment? Valuable lessons from the Russian economy for Vietnam. Russian Journal of Economics, 11(3), 349–380.
16.Friedman, M., Friedman, R. D., & Gardner, G. (1962). Capitalism and freedom (Vol. 133). Chicago: University of Chicago press.
17.Keynes, J. M. (1936). The General Theory of Employment, Interest and Money. Keynes, J. M. (1937). The general theory of employment. The quarterly journal of economics, 51(2), 209-223.
18.Herring, Matt (2013). The entrepreneurial state. A new book points out the big role governments play in creating innovative businesses. The Economist.
19.Mazzucato, M. (2011). The entrepreneurial state. Soundings, 49(49), 131-142.
20.Nozick, R. (2001). Anarchy state and utopia. John Wiley & Sons.
21.Smith, A. (1937). The wealth of nations [1776] (Vol. 11937).
22.Thuong, H. T. H., & Huyen, N. T. T. (2024). The impact of public investment on private investment in Vietnam’s Central Key Economic Region and the Mekong Delta Key Economic Region: A PMG approach. Thailand and the World Economy, 42(3), 18–33.
23.Wang, H., Sua, L. S., Huang, J., Ortiz, J., & Alidaee, B. (2024). Will Southeast Asia be the next global manufacturing hub? A multiway cointegration, causality, and dynamic connectedness analyses. Emerging Markets Review.