Hơn 81 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc mà còn tích cực tham gia lao động sản xuất, đóng góp quan trọng vào tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thế nhưng, các thế lực thù địch lại lợi dụng thủ đoạn “lấy hiện tượng quy kết bản chất” để xuyên tạc, phủ nhận vai trò này. Vì vậy, cần kịp thời nhận diện, vạch trần những luận điệu sai trái nhằm bảo vệ và phát huy đúng đắn chức năng của Quân đội trong phát triển kinh tế.

Tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế là biểu hiện sinh động của bản chất cách mạng, đồng thời là truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam trong hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành. Hoạt động này không chỉ góp phần tự bảo đảm một phần nhu cầu vật chất, giảm gánh nặng cho nền kinh tế, mà còn trực tiếp củng cố tiềm lực quốc phòng, nâng cao sức mạnh chiến đấu.
Trong bối cảnh hiện nay, cục diện thế giới biến động nhanh, phức tạp, theo xu hướng đa cực, đa trung tâm và phân mảnh sâu sắc. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Tình hình đó đặt ra yêu cầu Quân đội phải tiếp tục phát huy vai trò trong phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng.
Đồng thời, Quân đội cần giữ vai trò nòng cốt, tiên phong trong ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Qua đó, thực hiện hiệu quả mục tiêu kép: vừa bảo đảm vững chắc nhiệm vụ quốc phòng, vừa góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn tồn tại những quan điểm sai lệch, thậm chí mang tính thành kiến về việc Quân đội tham gia phát triển kinh tế. Một số ý kiến cố tình hiểu sai đường lối, chủ trương của Đảng về chức năng “đội quân lao động sản xuất” của Quân đội.
Dưới vỏ bọc “phản biện”, “góp ý”, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị ra sức tuyên truyền rằng Quân đội “không nên làm kinh tế”. Họ cho rằng hoạt động này làm “lệch chức năng”, “tha hóa bản chất cách mạng”, thậm chí là nguyên nhân dẫn đến tiêu cực, tham nhũng. Nguy hiểm hơn, họ tìm cách dẫn dắt dư luận theo hướng đối lập hóa giữa nhiệm vụ quốc phòng và phát triển kinh tế, tạo nhận thức sai lầm rằng hai lĩnh vực này không thể song hành.
Không dừng lại ở đó, các đối tượng còn lợi dụng một số hạn chế, khuyết điểm cá biệt trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng hoặc sai phạm ở một số ít doanh nghiệp Quân đội để cắt ghép, thổi phồng. Từ đó, họ suy diễn, quy kết sai lệch về bản chất hoạt động kinh tế của Quân đội.
Trên cơ sở này, họ đưa ra những “đề xuất” sai trái như: Quân đội chỉ nên tập trung huấn luyện, không nên tham gia lao động sản xuất, không nên kết hợp kinh tế với quốc phòng. Những luận điệu tưởng chừng “hợp lý” này thực chất là ngụy biện phiến diện, thiếu cơ sở khoa học và mang động cơ chính trị rõ ràng. Mục tiêu cuối cùng là từng bước phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân và gây bất ổn về tư tưởng trong xã hội.
Phân tích sâu cho thấy, các hoạt động xuyên tạc hiện nay không chỉ dừng ở công kích trực diện mà ngày càng được “kỹ thuật hóa” tinh vi trên không gian mạng. Các đối tượng triệt để lợi dụng các nền tảng số như Facebook, YouTube, TikTok, blog cá nhân và diễn đàn trực tuyến để phát tán thông tin sai lệch với tốc độ nhanh, phạm vi rộng.
Chúng sử dụng nhiều thủ đoạn như cắt ghép nội dung, trích dẫn phiến diện, giật tít gây sốc, thậm chí bóp méo hình ảnh, video hoặc đặt thông tin ngoài ngữ cảnh. Từ đó, tạo ra những “câu chuyện” có vẻ hợp lý nhằm đánh lừa người tiếp nhận. Không chỉ vậy, các đối tượng còn tổ chức bình luận có định hướng, khuếch đại những hạn chế, khuyết điểm cá biệt để dẫn dắt dư luận. Mục tiêu là từng bước tác động vào nhận thức, tâm lý xã hội, gieo rắc sự hoài nghi trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân.
Về bản chất, đây là thủ đoạn tuyệt đối hóa hiện tượng cá biệt để quy kết bản chất. Từ đó, chúng suy diễn sai lệch về vai trò của Quân đội trong phát triển kinh tế, đồng thời cố tình đồng nhất hoạt động này với kinh doanh thuần túy vì lợi nhuận. Sâu xa hơn, mục tiêu của các hoạt động này là thúc đẩy âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội, làm suy giảm vai trò lãnh đạo của Đảng và nền tảng chính trị của chế độ, tiến tới gây bất ổn về tư tưởng và niềm tin trong xã hội.
Tuy nhiên, mọi sự xuyên tạc không thể phủ nhận thực tế rằng chủ trương Quân đội tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế của Đảng có cơ sở lý luận vững chắc và đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Cơ sở lý luận của vấn đề này đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin luận giải sâu sắc. Khi bàn về vai trò của quân đội đối với kinh tế, C. Mác khẳng định: “Nói chung, quân đội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế”. Trên cơ sở đó, V. I. Lênin nhấn mạnh необходимость phải huy động lực lượng quân sự tham gia các nhiệm vụ kinh tế trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Ông cho rằng cần “tung vào những quỹ đạo mới toàn bộ lực lượng quân sự…”, từ đó hình thành các “đội quân lao động” trong thời kỳ quá độ.
Đặc biệt, V. I. Lênin đã trực tiếp chỉ đạo chuyển một số đơn vị chính quy của Hồng quân thành các đội quân lao động. Chủ trương này đặt nền móng cho lý luận về chức năng lao động sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội kiểu mới.
Thực tiễn lịch sử dân tộc Việt Nam cũng chứng minh tính đúng đắn của quan điểm này. Trong tiến trình dựng nước và giữ nước, các triều đại phong kiến đã vận dụng hiệu quả tư tưởng kết hợp giữa sản xuất và chiến đấu. Tiêu biểu là chính sách “ngụ binh ư nông”, “động vi binh, tĩnh vi dân”. Chính sách này vừa bảo đảm phát triển kinh tế, vừa duy trì lực lượng quốc phòng vững mạnh, sẵn sàng huy động khi đất nước có chiến tranh.
Tư tưởng kết hợp kinh tế với quốc phòng còn được thể hiện sâu sắc trong Binh thư yếu lược. Trần Hưng Đạo đặc biệt coi trọng việc chuẩn bị kinh tế cho chiến tranh. Ông nhấn mạnh: “Việc ăn là gốc của dân, là việc tính mệnh của binh…”, qua đó đề cao yêu cầu bảo đảm hậu cần, tích trữ vật lực và chuẩn bị đầy đủ các nguồn lực phục vụ chiến đấu.
Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn lịch sử đều khẳng định: việc Quân đội tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế là khách quan, cần thiết và có cơ sở vững chắc.
Kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, ngay từ buổi đầu thành lập quân đội, Hồ Chí Minh đã xác định rõ hai nhiệm vụ cơ bản: xây dựng quân đội vững mạnh, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc; đồng thời tích cực tham gia sản xuất nhằm góp phần phát triển kinh tế. Người nhấn mạnh, đây là hai nhiệm vụ đều quan trọng, có quan hệ thống nhất và phải được kết hợp chặt chẽ trong quá trình thực hiện.
Bước vào thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954–1975), đất nước đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam. Trong bối cảnh đó, chức năng lao động sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội được đặt ra rõ ràng và cấp thiết hơn.
Tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (mở rộng) tháng 3/1957, Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa quốc phòng và kinh tế. Quân đội không chỉ thực hiện nhiệm vụ xây dựng, củng cố quốc phòng mà còn phải tích cực tham gia phát triển kinh tế, xây dựng hậu phương vững chắc. Đồng thời, quá trình phát triển kinh tế cũng phải gắn với yêu cầu củng cố quốc phòng, kết hợp chặt chẽ giữa nhu cầu thời bình và thời chiến.
Thực hiện chủ trương đó, Bộ Quốc phòng đã điều động nhiều đơn vị tham gia sản xuất, xây dựng nông trường, công trường, nhà máy, xí nghiệp trên toàn miền Bắc. Đến tháng 6/1970, khi tình hình chiến tranh có chuyển biến, Bộ Chính trị tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh tăng gia sản xuất, nâng cao khả năng tự túc lương thực, đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng lực lượng.
Những chủ trương và thực tiễn này tiếp tục khẳng định: việc Quân đội tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế là nhất quán về đường lối, phù hợp với yêu cầu của cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử.
Từ năm 1975 đến nay, trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Trung ương Đảng tiếp tục phát huy vai trò của Quân đội trong tham gia phát triển kinh tế. Quân đội không chỉ là lực lượng nòng cốt bảo vệ chế độ mà còn là lực lượng xung kích của Đảng trên mặt trận kinh tế.
Quán triệt quan điểm đó, Đảng ta nhất quán xác định kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế là nguyên tắc chiến lược xuyên suốt. Đây là yêu cầu tất yếu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Từ Đại hội VI – dấu mốc khởi đầu công cuộc đổi mới – đến các kỳ Đại hội tiếp theo, đặc biệt là Đại hội XI, XII, XIII, Đảng không ngừng bổ sung và phát triển nhận thức về mối quan hệ này. Các văn kiện đều nhấn mạnh yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh trong mọi chiến lược phát triển đất nước.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: cần “kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh; giữa tăng cường quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế – xã hội”. Đồng thời, nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng tiềm lực quốc phòng gắn với tiềm lực kinh tế và khoa học – công nghệ của đất nước.
Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ Quân đội tham gia phát triển kinh tế tiếp tục được cụ thể hóa trong các văn kiện quan trọng. Nghị quyết số 820-NQ/QUTW ngày 17/12/2021 của Quân ủy Trung ương xác định rõ định hướng lãnh đạo nhiệm vụ lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng đến năm 2030. Văn kiện Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII (nhiệm kỳ 2025–2030) nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và xây dựng nền công nghiệp quốc phòng tự chủ, lưỡng dụng, hiện đại. Đồng thời, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định Quân đội phải thực hiện tốt ba chức năng: đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất.
Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy, mô hình Quân đội tham gia phát triển kinh tế không những không làm suy giảm bản chất cách mạng, mà còn góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp của Quân đội. Hoạt động này vừa tạo ra giá trị kinh tế, vừa trực tiếp phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, đồng thời đóng góp tích cực vào an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo và phát triển vùng khó khăn. Qua đó, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội.

Bên cạnh đó, Quân đội còn góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị tiềm lực quốc phòng ngay từ thời bình. Thông qua tổ chức sản xuất, phát triển hạ tầng, làm chủ công nghệ và xây dựng nguồn nhân lực chất lượng, Quân đội từng bước hình thành thế trận kinh tế gắn với thế trận quốc phòng. Điều này tạo điều kiện huy động nhanh các nguồn lực khi có tình huống, bảo đảm khả năng chuyển trạng thái của nền kinh tế một cách kịp thời, hiệu quả trong điều kiện khẩn cấp hoặc thời chiến.
Những kết quả đó là minh chứng rõ ràng cho tính đúng đắn và hiệu quả của chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng trong điều kiện mới.
Tập đoàn Viettel là minh chứng tiêu biểu cho sự kết hợp hiệu quả giữa kinh tế và quốc phòng trong thời đại mới. Với doanh thu hằng năm duy trì trên 160.000 tỷ đồng, đóng góp ngân sách nhà nước hàng chục nghìn tỷ đồng, Viettel không chỉ là doanh nghiệp viễn thông – công nghệ hàng đầu Việt Nam mà còn giữ vai trò nòng cốt trong xây dựng hạ tầng số quốc gia. Tập đoàn đồng thời là lực lượng quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số, góp phần xây dựng chính phủ số và xã hội số.
Mạng lưới viễn thông của Viettel đã phủ sóng 100% số xã trên cả nước, bao gồm hàng nghìn trạm phát sóng tại vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo – những địa bàn có ý nghĩa chiến lược về quốc phòng, an ninh. Điều này không chỉ bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho người dân mà còn góp phần củng cố thế trận quốc phòng toàn dân.
Không chỉ dừng lại ở viễn thông, Viettel còn đi đầu trong nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao phục vụ quốc phòng, từng bước làm chủ nhiều công nghệ lõi. Việc triển khai hạ tầng viễn thông tại các khu vực biên giới, hải đảo, đặc biệt tại Quần đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1, đã góp phần bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt, nâng cao năng lực chỉ huy, điều hành, phục vụ trực tiếp nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Với sự hiện diện tại nhiều quốc gia và hàng chục triệu thuê bao quốc tế, Viettel còn góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Đây là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của mô hình kết hợp kinh tế với quốc phòng trong điều kiện mới.
Cùng với đó, Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn (Binh đoàn 20) giữ vai trò chủ lực trong hệ thống cảng biển và logistics quốc gia, chiếm khoảng 50% thị phần container, với sản lượng thông qua đạt hàng chục triệu TEU mỗi năm. Không chỉ hoạt động hiệu quả về kinh tế, đơn vị còn thể hiện rõ trách nhiệm chính trị – xã hội thông qua các chương trình dân vận, an sinh với tổng kinh phí năm 2025 khoảng 625 tỷ đồng. Tiêu biểu là việc tài trợ xây dựng Trung tâm Y tế Bảo Lạc (Cao Bằng), khu dân cư tại xã Ia Tul (Gia Lai), cùng nhiều hoạt động chăm lo gia đình chính sách, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng, tu bổ nghĩa trang.
Trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng – an ninh, Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn trực tiếp tham gia vận chuyển, tôn tạo đảo, xây dựng công trình tại Quần đảo Trường Sa, đồng thời triển khai các giải pháp năng lượng tái tạo như điện mặt trời trên đảo. Những hoạt động này góp phần nâng cao điều kiện sinh hoạt, tăng cường bảo đảm hậu cần – kỹ thuật tại các khu vực chiến lược, phục vụ trực tiếp nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Qua đó, từng bước hình thành thế trận kinh tế biển gắn với thế trận quốc phòng toàn dân trên biển.
Bên cạnh đó, Hải đoàn 129 với hoạt động dịch vụ hậu cần nghề cá đã hỗ trợ hiệu quả ngư dân vươn khơi, bám biển, góp phần tạo nên “cột mốc sống” trên biển. Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn thông qua các công trình giao thông tại vùng sâu, vùng xa, biên giới cũng đóng góp thiết thực vào phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời củng cố thế trận quốc phòng.
Những kết quả trên cho thấy rõ: hoạt động tham gia phát triển kinh tế của Quân đội không phải là kinh tế thuần túy, mà là một bộ phận hữu cơ trong chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là sự kết hợp chặt chẽ, biện chứng giữa phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng, góp phần củng cố tiềm lực quốc phòng, xây dựng “thế trận lòng dân” và giữ vững ổn định chính trị – xã hội.
Thực tiễn đó khẳng định tính đúng đắn, tất yếu của chủ trương Quân đội tham gia phát triển kinh tế, đồng thời là cơ sở thuyết phục để bác bỏ các quan điểm sai trái, xuyên tạc trong tình hình hiện nay.

Trong bối cảnh các thế lực thù địch gia tăng xuyên tạc bản chất Quân đội tham gia phát triển kinh tế, đặc biệt trên không gian mạng với nhiều thủ đoạn tinh vi, yêu cầu trước hết là phải nhận diện đúng nội dung, tính chất và phương thức chống phá. Trọng tâm là làm rõ các luận điệu sai trái như phủ nhận chức năng đội quân lao động sản xuất, đối lập hóa quốc phòng với phát triển kinh tế, hoặc lợi dụng hiện tượng cá biệt để quy kết sai lệch về bản chất.
Cần chỉ rõ tính chất nguy hiểm của các luận điệu này. Không chỉ gây nhiễu loạn thông tin, chúng còn từng bước tác động vào nhận thức, làm suy giảm niềm tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Trên cơ sở đó, phải tổ chức đấu tranh trực diện, kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm; vạch rõ bản chất ngụy biện, phiến diện, không để lan rộng và tạo “hiệu ứng đám đông”.
Để thực hiện hiệu quả, cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp theo hướng trực tiếp, thường xuyên, gắn với trách nhiệm người đứng đầu. Việc quán triệt chủ trương của Đảng về kết hợp kinh tế với quốc phòng phải được triển khai sâu sắc, thống nhất, bảo đảm mỗi cán bộ, chiến sĩ nhận thức đúng và có khả năng phản bác các quan điểm sai trái.
Công tác tuyên truyền cần tập trung làm rõ bản chất, mục tiêu và hiệu quả của các mô hình kinh tế – quốc phòng, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Qua đó khẳng định đây không phải hoạt động kinh tế thuần túy mà gắn trực tiếp với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Lực lượng đấu tranh trên không gian mạng cần được xây dựng theo hướng tinh gọn, chuyên sâu, có bản lĩnh chính trị vững vàng và năng lực xử lý thông tin nhanh. Đồng thời, cần nâng cao kỹ năng truyền thông, phân tích, phản biện và định hướng dư luận cho đội ngũ cán bộ, báo cáo viên, tuyên truyền viên.

Cùng với đó, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; khai thác hiệu quả các nền tảng truyền thông và công cụ phân tích dữ liệu để phát hiện sớm, cảnh báo kịp thời và xử lý thông tin xuyên tạc. Sự phối hợp giữa các đơn vị Quân đội với cấp ủy, chính quyền địa phương và cơ quan báo chí cần chặt chẽ, đồng bộ, tạo thế trận đấu tranh thống nhất.
Bên cạnh đấu tranh phản bác, cần nâng cao hiệu quả thực chất của hoạt động kinh tế trong Quân đội. Tăng cường công khai, minh bạch; kịp thời xử lý nghiêm các sai phạm cá biệt, không để bị lợi dụng xuyên tạc. Đồng thời, chú trọng xây dựng, nhân rộng mô hình hiệu quả; đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, hoàn thiện phương thức tổ chức.
Công tác kiểm tra, giám sát cần được thực hiện thường xuyên, kịp thời phát hiện và khắc phục hạn chế. Bảo đảm đầy đủ nguồn lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị và cơ chế phối hợp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh tư tưởng, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội và toàn xã hội.
Tóm lại, bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam là không thể xuyên tạc. Thực tiễn lịch sử và hiện thực sinh động đã khẳng định: ở đâu Tổ quốc cần, ở đó có Quân đội, trên mọi mặt trận, từ chiến đấu đến phát triển kinh tế. Tham gia phát triển kinh tế không chỉ là nhiệm vụ, mà còn là chức năng và biểu hiện tập trung của bản chất, truyền thống vẻ vang của Quân đội.
Mọi luận điệu xuyên tạc, nhất là thủ đoạn lợi dụng hiện tượng cá biệt để quy kết bản chất, đều nhằm làm suy giảm niềm tin của Nhân dân và từng bước phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, việc nhận diện đúng bản chất vấn đề, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, đồng thời tiếp tục phát huy vai trò của Quân đội trong phát triển kinh tế là nhiệm vụ cấp thiết.
Điều đó đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trong toàn quân, cùng với sự đồng hành của Nhân dân. Đây không chỉ là trách nhiệm của Quân đội mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng của toàn hệ thống chính trị, góp phần củng cố niềm tin xã hội, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Trung tá Đặng Văn Sơn/Binh đoàn 20 – Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn
Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2026.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2026.
3. Kỷ yếu Hội nghị Ban Chỉ đạo 35 QUTW tổng kết nhiệm vụ năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026.
4. Kết luận số 57-KL/TW ngày 16/9/2019 của Bộ Chính trị về việc “Kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh”
5. Nghị Quyết số 820-NQ/QUTW ngày 17/12/2021 “Nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2030”.
6. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự Thật, Hà Nội, 2011, tr.376.
7. Tổng cục Chính trị (2025), Tài liệu nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030, Nxb QĐND, Hà Nội.
8. Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025 – 2030


