Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một sáng tạo lý luận đột phá của Đảng Cộng sản Việt Nam sau 40 năm đổi mới. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã làm thay đổi sâu sắc diện mạo đất nước, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam. Văn kiện Đại hội XIII, XIV khẳng định đất nước đang có cơ đồ, tiềm lực và vị thế chưa từng có, đồng thời bước vào kỷ nguyên mới với yêu cầu bứt phá phát triển, hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc.

Quá trình phát triển lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trước năm 1986, nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế tập trung, mang nặng tính bao cấp, dẫn đến nhiều khó khăn, lạm phát cao và đời sống nhân dân gặp nhiều thiếu thốn. Từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn, nhiều mô hình đổi mới mang tính đột phá đã xuất hiện, tiêu biểu là Chỉ thị số 100 (1981) về khoán sản phẩm trong nông nghiệp và Nghị quyết số 10 (1988) về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp. Những chủ trương này đã giải phóng sức sản xuất, tạo bước chuyển mạnh mẽ cho nông nghiệp, đưa Việt Nam từ nước thiếu lương thực trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.
Đại hội VI (1986) mở ra công cuộc đổi mới toàn diện, chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, từng bước vận dụng các quan hệ thị trường. Qua các kỳ đại hội, nhận thức lý luận của Đảng về kinh tế thị trường ngày càng hoàn thiện. Đại hội VII (1991) xác định nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; Đại hội VIII (1996) khẳng định kinh tế thị trường không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu chung của văn minh nhân loại. Đến Đại hội IX (2001), khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính thức được xác lập là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Đại hội XIII (2021) tiếp tục làm rõ nội hàm của mô hình này, nhấn mạnh đây là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ theo các quy luật thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và sự lãnh đạo của Đảng nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”. Trong quá trình chuẩn bị Đại hội XIV, Đảng tiếp tục tổng kết 40 năm đổi mới, bổ sung và phát triển nhận thức lý luận về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; đồng thời chính thức bổ sung lý luận về đường lối đổi mới vào nền tảng tư tưởng của Đảng, khẳng định bước phát triển mới trong tư duy lý luận và chiến lược phát triển đất nước.
Thành tựu nền kinh tế Việt Nam sau 40 năm đổi mới .
Kiên định phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo nền tảng cho sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam. Từ quy mô GDP khoảng 5 tỷ USD năm 1986, đến năm 2025 nền kinh tế ước đạt 514 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tư ASEAN. GDP bình quân đầu người đạt trên 5.025 USD, tăng gấp 10 lần so với năm 2000, đánh dấu bước tiến quan trọng trên con đường trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao.
Không chỉ tăng trưởng về quy mô, chất lượng phát triển cũng được nâng lên rõ rệt thông qua việc gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận là điểm sáng về giảm nghèo bền vững, phổ cập giáo dục và bảo hiểm y tế. Hệ thống hạ tầng giao thông, năng lượng, viễn thông và hạ tầng số phát triển nhanh, góp phần thay đổi diện mạo đất nước. Việc sắp xếp đơn vị hành chính theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp với 34 tỉnh, thành phố mở ra không gian phát triển mới cho các vùng kinh tế. Trên bình diện đối ngoại, Việt Nam đã thiết lập quan hệ kinh tế với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, tham gia 17 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, từng bước khẳng định vị thế là mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tuy nhiên, bước vào kỷ nguyên phát triển mới, Việt Nam cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức đan xen. Bối cảnh quốc tế diễn biến nhanh, phức tạp với cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng và tác động sâu rộng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong nước, năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực và mức độ đồng bộ của hệ thống hạ tầng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển. Đặc biệt, thể chế tiếp tục được xác định là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, đòi hỏi phải triển khai quyết liệt các chủ trương, giải pháp đột phá được đề ra tại Đại hội XIV nhằm khơi thông mọi nguồn lực, tạo động lực mới cho tăng trưởng nhanh, bền vững và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh, hùng cường.
Phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.
Sự thành công của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam đã trở thành cái gai trong mắt các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị. Chúng không ngừng tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm phủ nhận tính khoa học, tính thực tiễn và tiền đồ của mô hình này. Trên cơ sở bám sát thực tiễn 40 năm đổi mới và các luận cứ khoa học từ Văn kiện Đại hội XIII, XIV, chúng ta cần “trực diện” phản bác các nhóm luận điệu sai trái sau đây:
Nhóm luận điệu phủ nhận sự tồn tại của mô hình kinh tế Việt Nam, cho rằng đây chỉ là “khẩu hiệu ngụy trang”. Các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị thường rêu rao rằng trên thế giới không tồn tại mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; cho rằng Việt Nam chỉ “gắn thêm cái đuôi xã hội chủ nghĩa” vào nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa nhằm che đậy bản chất thực sự của mô hình phát triển. Từ đó, chúng quy kết đây là sản phẩm của tư duy duy ý chí, thiếu cơ sở khoa học và không có tính khả thi.
Tuy nhiên, cả lý luận và thực tiễn đều bác bỏ luận điệu này. Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định kinh tế thị trường là thành tựu chung của nền văn minh nhân loại, không phải sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản. Với tư cách là một phương thức tổ chức và vận hành nền kinh tế, kinh tế thị trường có thể tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau.
Ở Việt Nam, định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là sự gắn ghép mang tính hình thức mà được thể hiện nhất quán trong mục tiêu phát triển vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; trong cơ cấu sở hữu và thành phần kinh tế đa dạng, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; đồng thời được bảo đảm bằng cơ chế phân phối gắn với tiến bộ, công bằng xã hội và hệ thống chính sách an sinh xã hội ngày càng hoàn thiện. Mô hình này đã được thể chế hóa trong Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp năm 2013 và các văn kiện đại hội Đảng qua nhiều nhiệm kỳ. Thực tiễn gần 40 năm đổi mới với những thành tựu nổi bật về tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân và hội nhập quốc tế sâu rộng chính là minh chứng thuyết phục cho tính đúng đắn, khoa học và hiệu quả của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Luận điệu cho rằng “kinh tế thị trường” và định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ luôn đối lập nhau, loại trừ nhau. Một luận điệu sai trái khác cho rằng kinh tế thị trường vốn gắn với cạnh tranh, lợi nhuận và tính tự phát nên không thể dung hòa với các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Từ đó, các thế lực thù địch xuyên tạc rằng định hướng xã hội chủ nghĩa là “rào cản” đối với tăng trưởng, làm suy giảm tính năng động và hiệu quả của nền kinh tế thị trường.
Nhận định này không phù hợp với cả lý luận và thực tiễn. Kinh tế chính trị Mác – Lênin xem thị trường là một cơ chế phân bổ nguồn lực mang tính khách quan, tồn tại độc lập với chế độ chính trị – xã hội cụ thể. Bản chất và định hướng phát triển của nền kinh tế không do thị trường quyết định mà phụ thuộc vào quan hệ sở hữu, mục tiêu phát triển và vai trò quản lý của Nhà nước. Trên cơ sở đó, Việt Nam xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ và đồng bộ theo các quy luật của thị trường, đồng thời đặt dưới sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm khắc phục những hạn chế, khuyết tật vốn có của cơ chế thị trường, bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.
Thực tiễn gần 40 năm đổi mới cho thấy, quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ cải cách hành chính, hoàn thiện môi trường đầu tư kinh doanh đến bảo đảm quyền sở hữu và quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thu hút mạnh mẽ nguồn vốn đầu tư nước ngoài và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia phát triển, đặc biệt là các nước Bắc Âu như Thụy Điển và Na Uy, cũng cho thấy cơ chế thị trường hoàn toàn có thể kết hợp hiệu quả với các chính sách phúc lợi và bảo đảm công bằng xã hội. Điều đó càng khẳng định rằng giữa kinh tế thị trường và mục tiêu xã hội chủ nghĩa không tồn tại sự đối lập tất yếu, mà có thể được kết hợp hài hòa trong một mô hình phát triển phù hợp với điều kiện lịch sử và thực tiễn của mỗi quốc gia.
Luận điệu cho rằng mô hình kinh tế của Việt Nam sẽ dẫn đến “tư bản thân hữu” và tham nhũng nặng nề. Các thế lực thù địch thường lợi dụng một số vụ án tham nhũng, tiêu cực và sai phạm xảy ra tại các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước để quy chụp rằng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tất yếu dẫn đến lợi ích nhóm, tham nhũng và sự cấu kết giữa quyền lực công với lợi ích kinh tế. Từ những hiện tượng cá biệt, chúng cố tình đánh đồng khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên với bản chất của chế độ và mô hình phát triển ở Việt Nam.
Đây là cách lập luận phiến diện, thiếu cơ sở khoa học và không phản ánh đúng thực tiễn. Tham nhũng, lợi ích nhóm hay lạm dụng quyền lực là những nguy cơ tồn tại ở mọi quốc gia và mọi mô hình phát triển nếu thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả, công khai và minh bạch. Không thể lấy những sai phạm của một số cá nhân để phủ nhận bản chất tốt đẹp cũng như những thành tựu to lớn của cả một chế độ.
Thực tiễn những năm qua cho thấy Đảng và Nhà nước Việt Nam đã kiên quyết, kiên trì đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, xử lý nghiêm minh nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao vi phạm. Kết quả đó không phải biểu hiện của sự yếu kém của hệ thống, mà ngược lại cho thấy năng lực tự chỉnh đốn, tự đổi mới và tự hoàn thiện của Đảng và Nhà nước trong quá trình lãnh đạo đất nước. Đồng thời, việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường minh bạch, kiểm soát quyền lực và chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ nhân dân chính là những giải pháp căn cơ nhằm ngăn ngừa tham nhũng, thu hẹp “vùng xám” của lợi ích nhóm và củng cố niềm tin của nhân dân đối với chế độ.
Luận điệu phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đòi phải “tư nhân hóa” toàn bộ nền kinh tế. Một luận điệu khác thường được các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị đưa ra là cho rằng kinh tế nhà nước hoạt động kém hiệu quả, trở thành gánh nặng đối với ngân sách và là môi trường phát sinh tiêu cực; từ đó đòi hỏi phải tư nhân hóa triệt để, xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Thực chất, đây là quan điểm nhằm phủ nhận vai trò quản lý của Nhà nước, tách nền kinh tế khỏi sự lãnh đạo của Đảng và định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Quan điểm này không phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước cũng như kinh nghiệm quốc tế. Các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Đại hội XIII và những nghị quyết chuyên đề về phát triển kinh tế, đều khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vai trò đó không được hiểu là bao cấp hay bao trùm mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, mà thể hiện ở việc nắm giữ các lĩnh vực then chốt, hạ tầng chiến lược, các ngành có ý nghĩa đặc biệt đối với ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh năng lượng, an ninh tài chính, quốc phòng và an ninh quốc gia; đồng thời tạo nền tảng, dẫn dắt và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
Chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước là tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước; đẩy mạnh cổ phần hóa đối với những lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ, qua đó sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực xã hội. Vì vậy, việc khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không đồng nghĩa với duy trì cơ chế bao cấp hay bảo hộ thiếu hiệu quả, mà nhằm bảo đảm định hướng phát triển bền vững và lợi ích quốc gia trong điều kiện kinh tế thị trường.
Thực tiễn thế giới cũng cho thấy, ngay cả ở nhiều quốc gia phát triển theo mô hình kinh tế thị trường, Nhà nước vẫn duy trì vai trò chi phối hoặc sở hữu đáng kể trong các lĩnh vực chiến lược như năng lượng, hạ tầng, tài chính, giao thông hay quốc phòng nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia và ổn định kinh tế – xã hội. Điều đó cho thấy sự hiện diện của khu vực kinh tế nhà nước trong các ngành, lĩnh vực trọng yếu là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển, không phải đặc trưng riêng của Việt Nam.
Xuyên tạc rằng kinh tế tư nhân thường sẽ bị “kỳ thị, phân biệt đối xử”. Các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị thường cho rằng việc khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế chỉ mang tính khẩu hiệu; đồng thời xuyên tạc rằng khu vực kinh tế tư nhân vẫn bị phân biệt đối xử, bị kìm hãm và lép vế trước khu vực kinh tế nhà nước. Chúng lợi dụng những khó khăn còn tồn tại trong tiếp cận đất đai, nguồn vốn và thủ tục hành chính của doanh nghiệp để quy kết rằng Nhà nước không tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho khu vực kinh tế tư nhân.
Những nhận định này không phản ánh đầy đủ thực tiễn phát triển kinh tế ở Việt Nam. Trong quá trình đổi mới, nhận thức của Đảng về vai trò của kinh tế tư nhân không ngừng được hoàn thiện. Từ việc cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân đến việc xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, nhiều chủ trương, nghị quyết đã được ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực này phát triển. Đặc biệt, các văn kiện gần đây của Đảng tiếp tục khẳng định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân.
Cùng với đó, hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách kinh tế ngày càng được hoàn thiện theo hướng bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản và sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trước pháp luật. Thực tiễn cho thấy khu vực kinh tế tư nhân ngày càng đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP, thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Sự hình thành và phát triển của nhiều doanh nghiệp, tập đoàn tư nhân có năng lực cạnh tranh trong nước và từng bước vươn ra thị trường quốc tế là minh chứng rõ nét cho môi trường phát triển ngày càng thuận lợi của khu vực này.
Đúng là vẫn còn những rào cản về thủ tục hành chính, tiếp cận nguồn lực và chi phí tuân thủ pháp luật ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đây là những hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện và hoàn thiện thể chế, không phải biểu hiện của sự phân biệt đối xử về chủ trương hay đường lối. Việc nhận diện và tháo gỡ các điểm nghẽn này đang được Đảng và Nhà nước đẩy mạnh thông qua các chương trình cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và những định hướng đột phá được đề ra trong quá trình triển khai Nghị quyết Đại hội XIV, nhằm phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Luận điệu cho rằng hội nhập kinh tế quốc tế sẽ là từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa, “chệch hướng”… Một luận điệu xuyên tạc khác cho rằng quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới sẽ khiến Việt Nam từng bước bị “tư bản hóa”, từ đó đánh mất định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo cách lập luận này, hội nhập quốc tế đồng nghĩa với việc chấp nhận lệ thuộc vào các chuẩn mực, thể chế và luật chơi do các nước phương Tây chi phối.
Thực tiễn phát triển của Việt Nam trong gần 40 năm đổi mới đã bác bỏ hoàn toàn nhận định đó. Đường lối đối ngoại nhất quán của Đảng xác định hội nhập quốc tế phải gắn liền với việc giữ vững độc lập, tự chủ, bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc và kiên định định hướng xã hội chủ nghĩa. Hội nhập không phải là mục tiêu tự thân mà là phương thức để mở rộng không gian phát triển, thu hút nguồn lực bên ngoài, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, khoa học – công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Trong mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, hội nhập quốc tế tạo điều kiện phát triển lực lượng sản xuất, còn định hướng xã hội chủ nghĩa được thể hiện ở mục tiêu phát triển vì con người, ở cơ chế phân phối gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, cũng như ở hệ thống chính sách an sinh nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Đây chính là yếu tố bảo đảm để quá trình hội nhập phục vụ cho sự phát triển đất nước mà không làm thay đổi bản chất, mục tiêu và định hướng của chế độ.
Thực tế cho thấy Việt Nam đã triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập toàn diện trên cơ sở lấy lợi ích quốc gia – dân tộc làm nguyên tắc cao nhất. Những thành tựu nổi bật về tăng trưởng kinh tế, mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế quốc tế, cùng với sự cải thiện rõ rệt về đời sống nhân dân là minh chứng sinh động cho việc hội nhập thành công mà vẫn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, không rơi vào lệ thuộc hay chệch hướng phát triển.
Luận điệu xuyên tạc rằng Việt Nam “sao chép” mô hình kinh tế từ nước khác, không có sáng tạo riêng. Các thế lực thù địch thường xuyên tuyên truyền rằng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam chỉ là sự sao chép từ Trung Quốc hoặc một số quốc gia xã hội chủ nghĩa khác, từ đó suy diễn rằng Việt Nam thiếu tính độc lập trong hoạch định đường lối phát triển và lệ thuộc về tư tưởng, chính trị.
Đây là luận điệu mang tính áp đặt, không dựa trên những căn cứ lịch sử và thực tiễn khách quan. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là kết quả của quá trình tìm tòi, đổi mới tư duy lý luận và tổng kết sâu sắc thực tiễn phát triển đất nước qua gần 40 năm đổi mới. Mô hình này được hình thành trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời kế thừa có chọn lọc những thành tựu phát triển của nhân loại, phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế và xã hội đặc thù của Việt Nam.
Qua các kỳ đại hội Đảng, đặc biệt từ Đại hội IX đến Đại hội XIII và quá trình tổng kết thực tiễn hướng tới Đại hội XIV, nội hàm của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được bổ sung, hoàn thiện và làm rõ hơn. Điều đó cho thấy đây là một quá trình phát triển lý luận độc lập, sáng tạo, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của Việt Nam chứ không phải sự sao chép máy móc từ bất kỳ mô hình nào.
Thực tiễn cũng khẳng định Việt Nam luôn kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế, vai trò tích cực trong cộng đồng ASEAN và mạng lưới quan hệ đối tác rộng khắp với các quốc gia, tổ chức trên thế giới là minh chứng rõ ràng cho năng lực hoạch định đường lối phát triển độc lập, tự chủ và vì lợi ích quốc gia – dân tộc. Những thực tế đó bác bỏ hoàn toàn luận điệu cho rằng Việt Nam lệ thuộc hoặc sao chép mô hình phát triển của bất kỳ quốc gia nào.
Họ cho rằng mô hình kinh tế gây bất bình đẳng, “bỏ rơi” nhóm yếu thế. Các thế lực thù địch thường lợi dụng tình trạng chênh lệch mức sống giữa các vùng, miền và sự phân hóa thu nhập trong quá trình phát triển kinh tế thị trường để quy kết rằng Việt Nam đang đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa, làm suy giảm công bằng xã hội. Từ đó, chúng tuyệt đối hóa những mặt trái của cơ chế thị trường, đồng thời phủ nhận vai trò điều tiết và định hướng phát triển của Nhà nước.
Những nhận định này cố tình bỏ qua thực tế rằng phân hóa thu nhập ở một mức độ nhất định là hiện tượng phổ biến trong quá trình phát triển của hầu hết các nền kinh tế. Vấn đề cốt lõi không phải là phủ nhận sự tồn tại của những khác biệt về điều kiện phát triển, mà là năng lực của Nhà nước trong việc điều tiết, thu hẹp khoảng cách và bảo đảm cơ hội phát triển cho mọi người dân.
Quan điểm nhất quán của Đảng là không đánh đổi tiến bộ và công bằng xã hội để lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trong suốt quá trình đổi mới, phát triển kinh tế luôn gắn với thực hiện các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế và cải thiện đời sống nhân dân. Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia đạt nhiều thành tựu nổi bật về giảm nghèo, mở rộng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và nâng cao chỉ số phát triển con người.
Để thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, Nhà nước chủ động sử dụng các công cụ thuế, ngân sách, tín dụng ưu đãi và các chính sách hỗ trợ xã hội nhằm trợ giúp các nhóm yếu thế, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những khu vực còn nhiều khó khăn. Đồng thời, các vấn đề về chênh lệch vùng miền, phát triển không đồng đều và bảo đảm cơ hội tiếp cận các nguồn lực phát triển đang tiếp tục được giải quyết thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia, chiến lược phát triển bền vững và chính sách phát triển vùng. Điều đó cho thấy mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau” không chỉ là định hướng chính trị mà còn được hiện thực hóa bằng những chính sách và kết quả cụ thể trong thực tiễn phát triển đất nước.
Luận điệu phủ nhận triển vọng, cho rằng mô hình kinh tế thị trường của Việt Nam “tất yếu sẽ thất bại”. Các thế lực thù địch thường dựa vào những khó khăn, thách thức trong quá trình phát triển để đưa ra những nhận định phiến diện, cho rằng Việt Nam sẽ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”, đối mặt với khủng hoảng kinh tế và không có khả năng hiện thực hóa mục tiêu phát triển dài hạn. Từ đó, chúng cổ súy việc từ bỏ mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để chuyển sang mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa theo phương Tây.
Thực tiễn gần 40 năm đổi mới đã bác bỏ những luận điệu mang tính suy diễn đó. Từ một quốc gia nghèo, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế có quy mô hàng đầu khu vực, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện và vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao. Quan trọng hơn, Đảng luôn nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng những hạn chế, điểm nghẽn và thách thức để kịp thời đề ra các chủ trương, giải pháp phù hợp. Chính khả năng tự đổi mới, tự hoàn thiện và liên tục phát triển về tư duy lý luận là cơ sở quan trọng khẳng định sức sống và triển vọng của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, Đại hội XIV tiếp tục đề ra những định hướng và đột phá chiến lược nhằm tạo động lực cho giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Trước hết, đột phá về thể chế phát triển và quản trị quốc gia được xác định là nhiệm vụ trọng tâm nhằm khơi thông mọi nguồn lực cho phát triển. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch và phục vụ nhân dân; đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số để nâng cao năng lực quản trị quốc gia và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là động lực chủ yếu của tăng trưởng trong kỷ nguyên mới. Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy ứng dụng các công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ số và công nghệ xanh sẽ tạo nền tảng để Việt Nam nâng cao năng suất lao động, gia tăng năng lực cạnh tranh và vượt qua nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình.
Đồng thời, Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu phát triển toàn diện văn hóa và con người Việt Nam, coi đây là nguồn lực nội sinh và nền tảng tinh thần của sự phát triển bền vững. Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, giàu lòng yêu nước, có tri thức, bản lĩnh, khát vọng cống hiến và tinh thần đổi mới sáng tạo vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân tiếp tục được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chính sách phát triển.
Với nền tảng thành tựu đã đạt được, cùng những định hướng chiến lược và đột phá phát triển được xác lập, Việt Nam có đầy đủ cơ sở để bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng vươn lên mạnh mẽ, hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là thành quả của quá trình đổi mới tư duy lý luận, tổng kết sâu sắc thực tiễn và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Thực tiễn gần 40 năm đổi mới với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã khẳng định tính đúng đắn, khoa học và sức sống của mô hình này; đồng thời trở thành minh chứng thuyết phục bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường phát triển mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã lựa chọn.
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, với những định hướng chiến lược và đột phá phát triển được xác lập tại Đại hội XIV, Việt Nam đang đứng trước thời cơ thuận lợi để tạo bước phát triển nhanh và bền vững, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng, trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Trong bối cảnh đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan nghiên cứu, đội ngũ lý luận hay giảng viên, mà là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm củng cố niềm tin, giữ vững định hướng phát triển, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa phồn vinh, văn minh và hạnh phúc.
TS, GVC. Nguyễn Văn Điển/Học viện Chính trị khu vực II.
Tài liệu tham khảo
1.Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương & Hội đồng Lý luận Trung ương. (2026). Tài liệu hỏi – đáp về nội dung cơ bản của Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
2.Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
3.Đảng Cộng sản Việt Nam. (2025). Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 40 năm đổi mới (1986-2025) (Dự thảo lấy ý kiến nhân dân).
4.Nguyễn Phú Trọng (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
5.Tạp chí Cộng sản. (2026). Bản tổng hợp chuyên đề đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
6.GS,TS Vũ Đình Bách (2010), Kinh tế thị trường ĐH XHCN ở Việt nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.


