(Đà Nẵng). Ngày 10/10/2026, Sở Khoa học và Công nghệ TP. Đà Nẵng (trực tiếp là Trung tâm Hỗ trợ khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo – DISSC) phối hợp với Đại học Duy Tân tổ chức hội thảo góp ý xây dựng Đề án truyền thông khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026–2030. Đây là lần đầu tiên thành phố lấy ý kiến rộng rãi về đề án truyền thông trong các lĩnh vực này, nhằm đáp ứng yêu cầu mới về truyền thông đa nền tảng, thường xuyên và có đánh giá hiệu quả, trong bối cảnh đề án giai đoạn 2022–2025 đã kết thúc và các quy định mới được ban hành.

Theo PGS.TS Nguyễn Gia Như, Phó Giám đốc Đại học Duy Tân, công tác truyền thông về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại Đà Nẵng nói riêng, cả nước nói chung đang đứng trước những yêu cầu mới từ hệ thống pháp luật và chính sách, đặc biệt là Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, trong đó nhấn mạnh vai trò đột phá của truyền thông trong đổi mới nhận thức và tư duy.
Cụ thể, Quyết định số 1169/QĐ-TTg ngày 16/6/2025 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình “Đẩy mạnh truyền thông thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW đến năm 2030” đã xác định truyền thông là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, tạo động lực phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bà Phạm Thị Ngọc Quyên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Đà Nẵng, nhấn mạnh: Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động sâu rộng đến đời sống kinh tế – xã hội, công tác truyền thông phải vượt ra ngoài việc phổ biến chủ trương, chính sách để thúc đẩy thay đổi nhận thức và hành vi; lan tỏa kết quả nghiên cứu, ứng dụng công nghệ, các mô hình đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đồng thời, truyền thông cần đóng vai trò kết nối nguồn lực, thu hút doanh nghiệp, chuyên gia, nhà đầu tư, góp phần phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của thành phố.

Bối cảnh mới – Cách tiếp cận và Yêu cầu sản phẩm truyền thông cũng cần được làm mới
Theo PGS.TS Nguyễn Gia Như, việc mở rộng không gian phát triển đặt ra yêu cầu Đà Nẵng phải xây dựng chiến lược truyền thông mới về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phù hợp với đặc thù của 94 xã, phường, đặc khu. Truyền thông không chỉ tập trung ở đô thị mà phải vươn tới từng thôn, tổ dân phố, vùng sâu, vùng xa và đồng bào dân tộc thiểu số.Thực tế, khả năng tiếp cận thông tin giữa đô thị, miền núi và đặc khu vẫn còn chênh lệch; sản phẩm truyền thông dành cho nhóm yếu thế còn hạn chế. Vì vậy, đề án mới hướng đến mục tiêu “Không để địa lý, tuổi tác, ngôn ngữ, thiết bị trở thành rào cản” trong tiếp cận thông tin và tri thức.
TS. Hoàng Thị Hường, Hiệu trưởng Trường Ngôn ngữ – Xã hội Nhân văn (Đại học Duy Tân), cùng cộng sự ThS. Bùi Kính Khôi nhấn mạnh yêu cầu phân nhóm công chúng, thiết kế nội dung và phương thức truyền thông phù hợp với từng địa bàn, đối tượng, từ đô thị, nông thôn, miền núi, vùng ven biển, đặc khu đến doanh nghiệp, startup, trường viện và khách quốc tế.
Một yêu cầu quan trọng khác là chuyển từ “truyền thông hoạt động, quảng bá đơn thuần” sang “xây dựng hạ tầng tạo hiểu biết, niềm tin và hành động”. Theo đó, phương thức tương tác với công chúng cần phát triển qua bốn cấp độ: Truyền đạt – Đối thoại – Tham gia – Đồng kiến tạo.
Đồng tình với định hướng này, PGS.TS Lê Đắc Nhường, Khoa Công nghệ thông tin, Trường Đại học Hải Phòng, đề xuất mô hình truyền thông trong đó cơ quan quản lý nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, cộng đồng tham gia sản xuất nội dung, lan tỏa thông tin và phản biện, góp phần xã hội hóa hoạt động phổ cập tri thức.
Ông cũng lưu ý, hiệu quả truyền thông phải được đánh giá qua ba yếu tố: Công chúng hiểu gì, tin vào điều gì và thay đổi hành vi ra sao? Mỗi nhóm đối tượng cần thông tin thiết thực, phù hợp nhu cầu. Chẳng hạn, với doanh nghiệp, truyền thông về công nghệ không chỉ giới thiệu giải pháp mà phải làm rõ khả năng ứng dụng, chi phí đầu tư và đầu mối hỗ trợ tiếp cận, triển khai.

Truyền thông đảm nhận vai trò là “Hạ tầng niềm tin”
Bà Phạm Thị Ngọc Quyên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Đà Nẵng, khẳng định việc xây dựng Đề án truyền thông khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026–2030 là yêu cầu cần thiết, xuất phát từ thực tiễn và định hướng phát triển của thành phố.
Theo bà Quyên, hoạt động truyền thông hiện vẫn thiếu đồng bộ giữa các lĩnh vực, cơ quan, đơn vị; nội dung phân tán, chưa có hệ thống thông điệp thống nhất. Việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu và cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin còn hạn chế; truyền thông hướng đến doanh nghiệp, nhà đầu tư và đối tác quốc tế chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu.
Đề án được kỳ vọng tạo nền tảng cho chiến lược truyền thông dài hạn, thống nhất thông điệp và cơ chế phối hợp, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới, hướng đến mô hình truyền thông chuyên nghiệp, đa nền tảng, có trọng tâm và phù hợp với từng nhóm công chúng.
Ở góc độ chuyên môn, TS. Hoàng Thị Hường, Hiệu trưởng Trường Ngôn ngữ – Xã hội Nhân văn (Đại học Duy Tân), nhấn mạnh: “Truyền thông công chính là hạ tầng niềm tin”. Theo bà, Đà Nẵng có thể tạo đột phá bằng việc kết nối khoa học, dữ liệu và cộng đồng, nhưng phải tuân thủ nguyên tắc “Thí điểm trước, mở rộng sau”. Mỗi mô hình cần được triển khai ở quy mô nhỏ, xác lập dữ liệu nền (baseline) từ năm 2026, kiểm chứng hiệu quả và tác động trước khi quyết định phân bổ ngân sách nhân rộng.
Đồng quan điểm, TS. Lê Văn Chung, Giám đốc Trung tâm CVS (Đại học Duy Tân), đề xuất quy trình triển khai từ thí điểm, đo lường kết quả, mở rộng có điều kiện đến công nhận và thể chế hóa. Để bảo đảm tính khách quan, thành phố có thể thuê đơn vị tư vấn độc lập thực hiện khảo sát định lượng, định tính trên mẫu đại diện, làm cơ sở đánh giá các mô hình truyền thông.
Các chuyên gia cũng đề xuất nguyên tắc “Một nguồn chính thức – nhiều hình thức thể hiện”, tạo điều kiện để cơ quan báo chí, truyền thông khai thác đa dạng góc nhìn, câu chuyện và nhân vật thay vì chỉ tường thuật sự kiện. Quan trọng hơn, thước đo hiệu quả cần chuyển từ số lượng tin, bài sang những thay đổi thực chất về nhận thức, niềm tin và hành vi của công chúng, được chứng minh bằng dữ liệu cụ thể.

Từ điểm nghẽn đến những cảnh báo cho đề án mới
Ở góc độ Chủ nhiệm đề án, PGS.TS Nguyễn Gia Như chỉ ra những điểm nghẽn trong công tác truyền thông khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại Đà Nẵng, nổi bật là thiếu đầu mối điều phối chung, nội dung truyền thông còn thiên về hoạt động, thành tích, chưa đi sâu giải thích lợi ích, rủi ro và hướng dẫn hành động cụ thể. Sự kết nối giữa giới khoa học và báo chí cũng chưa thường xuyên.
Đồng quan điểm, PGS.TS Lê Đắc Nhường, Khoa Công nghệ thông tin, Trường Đại học Hải Phòng, nhận định hệ thống thông tin, dữ liệu và các kênh truyền thông của thành phố còn phân mảnh, thiếu cơ chế điều phối thống nhất. Dù sở hữu mạng lưới truyền thông rộng, hiệu quả thực tế vẫn phụ thuộc vào khả năng liên kết, phối hợp giữa các chủ thể.
Từ thực trạng này, PGS.TS Nguyễn Gia Như nhấn mạnh mục tiêu bao trùm của đề án là kiến tạo hệ sinh thái truyền thông khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên một khung kiến trúc thống nhất, vận hành dựa trên dữ liệu, bảo đảm thông tin tin cậy, an toàn, dễ tiếp cận; phát triển truyền thông chuyên nghiệp, đa nền tảng, đa ngôn ngữ, phù hợp với từng địa bàn và nhóm công chúng.
Các chuyên gia Lê Đắc Nhường, Lê Văn Chung và Hoàng Thị Hường cũng kiến nghị đổi mới cách tiếp cận, chuyển từ truyền thông sự kiện, thành tích sang theo sát quá trình đổi mới sáng tạo, phản ánh cả kết quả, khó khăn, những thử nghiệm thất bại và chỉ tiêu chưa đạt. Việc minh bạch thông tin, kể cả những hạn chế, được xem là yếu tố quan trọng để củng cố niềm tin xã hội.
Theo đó, nguyên tắc “Một nguồn chính thức – nhiều hình thức thể hiện” cần được vận dụng linh hoạt, tạo điều kiện để báo chí khai thác đa dạng góc nhìn, nhân vật và câu chuyện thay vì chỉ tường thuật sự kiện. Thước đo hiệu quả truyền thông cũng phải chuyển từ số lượng tin, bài, lượt xem sang những thay đổi thực chất về nhận thức, niềm tin và hành vi của công chúng, có dữ liệu kiểm chứng.
Trong tham luận phân tích kinh nghiệm truyền thông khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong nước và quốc tế, TS. Hoàng Thị Hường và ThS. Bùi Kính Khôi cảnh báo tám rủi ro cần tránh: sao chép mô hình, nền tảng mang tính hình thức; đồng nhất lượt xem với hiệu quả tác động; chạy theo phong trào, sự kiện; tham vấn nhưng thiếu phản hồi; chỉ tập trung truyền thông số, bỏ quên nhóm yếu thế; lạm dụng AI mà không kiểm chứng thông tin; phụ thuộc vào một nhóm chuyên gia quen thuộc; và thiếu quản lý phiên bản dữ liệu.
Các tác giả đặc biệt lưu ý, những chỉ số như lượt xem, số tài khoản tiếp cận hay số sự kiện chỉ phản ánh quy mô truyền thông, không đồng nghĩa với mức độ hiểu biết, niềm tin hoặc thay đổi hành vi. Các mô hình truyền thông bao trùm, kết hợp phương thức trực tiếp với nội dung số, âm thanh, video ngắn cần được thử nghiệm, đánh giá và điều chỉnh theo thực tế, thay vì dừng ở định hướng.
Ở góc độ đánh giá hiệu quả, PGS.TS Lê Đắc Nhường đề nghị gắn truyền thông với toàn bộ quá trình xây dựng và thực thi chính sách. Ông lưu ý, các thành tựu phát triển hay kết quả thực hiện nhiệm vụ không mặc nhiên là bằng chứng về hiệu quả truyền thông, mà cần được phân biệt với những chỉ số phản ánh tác động trực tiếp đến công chúng.
Tiếp thu các ý kiến tại hội thảo, bà Phạm Thị Ngọc Quyên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Đà Nẵng, khẳng định cơ quan chủ trì sẽ tiếp tục hoàn thiện đề án theo hướng thiết thực, khả thi, có trọng tâm; xác định rõ trách nhiệm các bên và lựa chọn phương thức truyền thông phù hợp với từng nhóm đối tượng, đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố giai đoạn 2026–2030.
Trong bối cảnh mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh phát triển nhanh, vừa mở rộng khả năng sản xuất, phân phối nội dung, vừa làm gia tăng nguy cơ thông tin sai lệch, lừa đảo trực tuyến và tin giả, truyền thông khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số càng phải hướng đến mục tiêu xây dựng niềm tin, nâng cao năng lực kiểm chứng thông tin và giúp người dân sử dụng công nghệ an toàn.
Theo dự thảo, việc ban hành Đề án “Truyền thông khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn TP. Đà Nẵng giai đoạn 2026–2030” là cần thiết nhằm thống nhất định hướng, đầu mối điều phối và hệ thống thông điệp truyền thông; kết nối, sử dụng hiệu quả nguồn lực từ các chương trình, đề án hiện có, tránh chồng chéo, phân tán. Đề án đồng thời xác định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm phối hợp, lộ trình, kinh phí và các chỉ tiêu đánh giá, làm cơ sở triển khai, kiểm tra, giám sát; qua đó góp phần định vị Đà Nẵng là trung tâm khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của khu vực, thu hút nhân lực chất lượng cao, đầu tư và hợp tác trong nước, quốc tế./.
Trần Ngọc


