Chủ Nhật, Tháng 7 12, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

 Mây trắng đồi 82

Kỷ Niệm Ngày Thương binh – Liệt sĩ 27/7: Dân tộc Việt Nam mãi khắc ghi những người đã viết nên hòa bình bằng máu xương



ĐNA -

Em trai tôi, liệt sĩ Hồ Quang Lộc, mãi mãi tuổi 20. Sinh năm 1958, em hy sinh năm 1978 trong cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam chống quân diệt chủng Pôn Pốt. Theo phong tục quê tôi, giỗ được làm vào ngày sống nên mỗi đêm Trung Thu, gia đình vừa làm giỗ em, vừa đón trăng với cảm giác em vẫn trở về sum họp. Mãi 16 năm sau, bằng một linh cảm kỳ diệu, tôi đã tìm được mộ em trên đồi 82. Đó là câu chuyện anh trai liệt sĩ, nhà báo Hồ Quang Lợi, chia sẻ trong “Mây trắng đồi 82”.

Di ảnh Liệt sỹ Hồ Quảng Lộc (Ảnh gia đình cung cấp)

Trưa ấy trên ngọn đồi cháy nắng
Đã hơn ba mươi năm trôi qua, nhưng trưa tháng 4/1994 trên ngọn đồi cháy nắng sát biên giới Campuchia vẫn hiện lên trong tôi rõ ràng như mới hôm qua. Đó là ngày tôi lên đường tìm mộ em trai, liệt sĩ Hồ Quang Lộc, sinh năm 1958, hy sinh ngày 17/9/1978 trong cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam.

Vừa trở về Ban đại diện Báo Quân đội nhân dân tại TP Hồ Chí Minh sau chuyến công tác Trường Sa, tôi bày tỏ nguyện vọng đi tìm em. Các anh Phạm Đình Trọng và Trần Thế Tuyển lập tức động viên, tận tình giúp đỡ. Từ những thông tin ít ỏi của một người bạn đang công tác tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tây Ninh, sáng hôm sau, tôi cùng anh Đặng Thọ Truật lên chiếc xe U-oát hướng về Tây Ninh. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh đã cử một thiếu úy trẻ dẫn đường.

Gần trưa, chúng tôi có mặt ở Đồi 82, nơi được cho là có phần mộ của em tôi. Trước mắt chỉ là một vùng cỏ tranh mọc ngút đầu người, hoang vắng và lặng ngắt. Tôi lặng lẽ dò từng bước giữa đám cỏ, nhiều lần bất ngờ sụt xuống những hố bom cũ đã phủ kín cỏ dại. Giữa cái nắng như thiêu như đốt, tôi tự hỏi: Đây là nghĩa trang liệt sĩ ư? Vì sao không một nấm mộ? Hay các anh đã được quy tập về nơi khác?

Không một lời giải đáp. Chỉ có gió nóng thổi qua triền đồi và sự im lặng đến quặn lòng. Đành quay ra, chúng tôi đi mãi mới gặp một người dân. Ông chỉ về phía xa: “Khoảng năm cây số nữa có một nghĩa trang liệt sĩ lớn.”

Hy vọng lại nhen lên. Người quản trang đón chúng tôi trong một ngôi nhà nhỏ đơn sơ cạnh nghĩa trang. Anh là một thương binh từng trực tiếp chiến đấu trên mảnh đất này. Vết thương khiến anh phải lê từng bước chân. Sau tấm màn buông, người vợ vừa sinh con mấy ngày trước đang nằm nghỉ, đứa trẻ đỏ hỏn ngủ ngoan trong vòng tay mẹ.

Anh lặng lẽ mở tủ, bê ra từng cuốn sổ dày ghi danh sách các liệt sĩ an táng tại nghĩa trang. Chúng tôi lần giở từng trang, rồi lại từng trang. Mỗi cái tên hiện ra đều khiến tim tôi thắt lại, nhưng cái tên tôi tìm kiếm vẫn biệt tăm. Hết cuốn này đến cuốn khác, vẫn không có Hồ Quang Lộc.

Hy vọng vừa nhen lên lại lặng lẽ vụt tắt. Thất vọng. Lộc ơi! Đã 16 năm kể từ ngày em ngã xuống, vậy mà anh và cả gia đình vẫn chưa biết em nằm ở nơi đâu…

Đúng lúc định lặng lẽ ra về, tôi chợt nhìn thấy một cuốn sổ đặt riêng ở góc bàn. Tôi cầm lên. Anh Đặng Thọ Truật nói ngay:

– Quyển này mình xem kỹ hai lần rồi.

Tôi khựng lại. Không hiểu vì sao, một linh cảm thôi thúc khiến tôi mở cuốn sổ thêm một lần nữa. Vừa lật vài trang, mắt tôi bỗng nhòe đi. Hồ Quang Lộc. Em tôi đây rồi! Như có luồng điện chạy khắp cơ thể, tôi chết lặng nhìn chằm chằm vào dòng chữ ấy, sợ chỉ cần chớp mắt, cái tên sẽ tan biến. Anh Đặng Thọ Truật cũng sững người:

– Thật kỳ lạ!

Chúng tôi lập tức lên xe trở lại nghĩa trang. Giữa trưa, nắng đổ lửa. Hơi đất bỏng rát bốc lên ngùn ngụt. Em nằm ở khu E3, cạnh những đồng đội của Trung đoàn 977, Sư đoàn 31, Binh đoàn Tây Nguyên. Tất cả đều là những chàng trai vừa bước qua tuổi mười tám, đôi mươi, đã gửi lại tuổi xuân trên mảnh đất biên cương. Đứng giữa hơn mười nghìn ngôi mộ trắng, tôi ngước nhìn bầu trời. Những hàng bia mộ nối tiếp nhau dưới nắng như tỏa thành một vầng sáng trắng lóa, lặng lẽ bay lên nền trời xanh.

Nghĩa trang liệt sỹ đồi 82 mới được nâng cấp

Tôi chỉ hơn Lộc hai tuổi.
Bố mất đột ngột khi các em còn thơ dại. Mẹ một mình gánh vác cả gia đình với sáu đứa con nhỏ, em út mới ba tháng tuổi, cùng bà ngoại gần 80 tuổi và bà cô ruột gần 90 tuổi. Gia đình tôi như một chiếc thuyền nan mong manh giữa dòng nước xiết, năm nào cũng thiếu ăn sáu, bảy tháng. Tuổi thơ của anh em tôi lớn lên trong đói rét. Ước mơ giản dị nhất nhiều khi chỉ là có một bữa cơm no.

Ngày tôi nhận giấy báo vào học lớp Chuyên Văn tỉnh Nghệ An (nay là Trường THPT chuyên Phan Bội Châu), Lộc từ ngoài ngõ chạy về, tay cầm tờ giấy, vừa cười vừa kêu:

– Chết tau rồi, Lợi ơi! Em biết từ ngày anh đi học nội trú, mọi việc đồng áng nặng nhọc sẽ dồn lên vai mình.

Và đúng là như thế. Khi tôi sang Rumani học đại học, Lộc ở nhà đi dân công Vực Mấu, tham gia xây dựng hồ Kẻ Gỗ rồi nhập ngũ. Cậu em trai quen gánh vác từ thuở thiếu thời ấy cuối cùng đã gửi lại tuổi hai mươi nơi biên giới Tây Nam.

Tháng 7/1979, tôi kết thúc thời gian học ở Rumani trở về nước. Ra Hà Nội đón tôi có mẹ tôi Hồ Thị Niềm và anh cả Hồ Quang Thắng. Anh Thắng từng là người lính chiến đấu trên chiến trường Lào và những năm tháng “ăn cơm Bắc, đánh giặc Nam” bên kia sông Bến Hải.

Ba mẹ con lên chuyến tàu về quê trong một ngày mưa như trút. Vừa bước vào nhà, điều đầu tiên tôi nhìn thấy là bức ảnh của Lộc treo trên tường, ngay dưới di ảnh của bố.

Tôi vô tư cất tiếng:

– Lộc có bức ảnh đẹp quá! Tiếng nói vừa dứt, phía sau tôi, mẹ òa khóc. Anh Thắng khẽ đặt tay lên vai tôi, nghẹn giọng:

– Lộc hy sinh rồi, em ơi. Nó mất năm ngoái ở biên giới Tây Nam. Sợ em đang ở nước ngoài không yên lòng nên cả nhà giấu, không báo… Tôi chết lặng. Đất dưới chân như sụp xuống.

Thằng em trai đã cùng tôi lớn lên trong những tháng năm đói nghèo, lội khắp đồng cạn đồng sâu, chia nhau từng củ khoai, củ sắn, những đêm đông rét mướt co ro ôm nhau ngủ trên chiếc rương đựng lúa… giờ đang nằm ở một cánh rừng nào nơi biên giới? Lộc ơi! Đến lúc ấy, tôi mới thấy mình còn mắc nợ em quá nhiều.

Ngày ở nhà, tôi đâu biết thương em đủ. Có những việc nặng nhọc, tôi để em gánh thay. Có những bữa ăn, tôi chưa từng nghĩ phải nhường phần cho em. Cả cuộc đời ngắn ngủi của em dường như chưa có lấy một ngày thật sự thảnh thơi, sung sướng.

Sự ra đi của Lộc đã lấy đi sinh khí của mẹ. Mẹ gầy rộc, chỉ còn da bọc xương, như tàu lá héo sau bão. Những ngày đầu tôi mới về, đêm nào mẹ cũng mê sảng gọi tên em:

– Lộc ơi! Con đâu rồi?

Nghe tiếng mẹ, tôi giật mình chạy sang.

– Mẹ! Mẹ!

Mẹ ôm chầm lấy tôi, khóc nghẹn:

– Ôi, con tôi đây rồi! Lộc ơi! Con có chết đâu! Trong phút chốc, mẹ ngỡ người con trai đã hy sinh trở về.

Tôi nghẹn ngào nói:

– Con là Lợi đây, mẹ ơi… Không phải Lộc… Nhưng mẹ dường như không còn nghe thấy nữa. Mẹ chỉ ôm chặt lấy tôi, vừa khóc vừa gọi:

– Ôi, con tôi… Con tôi…

Đồng đội Sư đoàn 5 thắp hương phần mộ các anh hùng liệt sĩ.Đồi 82 (Ảnh; Intent)

Điều cảm nhận từ cõi linh thiêng
Ngay sau khi tìm được mộ Lộc, các anh ở Ban đại diện Báo Quân đội nhân dân phía Nam ngỏ ý giúp tôi đưa hài cốt em về quê. Về nhà thưa chuyện, mẹ chỉ lặng im. Mãi sau, mẹ mới khẽ nói:

– Em nó chịu phận đời ngắn ngủi. Nay đã nằm yên rồi thì đừng động đến nữa. Đau lòng mẹ lắm. Khi nào mẹ mất, các con muốn đưa em về cũng được. Tôi nghe lời mẹ. Nhưng trong lòng luôn có cảm giác, dường như mẹ biết một điều gì đó mà không nói.

Nhiều năm sau, một đồng đội cũ của Lộc tên Bắc tìm đến gặp tôi. Anh ngập ngừng rất lâu mới kể:

– Trận ấy ác liệt lắm. Mưa như trút. Lộc chiến đấu rất dũng cảm. Đúng lúc xung phong lên chiếm vị trí để yểm trợ đồng đội thì một quả cối rơi trúng. Lộc hứng gần như trọn quả đạn… Thi thể không còn nguyên vẹn… Tôi lặng người. Chưa một ai trong gia đình từng biết điều đó. Và càng không ai nói với mẹ. Nhưng khi ráp nối mọi mảnh ghép của câu chuyện, tôi bỗng hiểu vì sao năm ấy mẹ nhất quyết không cho đưa hài cốt em về quê. Phải chăng, bằng trực giác của một người mẹ, bằng một sợi dây vô hình vượt qua mọi khoảng cách giữa sự sống và cái chết, mẹ đã linh cảm được điều không ai nói thành lời?

Ngày 13/3/2006, mẹ trút hơi thở cuối cùng trong chính ngôi nhà nơi sáu anh em chúng tôi cất tiếng khóc chào đời, nơi cha tôi cũng từ biệt cuộc đời sau một cơn bạo bệnh ngắn ngủi. Sinh thời, mẹ là người phụ nữ giàu nghị lực, lạc quan và rất yêu thơ. Dẫu cuộc đời chất chồng mất mát, mẹ vẫn thường làm thơ để tự an ủi mình.

Ít lâu trước khi mẹ mất, tôi viết bài thơ Hơi ấm đời con. Một người bạn đọc xong đã cho đăng như một lời cầu chúc mẹ vượt qua bệnh tật và còn cẩn thận phóng lớn, đóng khung gửi tặng. Nằm trên giường bệnh, mẹ lặng lẽ nhìn món quà rồi nước mắt chảy dài.

Điều kỳ lạ là ngay sau đó, mẹ chống tay ngồi dậy và đọc liền một mạch bài thơ mẹ sáng tác từ hơn hai mươi năm trước, kể về cuộc đời nhiều gian truân của mình. Đến đoạn nhắc về Lộc, giọng mẹ chùng xuống:

“Cuộc đời thấm thoắt thoi đưa
Tuổi xuân mới đó nay vừa sáu mươi
Mình cùng lứa tuổi với người
Riêng mình, mình lại ngậm ngùi thương con
Hy sinh vì nước vì non
Thương con, luống những héo hon nhớ chồng…”

Cả phòng bệnh lặng đi. Bác sĩ Phú, Trưởng khoa Cấp cứu, xúc động nói:

– Thơ ca thật kỳ diệu. Có những sức mạnh tinh thần còn hơn cả thuốc men.

Đến hôm nay, mỗi khi nhớ lại những lời mẹ nói năm nào, tôi vẫn tin rằng trên đời này có những điều không thể lý giải bằng lý trí. Đó là linh cảm của một người mẹ. Đó cũng là sợi dây thiêng liêng nối những người còn sống với những người đã hóa thành mây trắng trên Đồi 82.

Những bông hoa trên phần mộ liệt sỹ (Ảnh Intenet)

Hoa hồng trên mộ.
Tháng 6/2007, tôi cùng con gái nhỏ Hồ Thủy Tiên, phóng viên Đoàn Hoài Trung, nhiếp ảnh gia Đình Minh và nữ phóng viên Vân Anh của Báo Tây Ninh trở lại Nghĩa trang liệt sĩ Đồi 82 để thắp hương cho Lộc. Nghĩa trang nay đã được tôn tạo khang trang hơn nhiều. Chỉ có điều, cây hoa đại từng xanh tốt bên mộ em năm nào giờ đã khô héo, chỉ còn trơ gốc.

Trong lúc chúng tôi thắp hương, người quản trang, cũng là một cựu chiến binh đi ngang qua, dừng lại hỏi chuyện. Nghe tôi tiếc nuối vì cây hoa đại đã chết, anh nhiệt tình nhận lời sẽ trồng một cây đại mới để tỏa bóng mát cho phần mộ của Lộc và những đồng đội nằm bên cạnh. Người thanh niên đi cùng anh, tên Hiệp, chân thành nói với tôi:

– Ngày nào tôi cũng tập thể dục qua đây. Nếu anh đồng ý, tôi xin được thay anh thắp hương cho anh Lộc vào mỗi buổi sáng.

Một điều khiến tôi càng xúc động hơn là khi nhập ngũ, Lộc còn chưa kịp có một mối tình. Vậy mà hôm ấy, nữ phóng viên Vân Anh đã lặng lẽ mua một bó hồng đỏ thắm đặt lên mộ em. Khi Vân Anh chắp tay khấn nguyện: “Em sẽ thường xuyên lên thăm anh.”, giữa cái nắng như đổ lửa, bầu trời bỗng dịu lại. Những đám mây trắng chầm chậm vờn qua, như mang hồn em tôi trở về chứng giám.

Lộc ơi! Đồng đội không quên em. Gia đình mãi nhớ em. Và giờ đây, còn có biết bao tấm lòng từ Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh… cùng hướng về em.

Khoảng một tuần trước kỷ niệm 60 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/2007), từ Hà Nội, tôi nhận được cuộc điện thoại của Vân Anh. Giọng em nghẹn ngào:

– Anh ơi! Lúc này em và một người bạn đang đứng trước mộ anh Lộc. Hôm nay em lên thắp hương trước vì đúng ngày 27/7 em phải đi công tác, sợ không kịp trở lại. À, người ta đã trồng lại cây đại bên mộ anh Lộc rồi anh ạ…

Trước mắt tôi hiện ra ngôi mộ của Lộc. Dưới ngôi sao vàng là bó hồng đỏ thắm. Bên cạnh, cây đại non đã bén rễ, chuẩn bị tỏa bóng mát lên phần mộ em và những đồng đội mãi mãi nằm lại nơi đây. Trong nắng sớm, bóng cô gái trẻ nghiêng mình trước mộ. Em tôi vẫn nằm dưới bầu trời biên cương, nơi những đám mây trắng lững lờ trôi như chưa bao giờ ngừng chở theo ký ức của một thế hệ.

Tôi chợt hiểu, có những cuộc đời tuy ngắn ngủi nhưng không bao giờ khép lại. Người lính có thể ngã xuống ở tuổi hai mươi, nhưng tình đồng đội, tình gia đình và lòng biết ơn của những người đi sau sẽ tiếp tục viết nốt phần đời còn lại của họ. Mỗi nén hương, mỗi cành hoa, mỗi bước chân tìm về nghĩa trang đều là lời nhắc nhở rằng sự hy sinh ấy chưa bao giờ bị lãng quên.

Mây trắng vẫn cuộn về từ cõi xa xanh. Có lẽ ở nơi nào đó trên tầng mây ấy, Lộc và những đồng đội của em vẫn mỉm cười thanh thản. Còn những người ở lại, chúng tôi sẽ tiếp tục kể câu chuyện về các anh cho thế hệ mai sau, để mỗi mùa hoa đại nở, mỗi mùa Trung Thu về, ký ức về những người lính đã hiến dâng tuổi xuân cho Tổ quốc vẫn mãi sáng trong như bầu trời trên Đồi 82.

Nhà báo Hồ Quang Lợi