Cách mạng Tháng Tám thành công không chỉ mở ra bước ngoặt lịch sử của dân tộc mà còn đưa Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Trong bối cảnh mới, yêu cầu nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng đặt ra nhiều vấn đề cần được luận giải sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Với đường lối đúng đắn, ý Đảng hòa quyện cùng lòng dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta sẽ tiếp tục tạo nên những thành tựu mới, vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

Chính quyền luôn là vấn đề trung tâm của mọi cuộc cách mạng và quyền cầm quyền là nhân tố quyết định vị thế, vai trò của các tổ chức chính trị trong xã hội có giai cấp sau khi giành được chính quyền và thiết lập chế độ mới. Thực tiễn lịch sử nhân loại cho thấy, từ khi xã hội phân chia giai cấp đến nay, việc xây dựng và phát huy hiệu lực của bộ máy nhà nước nhằm bảo đảm vững chắc vai trò lãnh đạo, quản lý xã hội là quy luật khách quan của mọi chính thể cầm quyền. Vì vậy, nâng cao năng lực cầm quyền không chỉ là yêu cầu thường xuyên mà còn là điều kiện cốt lõi bảo đảm sự ổn định, phát triển của mỗi quốc gia.
Đối với cách mạng Việt Nam, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà còn đánh dấu bước ngoặt lịch sử khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền. Từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn nhất quán quan điểm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, thực sự là lực lượng lãnh đạo “đạo đức, văn minh”, đủ bản lĩnh, trí tuệ và uy tín để đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng. Trong đó, nâng cao năng lực cầm quyền được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, gắn liền với việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; bảo đảm sự lãnh đạo hiệu quả đối với Nhà nước và xã hội; củng cố niềm tin của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp, cùng với những khó khăn, thách thức nảy sinh trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị và phần tử bất mãn gia tăng các hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước ta bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, thâm độc. Một trong những trọng tâm mà chúng hướng tới là xuyên tạc vai trò cầm quyền, phủ nhận năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời cổ súy cho quan điểm “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, nhằm từng bước làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ.
Các luận điệu như cho rằng Đảng “độc đoán, chuyên quyền”, “tự nhận quyền lãnh đạo”, hay phủ nhận những thành tựu mà đất nước đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng, đều là những sự xuyên tạc thiếu cơ sở cả về lý luận lẫn thực tiễn. Thậm chí, chúng còn đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với mưu đồ phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Đây thực chất là âm mưu nhằm làm suy yếu nền tảng chính trị, tạo ra sự rối loạn về tư tưởng và tiến tới chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.
Tuy nhiên, thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã khẳng định rõ: vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải tự nhiên có, càng không phải do áp đặt, mà được hình thành, tôi luyện và khẳng định bằng chính quá trình đấu tranh cách mạng kiên cường, bằng sự hy sinh to lớn của biết bao thế hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà đất nước đạt được qua gần 40 năm đổi mới là minh chứng sinh động cho năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và bản lĩnh chính trị của Đảng. Dù các thế lực chống phá cố tình xuyên tạc, “thay trắng đổi đen”, thì sự thật lịch sử vẫn không thể phủ nhận: trong mọi xã hội có giai cấp, đảng cầm quyền luôn giữ vai trò trung tâm trong tổ chức và vận hành quyền lực chính trị; ở Việt Nam, vai trò đó đã và đang được thực tiễn cách mạng và niềm tin của nhân dân khẳng định vững chắc.
Cốt lõi của năng lực cầm quyền của Đảng là năng lực lãnh đạo Nhà nước và xã hội theo quy định của Hiến pháp năm 2013, được thực hiện thông qua hệ thống tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn hệ thống chính trị, nhằm định hướng và tổ chức sự phát triển đất nước theo con đường cách mạng mà dân tộc Việt Nam đã lựa chọn ngay từ khi Đảng ra đời năm 1930. Đây không chỉ là cơ sở chính trị – pháp lý khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, mà còn là kết quả của cả một quá trình đấu tranh cách mạng gian khổ, bền bỉ và đầy hy sinh của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, chỉ sau 15 năm thành lập, Đảng đã lãnh đạo toàn dân tiến hành thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới của độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ đây, Đảng chính thức trở thành Đảng cầm quyền, giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cũng như trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã khẳng định tính đúng đắn của con đường cách mạng mà Đảng và Nhân dân ta lựa chọn; đồng thời khẳng định vai trò lãnh đạo mang tính quyết định của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Lịch sử cũng cho thấy, trước khi Đảng ra đời, phong trào yêu nước và đấu tranh giải phóng dân tộc tuy diễn ra sôi nổi với nhiều khuynh hướng khác nhau, song đều lâm vào bế tắc về đường lối và thất bại do thiếu một lực lượng lãnh đạo đủ bản lĩnh, tầm nhìn và tổ chức. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vì thế không chỉ là sản phẩm của yêu cầu khách quan của lịch sử, mà còn là bước ngoặt tất yếu của dân tộc Việt Nam trong hành trình tìm đường cứu nước. Chính thực tiễn cách mạng đã lựa chọn, kiểm nghiệm và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng bằng những thắng lợi nối tiếp nhau, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Với bản chất của một đảng cách mạng chân chính, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc sứ mệnh, trách nhiệm trước dân tộc và nhân dân; đồng thời đặc biệt coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đây là yêu cầu có ý nghĩa sống còn nhằm bảo đảm Đảng đủ năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu, xứng đáng với niềm tin của nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam.
V.I. Lênin là người đầu tiên đề cập khái niệm “Đảng cầm quyền” khi khẳng định: “Đảng ta là một đảng cầm quyền và những quyết định do đại hội của đảng thông qua là những điều mà toàn nước Cộng hòa phải tuân theo”. Quan điểm đó không chỉ phản ánh vai trò lãnh đạo của chính đảng cách mạng sau khi giành được chính quyền, mà còn đặt ra yêu cầu đặc biệt đối với năng lực lãnh đạo, bản lĩnh chính trị và trách nhiệm trước nhân dân của đảng cầm quyền. Vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xem đây là điều kiện tiên quyết để giữ vững vai trò lãnh đạo và xứng đáng với niềm tin của nhân dân. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.
Quan điểm về Đảng cầm quyền tiếp tục được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011): “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền”. Vai trò lãnh đạo của Đảng không phải là sự tự nhận hay áp đặt, mà được hình thành từ yêu cầu khách quan của lịch sử dân tộc, được nhân dân lựa chọn, tin tưởng và hiến định trong Hiến pháp. Đó là sự thống nhất giữa “ý Đảng” và “lòng dân”, được kiểm nghiệm qua các giai đoạn đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hy sinh cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính thực tiễn lịch sử đã khẳng định rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đã giành được độc lập, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực.
Hơn 95 năm đồng hành cùng dân tộc, dù phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách cùng sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, Đảng ta vẫn giữ vững vai trò lãnh đạo, thể hiện bản lĩnh của một đảng cầm quyền cách mạng chân chính, luôn đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân lên trên hết. Những thành tựu đạt được trong thực tiễn cách mạng chính là minh chứng sinh động cho năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và uy tín chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ thực tiễn đó, nhân dân tiếp tục trao gửi niềm tin và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng cho Đảng.
Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, vấn đề Đảng cầm quyền tiếp tục đặt ra nhiều yêu cầu cả về lý luận và thực tiễn cần được nghiên cứu, bổ sung và phát triển. Đảng ta cũng đã thẳng thắn chỉ rõ: “Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Những hạn chế này phần nào tạo kẽ hở để các thế lực chống đối lợi dụng xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận vai trò lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng. Vì vậy, tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện lý luận về Đảng cầm quyền; đồng thời không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng là yêu cầu khách quan, cấp thiết, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển bền vững của đất nước và sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.
Mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn mang tính lịch sử của dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là điểm hội tụ giữa “ý Đảng” và “lòng dân”. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, lợi ích của nhân dân luôn gắn bó chặt chẽ với mục tiêu, lý tưởng mà Đảng theo đuổi; khát vọng về một đất nước độc lập, giàu mạnh, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cũng chính là động lực và mục tiêu hành động của Đảng. Vì vậy, bản chất quyền lực mà Đảng nắm giữ là quyền lực do nhân dân trao gửi, nhằm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân và bảo đảm lợi ích cao nhất của quốc gia, dân tộc.
Đây cũng là điểm khác biệt căn bản giữa bản chất cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam với mô hình cầm quyền của các đảng phái trong xã hội tư bản, nơi quyền lực chính trị về thực chất chủ yếu phục vụ lợi ích của một bộ phận giai cấp cầm quyền. Đối với Đảng ta, quyền lực không phải đặc quyền để thống trị, mà là trách nhiệm chính trị trước nhân dân và dân tộc. Đảng cầm quyền nhưng đồng thời phải gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về mọi chủ trương, quyết sách của mình.
Nhận thức sâu sắc điều đó, Đảng luôn yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần bản chất cách mạng và nhân dân của Đảng cầm quyền; không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao năng lực, giữ vững bản lĩnh chính trị và ý thức trách nhiệm phục vụ nhân dân. Mọi quyền lực mà cán bộ, đảng viên được giao đều phải được sử dụng đúng mục đích, vì lợi ích của nhân dân và dưới sự kiểm tra, giám sát của nhân dân. Đồng thời, Đảng phải thường xuyên củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và năng lực cầm quyền để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới.
Từ bản chất đó có thể khẳng định, mọi âm mưu, thủ đoạn nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ vị thế cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam thực chất không chỉ nhằm chống phá Đảng, mà sâu xa hơn là hướng tới phủ nhận vai trò làm chủ của nhân dân, làm suy yếu nền tảng chính trị của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Thực tiễn những năm qua cho thấy, vấn đề Đảng cầm quyền và phương thức cầm quyền của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế, bất cập. Nổi lên là việc giải quyết mối quan hệ giữa quyền lãnh đạo của Đảng với quyền lực quản lý của Nhà nước ở một số nơi chưa thật sự rõ ràng, đồng bộ và hiệu quả. Có lúc, có nơi còn biểu hiện Đảng làm thay chức năng của chính quyền; ngược lại, cũng có tình trạng buông lỏng lãnh đạo hoặc chưa phát huy đầy đủ vai trò định hướng, kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của Nhà nước. Cùng với đó, cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và trong bộ máy nhà nước tuy từng bước được hoàn thiện nhưng vẫn còn thiếu đồng bộ, hiệu lực và hiệu quả chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Ở một số cấp, một số lĩnh vực vẫn tồn tại tình trạng lúng túng trong phân định chức năng, nhiệm vụ giữa tổ chức đảng và chính quyền; thậm chí có nơi chính quyền có biểu hiện lấn át vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng.
Những hạn chế đó cho thấy nhận thức về Đảng cầm quyền và phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới vẫn cần tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện cả về lý luận lẫn thực tiễn. Đồng thời, đây cũng là yêu cầu khách quan đòi hỏi Đảng phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, bảo đảm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phát huy hiệu lực quản lý của Nhà nước đi đôi với giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng.
Xuất phát từ yêu cầu đó, Đại hội XIV của Đảng xác định: “Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nâng cao vai trò lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng” là nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Chủ trương này thể hiện nhận thức ngày càng sâu sắc của Đảng về mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa xây dựng Đảng với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; giữa năng lực lãnh đạo với năng lực cầm quyền; giữa vai trò của Đảng với hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Theo đó, Đảng không chỉ nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, mà còn xác định nhiệm vụ trọng tâm là đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng đối với quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận và thực tiễn cầm quyền của Đảng, nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, củng cố niềm tin của nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
Đảng cầm quyền không phải là sự “tham quyền cố vị” như những luận điệu xuyên tạc của các thế lực chống phá, mà là yêu cầu khách quan của tiến trình cách mạng khi một chính đảng giành được chính quyền và tổ chức lãnh đạo xã hội theo mục tiêu chính trị đã lựa chọn. Trong điều kiện ở Việt Nam, lãnh đạo và cầm quyền là hai phương diện gắn bó chặt chẽ trong hoạt động của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, song không đồng nhất với nhau. Lãnh đạo là quá trình định hướng, dẫn dắt, hoạch định đường lối, chủ trương và mục tiêu phát triển; còn cầm quyền là việc nắm giữ và thực thi quyền lực nhà nước thông qua hệ thống chính trị nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính trị của Đảng trong thực tiễn.
Sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện thông qua vai trò của các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị; trong khi đó, hoạt động cầm quyền được triển khai chủ yếu thông qua Nhà nước – công cụ trọng yếu để tổ chức quản lý xã hội, ban hành và thực thi pháp luật. Vì vậy, phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau nhưng có nội hàm và cơ chế vận hành riêng. Phương thức cầm quyền của Đảng là tổng thể các nguyên tắc, cơ chế, phương pháp và hình thức thực hiện quyền lực chính trị trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; được thể hiện trong quá trình xây dựng thể chế, tổ chức bộ máy nhà nước, hoạch định chính sách, quản lý cán bộ và kiểm soát quyền lực.
Nội dung cốt lõi của Đảng cầm quyền là lãnh đạo việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật và chính sách của Nhà nước, đồng thời hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Do đó, đề cao pháp luật, tôn trọng pháp luật và gương mẫu chấp hành pháp luật vừa là nguyên tắc, vừa là yêu cầu tất yếu trong hoạt động cầm quyền của Đảng. Đảng cầm quyền không đứng trên pháp luật mà lãnh đạo bằng cương lĩnh, đường lối, bằng thuyết phục, nêu gương và thông qua hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Hoạt động cầm quyền của Đảng phải bảo đảm tính khoa học, dân chủ, đúng pháp luật và phù hợp với quy luật phát triển khách quan của xã hội.
Bản chất cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là cầm quyền vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân và sự phát triển phồn vinh của đất nước làm mục tiêu cao nhất. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng đều phải xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân, phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Chính vì vậy, cầm quyền theo pháp luật, phát huy dân chủ, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân và thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn là những nguyên tắc cơ bản bảo đảm cho Đảng giữ vững vai trò lãnh đạo và vị thế cầm quyền.
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Với vai trò là đảng duy nhất cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vị trí hạt nhân lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị. Đảng thực hiện vai trò cầm quyền thông qua việc lãnh đạo thể chế hóa đường lối, chủ trương thành Hiến pháp, pháp luật; thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ trọng trách trong bộ máy nhà nước; đồng thời thông qua uy tín chính trị, năng lực lãnh đạo và hiệu quả thực tiễn để củng cố niềm tin, sự đồng thuận và ủng hộ của nhân dân. Đây chính là cơ sở bảo đảm cho vai trò cầm quyền của Đảng được thực hiện một cách chính danh, hiệu quả và bền vững trong điều kiện phát triển mới của đất nước.
Mô hình cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam có sự khác biệt căn bản với mô hình cầm quyền trong các nhà nước tư bản chủ nghĩa. Ở các nước tư bản, quyền lực nhà nước thường được tổ chức theo nguyên tắc tam quyền phân lập; các đảng chính trị cạnh tranh thông qua bầu cử để giành quyền cầm quyền và đảng thắng cử sẽ nắm giữ, chi phối hoạt động của bộ máy nhà nước trong một nhiệm kỳ nhất định. Vai trò cầm quyền của các chính đảng chủ yếu được thực hiện thông qua các đại diện chính trị nắm giữ các vị trí chủ chốt trong cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, đặc biệt là người đứng đầu cơ quan hành pháp. Trong quá trình đó, các đảng cầm quyền luôn phải cạnh tranh, đối trọng với các đảng đối lập và tìm cách duy trì vị thế cầm quyền thông qua chính sách, chiến lược vận động xã hội và bảo vệ lợi ích của giai cấp mà họ đại diện.
Trong khi đó, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền trên nền tảng lợi ích thống nhất giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Đảng không chỉ giữ vai trò lãnh đạo chính trị đơn thuần mà còn trực tiếp gánh vác trách nhiệm trước nhân dân và dân tộc về sự phát triển của đất nước, về mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng không chỉ đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân mà còn là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Đây chính là cơ sở chính trị – xã hội tạo nên tính chính danh và vai trò lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị Việt Nam.
Trong điều kiện cầm quyền, Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo chủ yếu thông qua Nhà nước và bằng Nhà nước; thông qua việc hoạch định đường lối, chủ trương, lãnh đạo thể chế hóa thành chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện trong thực tiễn. Vì vậy, năng lực cầm quyền của Đảng không chỉ thể hiện ở khả năng hoạch định chiến lược phát triển đúng đắn mà còn ở hiệu quả tổ chức thực hiện, khả năng kiểm soát quyền lực, phòng chống suy thoái, tham nhũng, tiêu cực và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ.
Từ yêu cầu đó, Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ “nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng”, thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lý luận và nhận thức thực tiễn về Đảng cầm quyền. Đây không chỉ là sự khẳng định vai trò cầm quyền của Đảng như các kỳ đại hội trước, mà còn làm sâu sắc hơn nội hàm của khái niệm năng lực cầm quyền trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Theo đó, Đảng không chỉ cần đủ năng lực lãnh đạo để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, mà còn phải không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền; nâng cao năng lực quản trị quốc gia; kiểm soát chặt chẽ quyền lực; phòng ngừa và khắc phục những biểu hiện tha hóa quyền lực, quan liêu, xa dân. Đồng thời, Đảng phải kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và chỉnh đốn Đảng, giữa xây dựng Đảng với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững bản chất cách mạng và khoa học của một đảng cầm quyền chân chính.
Việc nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực cầm quyền cho thấy Đảng ngày càng nhận thức sâu sắc hơn vai trò quyết định của năng lực cầm quyền đối với uy tín chính trị, hiệu quả lãnh đạo và sự thành công của sự nghiệp đổi mới đất nước. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan của tiến trình phát triển, mà còn là điều kiện bảo đảm để Đảng tiếp tục giữ vững vai trò lãnh đạo, củng cố niềm tin của nhân dân và đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.
Chủ trương nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về Đảng cầm quyền một cách toàn diện và sâu sắc hơn. Trong đó, cần làm rõ hơn các vấn đề cốt lõi như mục đích cầm quyền, nội dung cầm quyền, phương thức cầm quyền, điều kiện bảo đảm cầm quyền; đồng thời nghiên cứu đầy đủ cơ chế phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền và nhận diện chính xác những nguy cơ có thể tác động, ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo và vị thế cầm quyền của Đảng. Đây là những vấn đề có ý nghĩa chiến lược, không chỉ góp phần hoàn thiện lý luận về Đảng cầm quyền ở Việt Nam mà còn trực tiếp quyết định hiệu quả lãnh đạo, quản trị và phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Trọng tâm của việc nâng cao năng lực cầm quyền hiện nay là nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị và năng lực hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng phù hợp với quy luật khách quan, yêu cầu phát triển đất nước và đặc thù của Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đảng phải có tầm nhìn chiến lược, khả năng dự báo chính xác, kịp thời đưa ra những quyết sách đúng đắn, tạo động lực và bước đột phá cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Cùng với đó, năng lực tổ chức thực hiện đường lối, nghị quyết cần tiếp tục được nâng cao theo hướng đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả hơn. Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa chủ trương, đường lối thành chính sách, pháp luật sát thực tiễn; đồng thời chú trọng xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ. Việc đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực cần được triển khai đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Một yêu cầu đặc biệt quan trọng là các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thực sự gương mẫu trong chấp hành Hiến pháp, pháp luật và đạo đức công vụ; giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong bộ máy nhà nước. Năng lực cầm quyền của Đảng không chỉ được thể hiện ở đường lối đúng đắn mà còn ở tính tiên phong, gương mẫu và hiệu quả hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực tiễn.
Đồng thời, Đảng cần tiếp tục quan tâm công tác phát triển đảng viên, thu hút những quần chúng ưu tú, có trình độ, năng lực và khát vọng cống hiến tham gia vào hàng ngũ của Đảng, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực trọng yếu. Đi đôi với đó là kiên quyết, kiên trì thực hiện công tác chỉnh đốn Đảng, sàng lọc đội ngũ, đưa ra khỏi Đảng những đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật hoặc không còn đủ tư cách đảng viên. Đây là yêu cầu có tính nguyên tắc nhằm giữ vững bản chất cách mạng, nâng cao sức chiến đấu, bảo đảm Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, thực sự “là đạo đức, là văn minh”, đủ năng lực lãnh đạo và cầm quyền đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Được lịch sử lựa chọn và Nhân dân tin tưởng trao quyền lãnh đạo, hơn 95 năm đồng hành cùng dân tộc đã khẳng định vai trò, vị thế và năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn lịch sử không chỉ chứng minh tính đúng đắn của con đường mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn, mà còn khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và uy tín của một đảng cầm quyền luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân lên trên hết. Đó là cơ sở chính trị – xã hội vững chắc để Đảng tiếp tục lãnh đạo đất nước phát triển trong bối cảnh mới.
Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang diễn ra trong điều kiện tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp và khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen tác động sâu rộng đến mọi quốc gia. Trong nước, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và hiện thực hóa các mục tiêu mà Đại hội XIV của Đảng đề ra đang đặt lên vai Đảng những trọng trách mới với cả thời cơ và thách thức song hành.
Con đường hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” dưới sự lãnh đạo của Đảng là sự lựa chọn nhất quán của lịch sử và dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, chặng đường phía trước vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, đòi hỏi Đảng phải tiếp tục không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu, đủ bản lĩnh để vượt qua mọi trở lực, giữ vững định hướng phát triển đất nước trong điều kiện mới.
Trong bối cảnh đó, việc nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng không chỉ là yêu cầu khách quan của tiến trình phát triển mà còn là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, đây cũng là cơ sở thực tiễn và lý luận sắc bén để phản bác những quan điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Với đường lối đúng đắn, sự thống nhất giữa “ý Đảng” và “lòng dân”, cùng sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta sẽ tiếp tục tạo nên những thành tựu to lớn hơn nữa, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.
Tài liệu tham khảo
1/Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
2/Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016.
3/Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026,Tập I và 2.
4/Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 15.
5/V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2006, tập 43.


