Triết lý “giáo dục khai phóng” đang được triển khai từng bước trong nhiều khâu của quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng việc áp dụng mô hình này có dấu hiệu lệch khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực giáo dục, bởi mục tiêu của giáo dục khai phóng được cho là đề cao sự phát triển cá nhân, trong khi nền giáo dục xã hội chủ nghĩa nhấn mạnh việc bồi dưỡng con người gắn với tinh thần tập thể và lợi ích cộng đồng.
Không xa lạ với vấn đề “giáo dục khai phóng” ở Việt Nam. Nhưng bất ngờ trong đáp án đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông – 2026, môn ngữ văn, phần II, đáp án câu hỏi số 1: “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerbeg, Elon Musk,… với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: “Làm thế nào để có những Steve Jobs Việt Nam”?. Đáp án câu hỏi này ghi tại ý (2). Yêu cầu cụ thể, trong ý (2.1). “Giáo dục: xây dựng nền giáo dục khai phóng, sáng tạo,…”. Một câu hỏi đặt ra, phải chăng đây là chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo về một nền giáo dục mới là “nền giáo dục khai phóng” nhằm thay thế “nền giáo dục xã hội chủ nghĩa” ở nước ta. Để nhận rõ vấn đề nhạy cảm này, chúng ta cần làm rõ hai khái niệm “giáo dục khai phóng” và “nền giáo dục khai phóng”.
Về “giáo dục khai phóng” (Liberal Education) chỉ là một trào lưu tư tưởng mang ý nghĩa là một triết lý giáo dục hướng tới sự phát triển toàn diện, giải phóng con người khỏi những định kiến, ranh giới và khuôn mẫu. Mục tiêu cốt lõi là đào tạo ra những cá nhân tự do, có tư duy phản biện,… Tư tưởng, triết lý này nẩy sinh từ thời kỳ Hy Lạp – La Mã cổ đại, với quan niệm Artes Liberales (nghệ thuật tự do), tức những kỹ năng cần thiết cho một công dân tự do tham gia vào đời sống chính trị, xã hội. Đến thời kỳ Trung Cổ, nó phát triển có tính hệ thống, thể hiện trong quy trình giáo dục, gồm: Chương trình chuẩn hóa thành 7 môn khai phóng (Liberal Arts), chia làm hai nhóm chính là Trivium gồm Ngữ pháp, Hùng biện, và Logic; Quadrivium gồm: Số học, Hình học, Thiên văn học và Âm nhạc. Thời kỳ Phục Hưng đến Cận đại thì nhấn mạnh vào việc phát huy tối đa tiềm năng, sự sáng tạo và tư duy độc lập của mỗi cá nhân, do tác động của xu thế chuyển trọng tâm giáo dục sang triết học và nhân văn. Và đến hiện đại, giáo dục khai phóng trở thành triết lý nền tảng của nhiều trường đại học như Liberal Arts College (Mỹ). Sau đó triết lý này được mở rộng không chỉ ở bậc đại học mà còn tích hợp vào hệ thống giáo dục phổ thông, thích ứng với bối cảnh biến động của thời đại như một mô hình ứng dụng.
Đối với Việt Nam, những tư tưởng giáo dục, nếu soi chiếu dưới góc nhìn triết lý giáo dục khai phóng, ta thấy nhiều tư tưởng mang nghĩa khai phóng đã xuất hiện từ rất lâu trong tư tưởng giáo dục của các vĩ nhân lịch sử. Chẳng hạn, Chu Văn An chú trọng việc phát hiện khả năng tiềm ẩn, khơi dậy chân lý trong mỗi con người, không khuyến khích lối học vẹt, giáo điều. Nguyễn Trãi đề cao ý chí kiên trì vượt khó và ý niệm học hỏi không ngừng để hoàn thiện bản thân và giúp ích cho đời. Nguyễn Bỉnh Khiêm đề cao vai trò tìm tòi học hỏi, khuyến khích tư duy độc lập. Còn giáo dục khai phóng với tính cách là tư tưởng, triết lý phương Tây du nhập vào miền Nam Việt Nam, được triển khai với tính cách là một trong ba trụ cột cùng với nhân bản, dân tộc hình thành nên “nền giáo dục Việt Nam cộng hòa”. Sau giải phóng, thống nhất đất nước, nền giáo dục của chế độ cũ ở miền Nam bị xóa bỏ. Vì thế mà tư tưởng, triết lý giáo dục khai phóng chỉ còn lại là tàn dư. Khi đất nước tiến hành đổi mới toàn diện, bắt đầu từ 1986 cùng với quá trình mở cửa hội nhập quốc tế, tư tưởng, triết lý giáo dục khai phóng nhen nhóm phát triển trở lại. Nó không chỉ thể hiện ở các bài báo, chuyên luận, luận văn, luận án, mà còn được triển khai trên thực tế dưới dạng thức là “mô hình” ở một sô trường tư nhân, điển hình là đại học Fubright, được coi là đại học khai phóng đầu tiên.
Có hay không “nền giáo dục khai phóng”
Trước tiên chúng ta tìm hiểu khái niệm “Nền giáo dục”. Theo Wikipedia: “Nền giáo dục là toàn bộ hệ thống các hoạt động, cơ sở tổ chức, phương pháp và chính sách. Hệ thống này đóng vai trò truyền thụ, tiếp nhận tri thức, kỹ năng và phát triển nhân cách. Nó là công cụ cốt lõi để một quốc gia bồi dưỡng nhân lực và kiến tạo sự phát triển bền vững”. Như vậy, “nền giáo dục” là công cụ của quốc gia, của nhà nước. Ở các chế độ xã hội khác nhau, nền giáo dục được gọi gắn với bản chất chế đội chính trị như: “nền giáo dục phong kiến”, “nền giáo dục tư bản chủ nghĩa”, “nền giáo dục xã hội chủ nghĩa”. Ở các quốc gia cụ thể, “nền giáo dục” được gọi gắn với danh xưng quốc gia như: “Nền giáo dục Nhật Bản”, “Nền giáo dục Phần Lan:… Ở một khu vực của thế giới hay một nhóm nước có đặc điểm chung nào đó, người ta có thể gọi: “Nền giáo dục phương Tây”, “Nền giáo dục phương Đông”, “nền giáo dục Hồi giáo”… Khái niệm “nền giáo dục” cũng có thể được dùng ở cấp độ thấp hơn, chẳng hạn để phân biệt với quá khứ người ta gọi “Nền giáo dục hiện đại”, để phân biệt với nền giáo dục khiếm khuyết, người ta gọi “Nền giáo dục toàn diện”… Song mọi khái niệm “nền giáo dục” như trên, đều chịu sự chi phối bởi đường lối chính trị của giai cấp, nhà nước và được pháp luật hóa. Trong một quốc gia, “nền giáo dục” là bộ phận hợp thành nền tảng xã hội, đặt dưới sự quản lý, điều hành của nhà nước. Cơ quan chuyên trách quản lý “nền giáo dục” trong quốc gia là một bộ phận hợp thành hệ thống chính trị của quốc gia đó. Tuyệt nhiên không có “nền giáo dục” đứng ngoài chính trị.
Từ lược khảo, phân tích trên cho thấy, không hề có “Nền giáo dục khai phóng” được ghi trong các văn bản pháp lý quốc tế và quốc gia trong mọi thời kỳ, giai đoạn lịch sử, trong mọi thể chế chính trị, trong mọi quốc gia cũng như trong nhóm nước, khu vực. Trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước Cộng hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng không có dòng nào nói về “Nền giáo dục khai phóng” và “Xây dựng nền giáo dục khai phóng”. “Giáo dục khai phóng”, bản thân nó chỉ là một tư tưởng, một triết lý giáo dục, tùy theo động cơ lợi ích, người ta có thể áp dụng toàn bộ, gọi là “mô hình” hay chọn lọc, kết hợp với tư tưởng, triết lý giáo dục khác ở các mức độ khác nhau trong thiết kế “mô hình” giáo dục cụ thể. Thực tiễn và lý luận cũng như lịch sử và lôgíc đã khẳng định không và không thể có “giáo dục khai phóng” tồn tại với tư cách là một nền giáo dục.
Trở lại câu hỏi trên: Vì sao Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đáp án đề thi môn ngữ văn tốt nghiệp trung học phổ thông – 2026 xác lập ý: “xây dựng nền giáo dục khai phóng, sáng tạo,…”? Phải chăng là chủ trương xây dựng một nền giáo dục mới để thay thế “Nền giáo dục xã hội chủ nghĩa” ở nước ta?
Chúng ta đều biết nền giáo dục Việt Nam hiện nay là “nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng”. (Điều 3, Khoản 1, Luật giáo dục Việt Nam – 2019. Tính khoa học, hiện đại đã nói lên, nền giáo dục nước ta luôn biết kế thừa, tiếp thu tinh hoa giáo dục truyền thống dân tộc và nhân loại. Trong đó bao gồm tiếp thu cả tư tưởng, triết lý giáo dục khai phóng, song luôn “gạn đục, khơi trong”, tiếp thu có chọn lọc những yếu tố hợp lý và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam, nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Song, Bộ Giáo dục và Đào tạo hình như có vấn đề về quán triệt quan điểm, đường lối giáo dục của Đảng trong thực hành đổi mới giáo dục và đào tạo vừa qua! Có lẽ Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tuyệt đối hóa “giáo dục khai phóng” trong thiết kế “mô hình” giáo dục. Điều này dễ nhận biết từ thiết kế chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy, học tập, thi cử của Bộ đều ngả theo “tinh thần khai phóng”.
Một minh chứng, trong đổi mới nội dung giáo khoa – trọng tâm của đổi mới giáo dục và đào tạo, Bộ đã cắt giảm nội dung, thời lượng các môn xã hội nhân văn, nhất là các môn lịch sử, giáo dục chính trị (giáo dục công dân) và môn ngữ văn (phần văn học cách mạng). Cùng với đó là cài cắm nội dung còn tranh cãi, nội dung xuyên tạc lịch sử, phủ định chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc như trích đoạn nội dung cuốn tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” đưa vào giáo khoa ngữ văn, theo triết lý “nhận thức đa chiều”, “phát triển tư duy phản biện” của “giáo dục khai phóng”.
Các mắt khâu khác của quy trình đổi mới giáo dục và đào tạo, cũng không khó để nhận ra tư tưởng khai phóng được áp dụng trong mọi “mắt khâu” theo chiều hướng xa dời phương châm, mục tiêu giáo dục của Đảng nhằm hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa. Gần đây nhất là trong thi cử, nổi cộm là đề thi ngữ văn tốt nghiệp trung học phổ thông – 2026, Bộ Giáo dục và đào tạo đã lấy đoạn văn trong cuốn “Code và Cat” của Phan Tuấn, tác giả có nhiều nghi vấn về tư tưởng chính trị, với những phát ngôn xuyên tạc lịch sử, lãnh tụ cách mạng, thể chế xã hội chủ nghĩa đưa vào đề thi. Và các câu hỏi khác trong đề thi cũng chứa đựng triết lý “khai phóng”, mà cộng đồng cho là không phù hợp…
Đại tá, PGS, TS. triết học Hà Nguyên Cát/Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội


