Ngày 31/1/1973, một dấu mốc không thể nào quên trong ký ức những người lính từng tham chiến tại Cửa Việt. Trận đánh ác liệt và dai dẳng cuối cùng đã khép lại, mở ra một chương mới trong hành trình đấu tranh giành độc lập của dân tộc. Đối với tôi và các đồng đội thuộc Trung đội Thông tin, Tiểu đoàn 1 Bộ binh, Trung đoàn 101, Sư đoàn 325, ký ức về một đêm đầu tháng 12/1972, khi chúng tôi vượt sông vào cảng Cửa Việt bằng thuyền máy, sau khi bàn giao điểm chốt Chợ Sãi (áp sát Thành Cổ về phía đông bắc) cho đơn vị bạn, vẫn vẹn nguyên như thể mới diễn ra ngày hôm qua.

Ngày 25/1/1973, quân ngụy Sài Gòn phát động “Chiến dịch Tango City” với một lực lượng lớn, được yểm trợ bởi hơn một trăm xe tăng và thiết giáp, nhằm tái chiếm cảng Cửa Việt, cửa ngõ chiến lược ở miền Trung. Chỉ sau ba ngày giao tranh ác liệt, đối phương đã chọc thủng nhiều tuyến phòng thủ của ta.
Theo các tư liệu chính thức, vào lúc 7 giờ 58 phút sáng ngày 28/1/1973, chỉ hai phút trước thời điểm Hiệp định Paris chính thức có hiệu lực – mũi tiến công chủ lực của địch, gồm khoảng 300 lính Thủy quân lục chiến và ba xe tăng M48 Patton yểm trợ, vẫn chưa thể đột nhập được vào cảng Cửa Việt.
Tại thời điểm đó, đội hình tác chiến của quân ngụy chia thành ba cụm lớn: Cụm 1 gồm một đại đội và 20 xe tăng, thiết giáp M-113, đóng cách Cảng Mỹ khoảng 700 mét về phía nam. Cụm 2 gồm một đại đội với 10 xe tăng bố trí ở phía đông thôn Hà Tây, cách cảng khoảng 1.500 mét. Cụm 3 gồm hai trung đội cùng 8 xe tăng án ngữ phía đông bắc Cao điểm 4, chỉ còn cách khoảng 200 mét.

Bất chấp lệnh ngừng bắn có hiệu lực từ 8 giờ sáng cùng ngày, quân ngụy tiếp tục lấn chiếm ra phía nam Cao điểm 4, lập thêm một cụm quân mới gồm hai trung đội và 12 xe tăng, xe thiết giáp M-113. Trước hành động vi phạm trắng trợn này, các đơn vị Quân Giải phóng buộc phải tiếp tục nổ súng phản công trong những ngày tiếp theo. Đến 10 giờ 30 phút ngày 31/1/1973, toàn bộ lực lượng địch bị đánh bật khỏi khu vực cảng Cửa Việt. Tuyến kiểm soát chiến lược trải dài từ Cửa Việt đến Vĩnh Hòa, cùng các chốt từ Thanh Hội đến Long Quang và Chợ Sãi, được khôi phục hoàn toàn về tay ta, đánh dấu một chiến thắng mang ý nghĩa quân sự và chính trị quan trọng sau ngày ký Hiệp định Paris.
Sau khi quân ngụy tháo chạy về hướng Hải Lăng, tôi cùng đồng đội tham gia thu dọn chiến trường rồi trở về hậu cứ của tiểu đoàn, đóng ở chân Cao điểm 4, phía đông làng Hà Tây. Lần đầu tiên sau cả tuần thức trắng, tôi ngủ liền ba tiếng đồng hồ, một giấc ngủ hiếm hoi giữa chiến trường.
Hơn một tuần sau, tôi đón cái Tết Nguyên Đán đầu tiên xa nhà, ngay giữa mặt trận khói lửa. Nhớ nhà, tôi đã không kìm được nước mắt. Những ngày Tết của chúng tôi chẳng có gì khác biệt: hai bát cơm trắng với vài thìa ruốc bông hoặc chút thịt hộp Trung Quốc. Món quà Tết giản dị từ Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng gồm ba viên kẹo to bằng đầu ngón tay và hai điếu thuốc lá là niềm an ủi chúng tôi ấm áp giữa những ngày giá rét, gian khổ.
Một tuần sau Tết Nguyên Đán, tôi tròn 19 tuổi. Chiến trường Triệu Phong năm ấy không chỉ là nơi tôi cầm súng chiến đấu, mà còn là nơi tôi thực sự trưởng thành, trong ý chí, trách nhiệm và cả nỗi nhớ thương khắc khoải. Giữa đất trời nhuốm khói lửa, tôi lặng lẽ bước sang tuổi 20. Tuổi đôi mươi đến với tôi không bằng những lời chúc mừng, bánh kem hay quà sinh nhật, mà bằng tiếng đạn pháo vọng từ xa, bằng nỗi khắc khoải của một người lính vừa sống sót sau những trận đánh sinh tử.

Nhưng cũng chính tại nơi ấy, tôi bắt đầu nghĩ về tương lai, một tương lai khác, không còn súng đạn. Khi tiếng súng trên toàn tuyến dần lắng lại, tôi và những đồng đội bắt đầu hành trình trở về từ các mặt trận. Tháng 6/1975, chỉ ít lâu sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, tôi trở về trong bộ quân phục sờn vai, còn vương khói bom và bụi đường hành quân, để bước vào một “trận đánh” mới, trận đánh với chính mình trong phòng thi đại học.
Tôi thi khối C, một lựa chọn có phần khác biệt so với phần đông đồng đội chọn các ngành kỹ thuật, quân sự. Tôi mang trong mình ước mơ làm báo, viết lại những gì đã chứng kiến, kể những câu chuyện không phải ai cũng sống để kể lại. Với kết quả thi xuất sắc, tôi được chọn đi học tại Cộng hòa Dân chủ Đức. Sau một năm học tiếng Đức tại Hà Nội, mùa thu năm 1976, tôi đặt chân đến Berlin, thủ đô của một đất nước xã hội chủ nghĩa anh em.
Tại nơi đất khách, tôi lại bắt đầu từ đầu, không có tiếng súng, không có trận địa, nhưng vẫn là một mặt trận khác: mặt trận của tri thức, ngoại ngữ, hội nhập và khẳng định bản thân trong môi trường mới. Dẫu khác biệt về văn hóa, khí hậu, cuộc sống, nhưng trong lòng tôi vẫn nguyên vẹn ký ức về những ngày đầu xuân khói lửa nơi Cửa Việt. Chính những tháng ngày chiến đấu cam go ấy đã rèn cho tôi bản lĩnh vượt lên hoàn cảnh, kiên cường và không bao giờ bỏ cuộc, kể cả khi đối diện với thử thách hoàn toàn mới, trong một thế giới hoàn toàn khác.
Hồ Ngọc Thắng/Phóng viên Tạp chí Đông Nam Á tại Đức


