Trong kỷ nguyên khoa học – công nghệ, trí tuệ nhân tạo và hội nhập quốc tế sâu rộng, giá trị của người trí thức không còn được đo bằng lượng kiến thức sở hữu mà bằng lựa chọn của họ trước những bước ngoặt của lịch sử và vận mệnh dân tộc. Một trí thức chân chính phải hội tụ ba giá trị cốt lõi: tri thức uyên bác, bản lĩnh chính trị vững vàng và đạo đức trong sáng, hướng đến mục tiêu cao nhất là dấn thân phụng sự Tổ quốc và Nhân dân. Trước thời cơ và thách thức của thời đại, đội ngũ trí thức Việt Nam cần giữ vai trò tiên phong, dùng trí tuệ giải quyết những vấn đề lớn của đất nước và trở thành điểm tựa tinh thần, trí tuệ cho xã hội.

Trí thức – tài sản đặc biệt của quốc gia
Trí thức là những người có trình độ học vấn cao, năng lực tư duy độc lập và khả năng sáng tạo ra các giá trị mới cho xã hội. Họ không chỉ thực hiện lao động trí óc mà còn giữ vai trò định hướng tư tưởng, lan tỏa tri thức, thúc đẩy tiến bộ thông qua nghiên cứu khoa học, giảng dạy, phản biện và tư vấn chính sách. Đối với mỗi quốc gia, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển văn minh xã hội. Chất lượng của đội ngũ này cũng phản ánh trình độ trí tuệ, năng lực cạnh tranh và sức mạnh nội sinh của một dân tộc.
Không phải ngẫu nhiên mà mọi quốc gia phát triển đều đặc biệt coi trọng và có chính sách trọng dụng nhân tài. Thực tiễn lịch sử cho thấy tài nguyên thiên nhiên có thể cạn kiệt, trong khi nguồn lực trí tuệ của con người càng được đầu tư, khai thác càng được bồi đắp và phát triển. Chính vì vậy, nhiều cường quốc đã xây dựng cơ chế thu hút nhân tài trên phạm vi toàn cầu, bởi họ hiểu rằng chỉ một phát minh đột phá cũng có thể tạo nên lợi thế cạnh tranh, làm thay đổi vị thế của cả một ngành công nghiệp hay một nền kinh tế. Trọng dụng nhân tài không chỉ dừng lại ở chế độ đãi ngộ, mà quan trọng hơn là tạo dựng môi trường tự do sáng tạo, khuyến khích cống hiến và tôn trọng giá trị của trí tuệ.
Trong kỷ nguyên kinh tế tri thức, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực phát triển chủ yếu, khiến đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực chiến lược quyết định năng lực cạnh tranh và tương lai của mỗi quốc gia. Những lĩnh vực then chốt của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học hay công nghiệp bán dẫn đều đòi hỏi hàm lượng chất xám rất cao. Quốc gia chậm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và làm chủ các công nghệ cốt lõi sẽ đối mặt với nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, đánh mất lợi thế cạnh tranh và ngày càng tụt hậu. Trong bối cảnh đó, trí thức chính là lực lượng tiên phong trên mặt trận khoa học – công nghệ, góp phần tạo ra những đột phá để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Tuy nhiên, tri thức chỉ thực sự trở thành nguyên khí của quốc gia khi được đặt trên nền tảng đạo đức, bản lĩnh và tinh thần phụng sự Tổ quốc, Nhân dân. Bằng cấp hay học hàm không tự thân tạo nên giá trị nếu thiếu trách nhiệm xã hội, chỉ theo đuổi lợi ích cá nhân hoặc thờ ơ trước những vấn đề của đất nước. Ngược lại, khi tri thức bị sử dụng sai mục đích, nó có thể trở thành công cụ gây tổn hại cho cộng đồng và cản trở sự phát triển. Vì vậy, một người trí thức chân chính không chỉ cần giỏi chuyên môn mà còn phải có lòng yêu nước, dũng khí bảo vệ lẽ phải, ý thức trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc và khát vọng cống hiến vì lợi ích chung. Chỉ khi hội tụ những phẩm chất đó, đội ngũ trí thức mới thực sự xứng đáng là nguyên khí quốc gia và là nền tảng cho sự hưng thịnh lâu dài của đất nước.
Trí thức Việt Nam qua các thời kỳ
Truyền thống hiếu học cùng sự hình thành của tầng lớp sĩ phu đã trở thành nét đẹp đặc sắc trong văn hóa dân tộc, đồng thời là mạch nguồn bền bỉ xuyên suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Từ thời Lý – Trần đến Lê – Nguyễn, các triều đại đều coi việc tuyển chọn hiền tài là quốc sách thông qua chế độ khoa cử, đồng thời khắc tên những người đỗ đại khoa trên bia đá Văn Miếu như sự ghi nhận và tôn vinh muôn đời. Nhiều bậc danh sĩ như Chu Văn An, Nguyễn Trãi không chỉ nổi tiếng về học vấn mà còn là biểu tượng của khí tiết và lòng yêu nước, luôn giữ cốt cách thanh liêm, dũng cảm can gián vua khi cần thiết và dành trọn tâm huyết vì cuộc sống của Nhân dân.
Bước sang thế kỷ XX, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tầng lớp sĩ phu yêu nước đã có bước chuyển mình mạnh mẽ, trở thành đội ngũ trí thức cách mạng gắn bó với sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Hưởng ứng lời kêu gọi của Tổ quốc, nhiều nhà khoa học, học giả tên tuổi như Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng, Tạ Quang Bửu đã từ bỏ điều kiện sống thuận lợi ở nước ngoài để trở về chiến khu, chấp nhận gian khổ, đem tri thức và tài năng phục vụ kháng chiến. Họ trực tiếp nghiên cứu, chế tạo vũ khí, phát triển y học, đào tạo nhân lực và đặt nền móng cho nền khoa học, giáo dục của nước Việt Nam.
Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, đội ngũ trí thức Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, pháp luật, y tế, giáo dục, khoa học – công nghệ và nông nghiệp, các chuyên gia, nhà khoa học đã tham gia hoạch định chủ trương, chính sách, đóng góp nhiều luận cứ khoa học quan trọng cho Đảng và Nhà nước. Đồng thời, họ trực tiếp nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học vào thực tiễn, góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe Nhân dân và đưa nông nghiệp Việt Nam trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới nhờ ứng dụng công nghệ cao.
Nhìn lại chặng đường lịch sử, những đóng góp của các thế hệ trí thức đi trước đã trở thành hành trang quý báu cho đội ngũ trí thức Việt Nam hôm nay tiếp tục phát huy trong kỷ nguyên phát triển mới. Bài học lớn nhất được hun đúc qua các thời kỳ chính là sự gắn bó bền chặt giữa trí thức với vận mệnh dân tộc; mỗi khi đất nước cần, trí thức luôn sẵn sàng dấn thân, cống hiến và đồng hành. Sự kế thừa ấy đặt ra yêu cầu đối với thế hệ trẻ không chỉ chủ động tiếp thu tinh hoa khoa học, công nghệ hiện đại của thế giới mà còn phải gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, nuôi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự tôn và khát vọng phát triển để góp phần đưa Việt Nam vững bước trong bối cảnh toàn cầu hóa và kỷ nguyên số.
Giữa thời đại biến động, trí thức không thể đứng ngoài cuộc.
Thế giới đang bước vào giai đoạn cạnh tranh chiến lược quyết liệt về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, mà thực chất là cuộc đua về chất lượng nguồn nhân lực. Quốc gia nào quy tụ được nhiều nhà khoa học xuất sắc, sở hữu các trung tâm nghiên cứu hàng đầu và làm chủ công nghệ cốt lõi sẽ nắm lợi thế trong chuỗi cung ứng, tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như luật chơi toàn cầu. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức Việt Nam không thể bằng lòng với những thành tựu trong phạm vi quốc gia mà cần chủ động hội nhập, nâng cao năng lực nghiên cứu và hợp tác quốc tế, từng bước khẳng định vị thế trên bản đồ tri thức thế giới, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước.
Song song với nhiệm vụ phát triển khoa học – công nghệ, trí thức còn có trách nhiệm quan trọng trong việc tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong bối cảnh các thế lực thù địch lợi dụng không gian mạng để lan truyền thông tin sai lệch, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng và kích động chia rẽ, người trí thức với nền tảng tri thức, tư duy phản biện và bản lĩnh chính trị cần trở thành lực lượng tiên phong. Thông qua các công trình nghiên cứu, bài viết, diễn đàn học thuật và hoạt động truyền thông, họ góp phần làm sáng tỏ những giá trị khoa học và thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như đường lối đổi mới của Đảng.
Đấu tranh trên không gian mạng không thể dựa vào cảm tính hay áp đặt chủ quan mà phải được tiến hành bằng tư duy khoa học, lập luận chặt chẽ và những chứng cứ khách quan. Trí thức cần phát huy năng lực nghiên cứu, xây dựng các luận cứ có sức thuyết phục để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đồng thời làm rõ những giá trị bền vững của con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới. Chính những công trình khoa học nghiêm túc, tiếng nói có trách nhiệm và lập luận xác đáng sẽ tạo nên sức mạnh thuyết phục, góp phần củng cố niềm tin xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Trong mọi hoạt động nghiên cứu và cống hiến, lương tâm khoa học luôn là chuẩn mực đạo đức cao nhất của người trí thức. Điều đó đòi hỏi sự trung thực trong học thuật, tôn trọng sự thật khách quan, tuyệt đối không ngụy tạo dữ liệu, không đạo văn, không chạy theo thành tích hay danh vọng. Đồng thời, người trí thức phải có bản lĩnh nhìn thẳng vào thực tiễn, mạnh dạn chỉ ra những hạn chế, bất cập bằng tinh thần phản biện khách quan, khoa học và xây dựng, góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách vì sự phát triển chung. Trên hết, họ phải giữ vững đạo đức nghề nghiệp, không để lợi ích cá nhân hay áp lực vật chất chi phối, luôn đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc và Nhân dân lên trên hết. Chỉ khi hội tụ đầy đủ tri thức, bản lĩnh và lương tâm khoa học, đội ngũ trí thức mới thực sự hoàn thành sứ mệnh tiên phong trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Giáo dục lớn phải đào tạo con người biết phụng sự
Một nền giáo dục chân chính không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức mà phải hướng đến mục tiêu cao nhất là bồi dưỡng nhân cách và khơi dậy tinh thần phụng sự xã hội. Nếu nhà trường chỉ chú trọng trang bị lý thuyết, chạy theo điểm số và thành tích mà xem nhẹ việc giáo dục lòng yêu nước, tinh thần nhân ái và trách nhiệm công dân thì sẽ không hoàn thành sứ mệnh của mình. Giáo dục cần giúp người học hiểu sâu sắc cội nguồn dân tộc, trân trọng những hy sinh của các thế hệ đi trước, từ đó hình thành bản lĩnh, đạo đức và ý thức cống hiến, biết yêu thương con người, bảo vệ lẽ phải và lên án cái xấu.
“Học để làm gì?” là câu hỏi nền tảng mà mỗi học sinh, sinh viên cần tự trả lời ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Việc học không chỉ nhằm trang bị tri thức để lập thân, lập nghiệp mà trước hết phải hướng tới sáng tạo, cống hiến và phục vụ Tổ quốc, Nhân dân. Khi mục tiêu học tập được đặt trong khát vọng phụng sự, người học sẽ có động lực bền bỉ để vượt qua khó khăn, không ngừng khám phá và chinh phục những đỉnh cao tri thức. Học để góp phần làm giàu cho đất nước, nâng cao vị thế dân tộc và phụng sự cộng đồng mới là ý nghĩa sâu sắc và bền vững của giáo dục.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, cần xây dựng một môi trường giáo dục nhân văn, lành mạnh, nơi mỗi học sinh được khơi dậy khát vọng cống hiến ngay từ những năm đầu trưởng thành. Môi trường ấy phải tôn trọng sự khác biệt, khuyến khích tư duy độc lập, sáng tạo, đề cao tinh thần trung thực trong học tập và kiên quyết nói không với bệnh thành tích, gian lận trong thi cử. Đội ngũ nhà giáo không chỉ truyền đạt tri thức mà còn phải là tấm gương về đạo đức, lối sống, tinh thần tự học và trách nhiệm xã hội. Đồng thời, nhà trường cần gắn hoạt động dạy học với thực tiễn, tăng cường trải nghiệm, hoạt động cộng đồng và nghiên cứu khoa học để người học thấu hiểu cuộc sống, sẻ chia với Nhân dân và trưởng thành từ những trải nghiệm thực tế.
Điểm đến của nền giáo dục quốc dân là đào tạo những thế hệ công dân Việt Nam phát triển toàn diện, hội tụ cả tài năng, phẩm chất đạo đức và tinh thần trách nhiệm đối với đất nước. Tri thức và năng lực chuyên môn giúp họ làm chủ khoa học, công nghệ, nâng cao năng suất lao động và tạo ra những giá trị mới cho xã hội. Đạo đức là nền tảng để giữ gìn lương tâm nghề nghiệp, sống nhân văn, trung thực và biết đặt lợi ích cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân. Còn tinh thần trách nhiệm chính là động lực thôi thúc mỗi người gắn khát vọng phát triển của bản thân với vận mệnh dân tộc, sẵn sàng cống hiến trí tuệ, bản lĩnh và sức lực để xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, độc lập, tự chủ và phát triển bền vững.
Khơi dậy sức mạnh trí tuệ Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, đổi mới sáng tạo đã trở thành động lực quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh và tốc độ phát triển của mỗi quốc gia. Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa trên lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên, mà cần chuyển mạnh sang nền kinh tế tri thức, kinh tế số với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm nền tảng. Quá trình này phải được triển khai đồng bộ từ cải cách thể chế, hoàn thiện môi trường đầu tư, đổi mới quản trị quốc gia đến nghiên cứu, ứng dụng công nghệ và nâng cao năng suất lao động, qua đó khai thác hiệu quả các nguồn lực và tạo động lực phát triển bền vững.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, phát triển đội ngũ trí thức chất lượng cao là yêu cầu cấp thiết và mang ý nghĩa chiến lược. Nhà nước cần xây dựng chính sách dài hạn trong quy hoạch, đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực trình độ cao ở các lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo, tự động hóa, an ninh mạng và quản trị quốc gia hiện đại. Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ chế sử dụng, đãi ngộ và trọng dụng nhân tài theo hướng minh bạch, cạnh tranh, tạo môi trường nghiên cứu thuận lợi, khuyến khích sáng tạo và thu hút các nhà khoa học, chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài trở về đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Phát huy sức mạnh trí tuệ Việt Nam trong khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế cũng đòi hỏi sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của toàn xã hội. Các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý cần tăng cường liên kết để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu. Đưa những thành tựu khoa học từ phòng thí nghiệm vào sản xuất, kinh doanh và đời sống sẽ góp phần nâng cao giá trị gia tăng của nền kinh tế, đồng thời khẳng định vai trò của trí thức trong phát triển đất nước. Bên cạnh đó, việc đẩy nhanh chuyển đổi số trên cả ba trụ cột gồm chính phủ số, kinh tế số và xã hội số sẽ mở ra không gian phát triển mới, tạo điều kiện để đội ngũ trí thức phát huy tối đa năng lực nghiên cứu, sáng tạo và cống hiến.
Quan trọng hơn cả là khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc trong mỗi người Việt Nam, đặc biệt là đội ngũ trí thức. Chính khát vọng ấy sẽ trở thành động lực tinh thần để họ vượt qua những rào cản, lựa chọn đồng hành cùng sự phát triển của đất nước, dù đang học tập, làm việc trong nước hay ở nước ngoài. Khi trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng của hàng triệu người Việt được quy tụ vì mục tiêu chung, sức mạnh ấy sẽ trở thành nguồn lực nội sinh to lớn, góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, văn minh và sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới trong kỷ nguyên phát triển mới.
Người trí thức và sứ mệnh trước vận mệnh dân tộc.
Lịch sử dân tộc đã chứng minh, mỗi khi đất nước đứng trước những bước ngoặt quan trọng, đội ngũ trí thức luôn giữ vai trò đặc biệt trong việc quy tụ trí tuệ, khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết và đồng hành cùng sự phát triển của Tổ quốc. Đại đa số trí thức Việt Nam qua các thời kỳ đã lựa chọn cống hiến, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, góp phần làm nên những thành tựu to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ đất nước.
Tuy nhiên, thời gian qua cũng xuất hiện một số cá nhân và nhóm người tự nhận là trí thức nhưng có những quan điểm, phát ngôn và hoạt động đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. Trong đó có những cá nhân từng tham gia cái gọi là “Kiến nghị 72”, một số thành viên của nhóm Lê Hiếu Đằng, hay gần đây là các phát ngôn của Lê Thành Nam gây nhiều phản ứng trong dư luận vì bị cho là xúc phạm đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và phủ nhận những giá trị lịch sử của cách mạng Việt Nam. Những biểu hiện lợi dụng danh nghĩa trí thức để lan truyền quan điểm sai lệch, xuyên tạc lịch sử, kích động tâm lý hoài nghi hoặc phủ nhận thành quả cách mạng cần được phê phán và lên án, bởi điều đó đi ngược với trách nhiệm xã hội và đạo đức của người làm khoa học, người hoạt động trí thức.
Trí thức chân chính không chỉ đo bằng học hàm, học vị hay danh tiếng, mà trước hết bằng trách nhiệm đối với Tổ quốc, Nhân dân và sự thật khoa học. Tri thức càng lớn thì trách nhiệm càng cao; càng có ảnh hưởng trong xã hội thì càng phải giữ gìn đạo đức, lương tâm nghề nghiệp và ý thức công dân. Mỗi người trí thức cần nhận thức sâu sắc rằng, chỉ khi đặt trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng cống hiến trong dòng chảy phát triển của dân tộc thì những giá trị họ tạo dựng mới thực sự có ý nghĩa lâu bền. Đó cũng là con đường để đội ngũ trí thức Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò tiên phong, đóng góp vào mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh và phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.
Thế Nguyễn – Minh Văn


